SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THANH PHỐ THANH HÓA
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4
Người thực hiện: Lê Thị Hường
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Điện Biên 2
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2016
I. MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục Tiểu học là bậc học giáo dục khó nhất. Nó là nền móng đầu tiên để
giúp con người tồn tại và phát triển toàn diện về đức- trí- thể- mĩ. Đặc biệt là
môn Tiếng Việt có vị trí quan trọng trong tất cả các môn ở trường, nó hình thành
khả năng giao tiếp, là cơ sở để phát triển tư duy cho trẻ để tiếp thu các môn học
khác.
Tiếng Việt ở Tiểu học gồm nhiều phân môn: Tập đọc, Học thuộc lòng, Luyện
từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn, Chính tả, Tập viết...Mỗi môn đều có một
chức năng khi dạy Tiếng Việt cho học sinh, đồng thời cũng chuẩn bị vốn cho
học sinh khi học văn.
Trong bộ môn Tiếng Việt thì phân môn Luyện từ và câu có có nhiệm vụ cung
cấp nhiều kiến thức sơ giản về viết Tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt
câu (nói - viết), kĩ năng đọc cho học sinh, cụ thể là:
+ Mở rộng hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết cơ bản
về từ và câu.
coi nhẹ môn Tiếng Việt, cho rằng các em chỉ cần đọc được, viết được là được.
Chính vì vậy nhiều học sinh không hứng thú với môn học, thờ ơ với môn học và
lệ thuộc vào các loại sách tham khảo, sách bồi dưỡng, sách bài tập có sẵn đáp
án, không chịu khó học, không chịu khó suy nghĩ hay chú tâm vào môn học,
nhất là đối với phân môn Luyện từ và câu, dẫn đến kết quả học tập các em chưa
cao, do các em chưa thật sự hứng thú với môn học này.
Qua khảo sát lần thứ nhất vào tuần 3 với bài Từ đơn và từ phức ở lớp 4A1,
tôi nhận thấy rằng trong bài làm của học sinh còn mắc nhiều lỗi, cách phân biệt
từ đơn, từ phức còn lúng túng, chưa rõ ràng, còn nhầm lẫn, chưa theo yêu cầu đề
bài. Chính vì vậy chất lượng phân môn Luyện từ và câu thấp dẫn đến chất lượng
các phân môn Tập đọc, Tập làm văn, Chính tả,...cũng thấp.
* Nguyên nhân của những tồn tại đó.
- Vì cho rằng phân môn Luyện từ và câu là môn học khô khan, không gây
được sự hứng thú với học sinh, bên cạnh đó sự tập trung của học sinh lại chưa
bền vững, khả năng tập trung chưa cao, hay nóng vội cũng làm ảnh hưởng đến
chất lượng môn học.
- Mặc dù học sinh có đủ sách vở học tập nhưng nhiều em không chịu học mà
phụ thuộc hoàn toàn vào sách có đáp án được in, bán sẵn.
- Cha mẹ học sinh không kịp thời khuyến khích, động viên con em học tập.
Đa số phụ huynh học sinh lại có nguyện vọng cho con học thiên về môn Toán
nhiều hơn.
- Bên cạnh đó còn một bộ phận học sinh do bị hổng kiến thức từ lớp dưới, do
khả năng tiếp thu bài hạn chế, nên không thể hoàn thành hệ thống bài tập trên
lớp.
Từ những tồn tại nêu trên tôi đã rất băn khoăn và trăn trở, luôn suy nghĩ để
tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng phân môn Luyện từ và câu. Mặc
4
- Nhận biết từ loại.
- Đặt câu với từ đã cho.
- Xác định tình huống sử dụng Thành ngữ - Tục ngữ.
+ Câu:
- Nhận biết các kiểu câu.
- Đặt câu theo mẫu.
- Nhận biết các kiểu trạng ngữ.
- Thêm trạng ngữ cho câu.
