BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
***************
LÊ THỊ DƯƠNG
NGUYỄN THỊ MY THOA
TRƯƠNG THỊ HUYỀN TRÂN
THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP
DẠY HỌC PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 5
Ngành đào tạo: Sư phạm Giáo dục Tiểu học
Trình độ đào tạo: Đại học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỒNG THÁP, NĂM 2011
1
MỤC LỤC
Trang
Mục lục 1
Danh mục cụm từ viết tắt 3
MỞ ĐẦU 4
1. Lí do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Mục đích nghiên cứu 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
6. Giả thuyết khoa học 7
7. Phương pháp nghiên cứu 7
8. Cấu trúc khóa luận 8
NỘI DUNG 9
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận 9
1.1.1. Khái quát về trò chơi 9
2.3. Tiểu kết chương 2 64
Chương 3
DẠY HỌC THỬ NGHIỆM
3.1. Mục đích thử nghiệm 65
3.2. Nội dung thử nghiệm 65
3.3. Đối tượng thử nghiệm HS lớp 5 65
3.4. Phương pháp thử nghiệm 65
3.5. Bài soạn thử nghiệm 65
3.6. Quá trình thử nghiệm 65
3.7. Phân tích kết quả thử nghiệm 68
3.8. Kết luận từ dạy học thử nghiệm 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC
3
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Để việc nghiên cứu đề tài được thành công thuận lợi và tránh được những lỗi
viết sai của một số từ ngữ cho người đọc trong đề tài nghiên cứu, người nghiên cứu
đã viết tắt một số từ ngữ như sau:
• DH: Dạy học
• GV: Giáo viên
• GVTH: Giáo viên tiểu học
• HS: Học sinh
• HSTH: Học sinh tiểu học
• KTBC: Kiểm tra bài cũ
• LT&C: Luyện từ và câu
• MRVT: Mở rộng vốn từ
• NXB: Nhà xuất bản
• PV: Phóng viên
• SGK: Sách giáo khoa
để nghiên cứu. Chúng tôi mong muốn thông qua đề tài này sẽ giúp cho GV và HS
tiểu học hiểu rõ vai trò, ý nghĩa cũng như hiệu quả của việc sử dụng trò chơi học tập
vào dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy – học phân môn LT&C lớp 5 nói riêng và
các môn học trong chương trình Tiểu học nói chung.
5
2. Lịch sử vấn đề
Hiện nay, việc nghiên cứu và tổ chức các trò chơi nói chung và trò chơi học
tập (TCHT) nói riêng cho trẻ đã được các nhà sư phạm trên thế giới cũng như nước
ta quan tâm, bởi họ nhìn thấy việc sử dụng trò chơi trong việc tổ chức các hoạt động
giáo dục có ý nghĩa rất lớn đối với trẻ. Tuy nhiên, việc xem xét nghiên cứu vấn đề
này vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau.
- Trên thế giới, các nhà khoa học Sáclơ Phurie, Robert Owen đã nghiên cứu
và sử dụng TCHT vào mục đích giáo dục - phát triển toàn diện cho trẻ em. Họ đã bỏ
ra nhiều công sức để nghiên cứu và chỉ ra được vai trò của TCHT trong sự hình
thành và phát triển nhân cách của trẻ.
Theo nhà sư phạm Đức Ph. Phroebel, TCHT phát triển thể chất, làm giàu vốn
ngôn ngữ, phát triển tư duy, trí tưởng tượng, phát triển cái vốn có sẵn của trẻ.
Một luận điểm vô cùng quan trọng của A. I. Xôrôkina: TCHT là một quá trình
phức tạp, nó là hình thức dạy học và đồng thời nó vẫn là trò chơi. Trò chơi được
vận dụng trong tiết học, hành động chơi sẽ chỉ đạo hoạt động trí tuệ của trẻ, trò chơi
tự bản thân nó trở thành tiết học.
Theo như T. M. Babunova; A. K. Bônđarencô bám sát mục đích giáo dục và
phát triển một số năng lực, phẩm chất trí tuệ cho HS đã xác định TCHT là một
phương pháp giáo dục và phát triển tích cực, độc lập nhận thức của HS.
- Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu và vận dụng tổ chức trò chơi trong dạy
học ở Tiểu học cũng đã được quan tâm ở nhiều bộ môn khác nhau như: môn Toán,
môn Tự nhiên – Xã hội, môn Đạo đức, môn Tiếng Việt
Với tài liệu “Trò chơi học tập môn Tự nhiên và xã hội lớp 1, 2, 3”, tác giả
Bùi Phương Nga [6] đã giới thiệu một số trò chơi dùng trong dạy học môn Tự nhiên
và xã hội. Đây sẽ là tài liệu bổ ích giúp người nghiên cứu học hỏi để có thể vận
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích thiết kế một số trò chơi học tập vào dạy học
phân môn Luyện từ và câu lớp 5 góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở
Tiểu học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề tài đặt ra, đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề về lí luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài.
- Khảo sát thực tiễn để nắm việc vận dụng trò chơi học tập vào dạy học phân
môn Luyện từ và câu lớp 5.
7
- Thiết kế một số trò chơi học tập vào dạy học phân môn LT&C lớp 5.
- Thiết kế giáo án và dạy thử nghiệm.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: trò chơi học tập trong dạy học phân môn Luyện từ và
câu lớp 5.
- Phạm vi nghiên cứu: thiết kế trò chơi học tập vào dạy học phân môn Luyện
từ và câu lớp 5.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên và người nghiên cứu nắm vững cách thức thiết kế cũng như tổ
chức trò chơi học tập vào dạy học phân môn LT&C lớp 5 một cách hợp lí, linh hoạt,
sáng tạo sẽ góp phần kích thích tính tích cực, tự giác học tập của học sinh, đồng thời
mang lại hiệu quả cao trong dạy - học phân môn LT&C lớp 5 nói riêng và chương
trình Tiếng Việt Tiểu học nói chung.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: nghiên cứu những tài liệu có liên quan
đến đề tài về mặt lí luận, SGK Tiếng Việt lớp 5 để xây dựng lịch sử nghiên cứu vấn
đề, cơ sở lí luận của đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp khảo sát, điều tra: tham khảo ý kiến của GV, HS lớp 5 của
các trường Tiểu học để thu thập những số liệu thực tế về việc vận dụng trò chơi học
còn là hoạt động chủ đạo. Tuy nhiên, vui chơi vẫn giữ một vai trò rất quan trọng
trong hoạt động sống của trẻ, có ý nghĩa to lớn đối với trẻ. Lí luận và thực tiễn đã
chứng minh rằng: nếu tổ chức cho trẻ vui chơi một cách hợp lí, đúng đắn thì đều
mang lại hiệu quả giáo dục.
Trò chơi là hoạt động vui chơi mang một chủ đề, một nội dung nhất định, có
tổ chức, sự cổ vũ của bạn bè, có sự tham gia của nhiều người và những quy định mà
người tham gia phải tuân thủ. Luật của trò chơi chính là các quy tắc định rõ mục
đích, kết quả và yêu cầu hành động chơi. Trò chơi có tính thi đua và tính thách thức
đối với người tham gia.
Hiện nay có một số định nghĩa về khái niệm trò chơi như sau:
Trò chơi là một loại hình văn hóa dân gian rất quen thuộc, gần gũi với mọi
người và mang tính chất truyền thống.
Trò chơi là một loại hình sinh hoạt, giao lưu văn hóa của con người, thường
được tổ chức vào các dịp lễ, hội, tết…
Trò chơi đem lại cho con người sự vui vẻ, đoàn kết, giúp con người thổ lộ
những tình cảm, thể hiện ước mơ, sự phấn đấu…
Trò chơi là hoạt động bày ra để vui chơi, giải trí thông qua đó giáo dục con
người những kinh nghiệm sản xuất, phẩm chất đạo đức, tri thức khoa học…
Theo Hà Nhật Thăng thì “trò chơi là loại hoạt động rất quen thuộc, gần gũi
với mọi người” [8, tr. 24]. Hay theo Từ điển Tiếng Việt “trò chơi là hoạt động bày
ra để chơi cho vui…” [13, tr. 946].
10
Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có định nghĩa nào đầy đủ, chính xác về trò chơi.
1.1.1.2. Đặc trưng của trò chơi
Trò chơi là một loại hình hoạt động sống của con người cũng như hoạt động
học tập, lao động…
Trò chơi có chủ đề và nội dung nhất định, có những quy tắc nhất định, có luật
chơi cố định mà người tham gia phải tuân thủ.