- Tác dụng của dấu câu.
- Điền dấu câu thích hợp.
+ Dạy Tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp:
5
Thông qua nội dung dạy phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4, bồi dưỡng cho
học sinh ý thức và thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu và ý thức sử dụng
tiếng Việt trong giao tiếp phù hợp với các chuẩn mực văn hóa.
- Chữa lỗi dấu câu.
- Lựa chọn kiểu câu, kiến thức, kĩ năng mà học sinh cần đạt được cũng như là
nhiệm vụ mà người giáo viên cần nắm vững khi giảng dạy phân môn này.
d. Nắm vững quy trình dạy Luyện từ và câu ở lớp 4
Cách dạy theo 2 dạng bài lí thuyết và bài thực hành.
e. Vận dụng một số phương pháp dạy học khi dạy luyện từ và câu ở lớp 4.
+ Phương pháp vấn đáp
Phương pháp gợi mở vấn đáp là phương pháp dạy học không trực tiếp đưa ra
những kiến thức đã hoàn chỉnh mà hướng dẫn cho học sinh tư duy từng bước
một để các em tự tìm ra kiến thức mới phải học.
Phương pháp gợi mở vấn đáp nhằm tăng cường kĩ năng suy nghĩ, tư duy
sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và xác định mức độ hiểu bài cũng như
- Từ chỉ vật: sông, dừa, chân trời.
- Từ chỉ hiện tượng: mưa, nắng
6
- Từ chỉ khái niệm : Cuộc sống, truyện cổ, tiếng xưa, đời.
- Từ chỉ đơn vị : Cơn, con, rặng.
+ H : Những từ đó thuộc loại từ gì? (Danh từ)
+ H: Vậy danh từ là gì? (Danh từ là những từ chỉ sự vật: người, vật, hiện tượng,
khái niệm hoặc đơn vị).
Như vậy, qua 4 câu hỏi gợi mở cho các em hình thành một khái niệm ngữ
pháp mà nội dung của bài đề ra.
Tóm lại phương pháp gợi mở vấn đáp được sử dụng trong tất cả tiết học và
phát huy được tính chủ động sáng tạo của học sinh.
+ Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề.
Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề là cách mà giáo viên đưa ra những tình
huống gợi vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vần đề, tự giác hoạt động, trực
tiếp chủ động và sáng tạo để giải quyết vấn đề thông qua đó mà kiến tạo tri thức,
rèn luyện kĩ năng.
Tăng thêm sự hiểu biết và khả năng áp dụng lí thuyết vào giải quyết vấn đề
của thực tiễn. Nâng cao kĩ năng phân tích và khái quát từ tình huống cụ thể và
khả năng độc lập cũng như khả năng hợp tác trong quá trình giải quyết vấn đề.
Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chuẩn bị trước câu hỏi sao cho
phù hợp với mục đích, yêu cầu và nội dung của bài học, đảm bảo tính sư phạm,
đáp ứng với các đối tượng học sinh, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức để giải
quyết vấn đề mà học sinh đưa ra.
VD: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ:“Đồ chơi - Trò chơi”(tuần 16). Giáo viên đưa
ra một số thành ngữ - tục ngữ sau: “Chơi với lửa”, “Ở chọn nơi, chơi chọn
bạn”, “Chơi diều đứt dây”, “Chơi dao có ngày đứt tay”, hãy chọn câu thành
Bức tranh 4: đồ chơi: máy tính, bộ xếp hình – trò chơi: điện tử, xếp hình.
Bức tranh 5: đồ chơi: dây thừng – trò chơi: kéo co.
Bức tranh 6: đồ chơi: khăn – trò chơi: bịt mắt bắt dê…
Qua bài học này các em cũng thấy được những trò chơi nào có lợi, những
trò chơi nào có hại, nên tránh.
*Tóm lại: Sử dụng phương pháp trực quan giảng giải khi dạy phân môn
Luyện từ và câu là rất quan trọng vì sẽ khai thác được triệt để các kênh hình của
bài học, nhờ đó mà giáo viên giúp học sinh nắm bài một cách tốt hơn.
+ Phương pháp rèn luyện theo mẫu.
Là phương pháp dạy học mà giáo viên đưa ra các mẫu cụ thể qua đó hướng
dẫn học sinh tìm hiểu các đặc điểm của mẫu, cấu tạo mẫu và thực hiện theo mẫu.
Phương pháp rèn luyện theo mẫu giúp học sinh có điểm tựa để làm bài, đặc
biệt là với học sinh chưa ham học, còn đối với học sinh nắm được bài không bắt
buộc phải theo mẫu để học sinh có thể phát huy được tính tích cực chủ động.
+ Phương pháp phân tích.
Đây là phương pháp dạy học trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn tổ chức
của giáo viên tiến hành tìm hiểu các dấu hiệu theo định hướng bài học từ đó rút
ra bài học. Giúp học sinh tìm tòi, huy động vốn kiến thức cũ của mình để tìm ra
kiến thức mới. Tạo điều kiện cho học sinh tự phát hiện kiến thức (về nội dung và
hình thức thể hiện).
VD: Khi dạy bài “Câu hỏi và dấu chấm hỏi” (tuần 13), tiến hành như sau:
Bước 1: Cho học sinh tìm ra các câu hỏi trong bài tập đọc “Người tìm đường lên các vì sao”. Các em sẽ tìm được 2 câu:
1. Vì sao quả bóng không có cánh mà vẫn bay được?
2. Cậu làm thế nào mà mua được nhiều sách và dụng cụ thí nghiệm như
thế?
Bước 2: Phân tích:
H: Câu hỏi (1) là của ai? (Xi- ôn- cốp - xki hỏi mình)
H: Câu hỏi (2) là của ai? (Bạn của Xi- ôn- cốp- xki hỏi)
H: Dấu hiệu nào giúp em nhận ra đó là câu hỏi? (Cuối câu có dấu chấm
hỏi)
văn hoá. Để thực hiện nhiệm vụ đó giáo viên cần bồi dưỡng hứng thú học tập
cho học sinh, học sinh cần có ý thức học tập đúng đắn.
Trước hết, đó là cách làm giúp cho học sinh ý thức được ích lợi của việc học
để tạo động cơ học tập. Cho nên ở mỗi tiết dạy người giáo viên đều cần hướng
đến việc hình thành và duy trì hứng thú cho học sinh. Dạy Luyện từ và câu
chính là dạy cho các em kiến thức về từ ngữ và ngữ pháp nhưng giáo viên cần đưa ra một số thủ pháp dạy học, hình thức dạy học phù hợp với sở thích của các
em, đó chính là các trò thi đố, các trò chơi để gây hứng thú cho học sinh trong
giờ học, giảm bớt sự căng thẳng, nhàm chán.
Bên cạnh đó người giáo viên cần thiết lập được mối quan hệ hợp tác tích cực
và tốt đẹp giữa cô và trò, giữa các trò với nhau cũng sẽ tạo được hứng thú học
tập cho học sinh. Hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn, cùng với một bầu không
khí thân ái hữu nghị trong giờ học sẽ tạo hứng thú cho cả cô và trò. Vì vậy, bên
cạnh việc giáo dục tính mục đích kỉ luật, ý thức về trách nhiệm v.v…cho học
sinh, với mỗi giáo viên trực tiếp giảng dạy trong nhà trường phải là người tổ
chức thật hấp dẫn, tạo niềm vui, phải phấn đấu sao cho “Mỗi ngày các em đến
trường là một ngày vui”. Mỗi học sinh sẽ luôn mong muốn phải là người được
hạnh phúc ngay ngày hôm nay. Bởi vậy, giáo viên phải thường xuyên tìm hiểu
học sinh muốn việc học diễn ra như thế nào? Cái gì làm các em thích? Cái gì
9
làm các em không thích? để có thể tổ chức quá trình dạy học như các em mong
đợi.