Trò chơi mang tính chất vui chơi, giải trí lành mạnh, vừa có ý nghĩa giáo
dưỡng và giáo dục lớn lao đối với con người. Đồng thời giúp các em HS có thể bớt
- Trò chơi theo chủ đề
Trò chơi theo chủ đề bao gồm: trò chơi sắm vai, trò chơi đạo diễn, trò chơi
đóng kịch. Các trò chơi theo chủ đề có vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân
cách trẻ em, sự phát triển trí tuệ, đạo đức và thẩm mĩ của chúng.
- Trò chơi vận động (hay trò chơi linh hoạt)
HS rất thích loại trò chơi này vì trò chơi vận động có nội dung rất phong phú,
đòi hỏi sự chú ý. Đây là trò chơi luôn có sự vận động của cơ bắp nên nó có ảnh
hưởng tốt tới sự phát triển thể chất lẫn trí tuệ của các em.
- Trò chơi học tập (hay trò chơi giáo dục).
Đây là một trong những phương tiện giáo dục trí tuệ cho trẻ, giúp phát triển
các giác quan, trí thông minh, sự nhanh trí, khẳ năng ngôn ngữ…
- Trò chơi trí tuệ
Loại trò chơi này thường xuất hiện trong các trò chơi: đố bạn, đố ghép chữ, trả
lời câu hỏi… Đây là trò chơi hoàn toàn dựa trên hoạt động sáng tạo của HS giúp
hoàn thiện các năng lực trí tuệ, năng lực hoạt động tập thể, tinh thần đồng đội…
Tuy nhiên, sự phân loại này chỉ mang tính tương đối vì trên thực tế có những
loại trò chơi hỗn hợp, tổng hợp của hai hoặc nhiều loại trò chơi trên.
1.1.1.5. Ý nghĩa của trò chơi
Trò chơi giúp cho trẻ có được những hiểu biết về thế giới xung quanh, phát
triển về thể chất và trí tuệ, hoàn thiện các quá trình tri giác, chú ý, ghi nhớ, tư duy,
tưởng tượng, sáng tạo. Trò chơi rèn cho HS:
+ Về đạo đức: tạo cho người chơi tính nhẫn nại, đoàn kết, hoà đồng với tập
thể, vui tính, vị tha.
+ Về trí tuệ: giúp cho người chơi có tính sáng tạo có óc quan sát nhanh, nhận
định được lời nói nhanh, phán đoán và ứng xử khôn khéo, nhớ được lâu, khéo léo.
12
+ Về thể lực: rèn luyện cho người chơi nhanh nhẹn tai mắt, tay chân, tăng
cường thêm sinh lực, tính chịu khó, tháo vát.
Thông qua nội dung chơi, luật chơi đòi hỏi HS phải tập trung chú ý và ghi nhớ
nên đòi hỏi các em phải chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định. Trong khi chơi HS
các vật liệu tự nhiên, tranh ảnh và cũng có nhiều TCHT chỉ dùng lời.
1.1.2.2. Đặc điểm của trò chơi học tập
TCHT khác với trò chơi khác là ở chỗ, nhiệm vụ nhận thức và luật chơi trong
trò chơi đòi hỏi người chơi phải huy động trí óc làm việc thực sự nhưng chúng lại
được thực hiện dưới hình thức chơi vui vẻ, thú vị (chơi là phương tiện, học là mục
đích). Học trong quá trình chơi là quá trình lĩnh hội tri thức nhẹ nhàng, tự nhiên
không gò bó, khơi dậy hứng thú tự nguyện và giảm thiểu sự căng thẳng.
TCHT là trò chơi có luật dùng vào mục đích dạy học, hướng tới việc phát triển
trí tuệ của HS.
TCHT thể hiện rõ trong quá trình thực hiện hành động chơi, giải quyết nhiệm
vụ chơi, luật chơi.
TCHT là hoạt động tự nguyện của HS và có yếu tố “thi đua” ngay trong hoạt
động của trò chơi.
* Ưu điểm
TCHT là một hình thức học tập bằng tư duy và hoạt động, hấp dẫn HS, do đó
duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học.
Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, do đó giảm
tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức lí thuyết mới, nâng
cao hứng thú của HS.