Trong quá trình dạy học người giáo viên cần chú trọng vào mặt thành công
của trẻ, nhìn nhận các em theo cách nhìn: em nào cũng ngoan, em nào cũng cố
gắng. Chỉ có em này ngoan cố gắng nhiều hơn, em kia ngoan cố gắng ít hơn mà
thôi. Bên cạnh đó giáo viên là người luôn nâng đỡ, khích lệ, thông cảm chú
trọng vào mặt thành công của các em, đề cao tính sáng tạo của các em. Đôi lúc
cô giáo cũng cần tỏ ra ngạc nhiên, vui sướng, tôn trọng những sáng tạo của các
bài thật cụ thể phù hợp với từng đối tượng học sinh. Cụ thể:
VD: Khi dạy bài “Câu kể Ai làm gì?” (tuần17)
Bài tập 1: Đọc đoạn văn sau:
10
“Trên nương, mỗi người một việc. Người lớn đánh trâu ra cày. Các cụ già
nhặt cỏ, đốt lá. Mấy chú bé bắc bếp thổi cơm. Các bà mẹ tra ngô. Các em bé
ngủ khì trên lưng mẹ. Lũ chó sủa om cả rừng.” (Theo Tô Hoài)
Tìm trong mỗi câu trên các từ ngữ:
a) Chỉ hoạt động.
b) Chỉ người hoặc vật hoạt động.
Thì học sinh có thể tìm được:
+ Từ chỉ hoạt động: đánh trâu ra cày, nhặt cỏ đốt lá, bắc bếp thổi cơm, tra ngô,
ngủ khì trên lưng mẹ, sủa om cả rừng.
+ Từ chỉ người hoặc vật hoạt động: người lớn, các cụ già, mấy chú bé,các bà
mẹ, các em bé, lũ chó.
Lúc này giáo viên gạch chân những từ ngữ mà các em đã tìm được. Sau đó tiến
hành hỏi: Em hãy đặt câu hỏi cho từng từ ngữ chỉ hoạt động?
Thì học sinh nêu: Người lớn làm gì? Các cụ già làm gì?...
Giáo viên cần chú ý đến mọi đối tượng học sinh trong giờ học để cho tất cả
các em đều được nói, đều được làm việc phù hợp với khả năng tư duy của các
em.
Biện pháp thứ tư: Biện pháp về phân bố thời gian học tập.
Để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 4, việc phân
bố thời gian học tập cho học sinh một cách hợp lí cũng là một yếu tố quan trọng
của sự thành công. Người giáo viên phải biết phối kết hợp nhịp nhàng các hoạt
động dạy
học và phân chia thời gian của từng hoạt động đó phù hợp trong mỗi tiết học,
động sẽ giúp các em tiếp thu bài tốt hơn, hiệu quả hơn.
Biện pháp thứ năm: Biện pháp về lập kế hoạch bài học.
Giáo viên cần nắm vững nội dung cơ bản của từng bài học trong SGK và
những hướng dẫn cụ thể về mục tiêu cần đạt. Tuỳ theo đặc điểm của từng bài
học mà xây dựng kế hoạch bài giảng cho phù hợp. Song, cho dù thế nào cũng
cần có đầy đủ các hoạt động lớp và tổ chức các hoạt động đó một cách phong
phú, phối hợp linh hoạt các phương pháp và hình thức cho phù hợp với nội dung
của bài dạy và chủ điểm của bài đó.
Có thể sử dụng linh hoạt nhiều hình thức dạy học trong cùng một tiết dạy.
Đó là các hình thức tổ chức: làm việc cá nhân, trao đổi nhóm, đàm thoại gây
hứng thú cho học sinh, tránh nhàm chán đơn điệu.
VD: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ: Ước mơ (tuần 9)
Bài tập 2: Học sinh thảo luận nhóm đôi
Tìm thêm những từ cùng nghĩa với “ước mơ”
- HS 1 tìm từ bắt đầu từ tiếng “ ước”: ước muốn, ước mong, ước ao,…
- HS 2 tìm từ bắt đầu từ tiếng ‘‘mơ’’: mơ ước, mơ mộng, mơ tưởng,...
Bài tập 3: Nêu yêu cầu viết thêm những từ : đẹp đẽ, viển vông, cao cả, lớn, nho
nhỏ, kì quặc, dại dột, chính đáng... vào sau từ ước mơ thể hiện sự đánh giá :
+ HS thảo luận nhóm 4.
- Đánh giá cao: ước mơ đẹp, ước mơ chính đáng, ước mơ cao cả, ước mơ
lớn, ước mơ đẹp đẽ.
- Đánh giá không cao: ước mơ nho nhỏ.
- Đánh giá thấp: ước mơ kì quặc, ước mơ dại dột, ước mơ viển vông.
Bài tập 4: Nêu VD về 1 loại ước mơ nói trên.
+ Bài này cho học sinh làm việc cá nhân.
VD: +Ước mơ được đánh giá cao: Đó là những ước mơ vơn lên làm những việc
có ích cho mọi người như: - Ước mơ học giỏi để trở thành bác sĩ/ kĩ sư…
- Ước mơ chinh phục vũ trụ…
+ Ước mơ được đánh giá không cao: Đó là những ước mơ giản dị, thiết thực, có
thể thực hiện được không cần nỗ lực lớn: ước mơ có truyện đọc/ có xe đạp/ có
vui cho cả cô và trò. Qua đó, tôi nhận thấy đổi mới phương pháp dạy học góp
phần làm cho tiết học nhẹ nhàng và đem lại hiệu quả cao, làm cho các em bớt
căng thẳng và tạo được niềm vui trong học tập cho các em.
- Qua quá trình vừa nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy vừa áp dụng vào
thực tế giảng dạy tôi nhận thấy rằng những phương pháp dạy học mà tôi áp dụng
đã có những kết quả đáng vui mừng và phấn khởi.
Sau khi khảo sát lần 2 vào cuối học kì I (tuần 18) với bài tập Tìm danh từ,
động từ, tính từ trong đoạn văn. Kết quả khảo sát cho thấy chất lượng học tập
phân môn Luyện từ và câu Lớp 4A1 đã được nâng lên trông thấy. Cụ thể, trong
bài làm các em đã thể hiện được, đó là các em hiểu và phân biệt được từ loại
một cách rõ ràng, biết sử dụng từ loại trong đặt câu và viết văn. Kết quả trên đã
minh chứng cho cách làm như đã nêu là hiệu quả và đi đúng theo sự chỉ đạo của
nhà trường và của ngành đề ra. Cho đến nay tôi vẫn tiếp tục thực hiện và phát
huy những mặt đạt được, khắc phục những mặt còn tồn tại để năng cao chất lượng dạy học hơn nữa.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Trong quá trình nghiên cứu tôi xin rút ra một số kết luận sau :
- Trước hết giáo viên phải là người nắm vững chương trình, kiến thức, kĩ năng
tiếng Việt, có vốn sống phong phú.
- Thực sự yêu nghề, có tâm huyết với nghề.
13
- Thường xuyên học hỏi trau dồi kiến thức, nghiên cứu tài liệu, sách báo... giao
lưu học hỏi đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm để ngày càng làm phong phú
thêm vốn kiến thức, kĩ năng cho mình.
- Có phương pháp nghiên cứu bài, soạn bài, thiết kế bài học một cách khoa
học, sáng tạo và linh hoạt.
- Tạo sự giao tiếp cởi mở, thân thiện với học sinh, mẫu mực trong lời nói, việc
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
2
2
4
12
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
12
13
*TÀI LIỆU THAM KHẢO
14
16