Trò chơi có nhiều HS tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học tập hợp tác
cho HS. Tạo môi trường cởi mở, thân thiện. Tăng cường khả năng giao tiếp giữa HS
với HS, HS với GV.
HS được củng cố và hệ thống hóa kiến thức; được rèn luyện khả năng quyết
định lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống; được
hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kĩ năng nhận xét, đánh giá.
HS tiếp thu bài tự giác hơn.
* Nhược điểm
Lớp học sẽ “ồn” khi GV tổ chức trò chơi.
Nếu tổ chức không tốt sẽ khó kiểm soát và dễ “cháy giáo án”.
Một số trò chơi có thể làm cho HS quá phấn khởi và có thể ảnh hưởng đến
thế giới xung quanh giúp HS có thể thực hiện tốt các thao tác chơi, nội dung chơi.
- Trò chơi nhằm phát triển trí nhớ: rèn luyện và phát triển trí nhớ của HS về
những tri thức, khái niệm, biểu tượng đã lĩnh hội.
15
Trên đây chỉ là sự phân loại mang tính tương đối, ngoài ra còn có nhiều trò
chơi giúp phát triển sự chú ý, ngôn ngữ và giúp HS có thể phát triển nhiều mặt về
thể chất.
1.1.2.5. Vai trò của trò chơi học tập trong việc phát triển trí tuệ học sinh
TCHT là một trong những phương tiện hình thành các năng lực, trí tuệ, bởi vì
trong quá trình tham gia trò chơi thì hoạt động trí tuệ của các em được đẩy mạnh và
có tính chủ định. TCHT tạo khả năng phát triển trí tưởng tượng, khả năng linh hoạt,
độc lập sáng tạo.
Trò chơi, bản thân nó là một hoạt động trực tiếp với tính hấp dẫn tự thân của
mình có một tiềm năng lớn để trở thành một phương tiện dạy học hiệu quả, kích
thích sự hứng thú nhận thức và niềm say mê học tập của người học. Học tập thông
qua trò chơi sẽ giúp học sinh ghi nhớ dễ dàng và bền vững hơn.
Trong quá trình chơi, giải quyết nhiệm vụ chơi, người học phải dùng các giác
quan để tiếp nhận thông tin ngôn ngữ, phải tự phân tích, tổng hợp, so sánh, phân
loại và khái quát hóa, tùy theo nhiệm vụ nhận thức của mỗi trò chơi làm cho tư duy
ngôn ngữ mạch lạc hơn, tư duy trực quan, hình tượng phát triển hơn, các thao tác trí
tuệ được hình thành. Qua TCHT, người học tiếp thu, lĩnh hội và khắc sâu nhiều tri
thức, nhiều khái niệm và hình thành những biểu tượng rõ rệt về các sự việc, hiện
tượng xung quanh. Đối với bộ môn Tiếng Việt, trò chơi học tập đặt HS trước một
tình huống ngôn ngữ để huy động, luyện tập, củng cố và mở rộng vốn kiến thức.
TCHT giúp học sinh lĩnh hội những tri thức và kỹ năng khác nhau mà không
có chủ định từ trước. Đồng thời, giúp người học cảm nhận được một cách trực tiếp
kết quả hành động của mình, từ đó thúc đẩy tính tích cực, mở rộng, củng cố và phát
triển vốn hiểu biết của người học.
TCHT thực hiện chức năng của hoạt động thực hành, luyện tập, trong đó học
sinh được củng cố, vận dụng linh hoạt tri thức, kỹ năng đã được học cùng những
HSTH thông qua việc phát triển vốn từ, trang bị cho HS một số hiểu biết sơ giản về
từ, câu và văn bản.
Rèn luyện kĩ năng sử dụng từ chính xác, tinh tế để đặt câu, rèn luyện kĩ năng
tạo lập câu và sử dụng câu và các dấu câu phù hợp với tình huống giao tiếp.
Bồi dưỡng cho HS thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, có ý thức sử
dụng Tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp.
Mục tiêu của phân môn được thể hiện đầy đủ trong tên gọi “Luyện từ và câu”.
17
b. Nhiệm vụ
+ Về mặt Luyện từ
Phân môn này có nhiệm vụ tổ chức cho HS thực hành làm giàu vốn từ, cụ thể:
- Chính xác hóa vốn từ (dạy nghĩa từ): là giúp HS có thêm những từ mới,
những nghĩa mới của từ đã học, thấy được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ.
- Hệ thống hóa vốn từ (trật tự hóa vốn từ): giúp HS sắp xếp các từ thành một
trật tự nhất định trong trí nhớ của mình để có thể ghi nhớ từ nhanh, nhiều và tạo ra
được tính thường trực của từ.
- Tích cực hóa vốn từ (luyện tập sử dụng từ): giúp HS biến những từ ngữ tiêu
cực (những từ ngữ hiểu nghĩa nhưng không sử dụng trong khi nói, viết) thành
những từ ngữ tích cực, được sử dụng thường xuyên trong giao tiếp hằng ngày.
- Văn hóa vốn từ: giúp HS loại bỏ khỏi vốn từ những từ ngữ không văn hóa,
tức là những từ ngữ thông tục hoặc sử dụng sai phong cách.
Mặt khác, còn phải cung cấp cho HS một số khái niệm lí thuyết cơ bản và sơ
giản về từ vựng học như về cấu tạo từ, các lớp từ có quan hệ về nghĩa… để HS có
cơ sở nắm nghĩa của từ một cách chắc chắn và biết hệ thống hóa vốn từ một cách có
ý thức.
+ Về mặt Luyện câu
Phân môn này phải tổ chức cho HS thực hành để rèn luyện các kĩ năng cơ bản
về ngữ pháp như kĩ năng đặt câu đúng ngữ pháp, kĩ năng sử dụng các dấu câu, kĩ
năng sử dụng các kiểu câu phù hợp với mục đích nói, tình huống lời nói để đạt hiệu
quả giao tiếp cao, kĩ năng liên kết các câu để tạo thành đoạn văn, văn bản.
Mỗi một môn học, mỗi một phân môn có những loại trò chơi khác nhau. Đối
với phân môn LT&C lớp 5 cũng có nhiều cách phân loại khác nhau. Qua thực tế
chúng tôi đã thu được một số trò chơi mà các thầy (cô) đã sử dụng và chúng tôi tiến
hành phân loại như sau:
a. Trò chơi trí tuệ
- Trò chơi: Ai nhanh? Ai đúng?
Mục đích:
- Trò chơi này được sử dụng phổ biến trong dạy học các bài tập phân môn
LT&C. Trò chơi rất dễ sử dụng, phù hợp với tâm lý, trình độ của HS, giúp GV
truyền đạt kiến thức đến HS một cách dễ dàng.
19
- Chủ yếu trò chơi “Ai nhanh? Ai đúng?” được sử dụng nhiều ở các phần
KTBC, củng cố kiến thức vừa học cho HS, dùng nhiều ở các bài luyện tập, ôn tập.
- Giúp HS khắc sâu kiến thức qua trò chơi.
- Mục đích trò chơi còn giúp HS đối đáp với nhau thông qua các bài tập một
cách chính xác, đúng với kiến thức, nội dung bài học. Trò chơi tạo nên không khí
lớp học sinh động, tiết học nhẹ nhàng, thoải mái, HS vận động nhẹ trong giờ học.
- Trò chơi rèn luyện cho HS kỹ năng nhạy bén và nhanh nhẹn. Giúp các em
linh hoạt trong tiết học, có tinh thần thi đua giữa các cá nhân hay giữa các nhóm,
các đội với nhau.
Chuẩn bị: GV chuẩn bị nội dung, câu hỏi, hay bài tập cho HS chơi.
Cách chơi:
GV nêu tên trò chơi: Ai nhanh? Ai đúng?
GV phổ biến luật chơi cho HS hiểu:
- Trò chơi được áp dụng cho tất cả các HS trong lớp tham gia nhưng có sự
phân chia thành hai đội. Hai đội sau khi phân chia sẽ hội ý với nhau để chỉ định
người nói trước, người nói sau để trong đội không có sự tranh cãi với nhau.
- GV nêu nội dung câu hỏi cho HS nghe.
- Hai đội trưởng “oẳn tù tì” đội nào thắng sẽ bắt đầu trước.
- Sau đó đội nói xong, mời đội bạn nói. Nếu bạn nào trả lời chậm hoặc sai, hay
- GV gọi HS giải thích nội dung ô chữ.
- GV gọi HS nhận xét đội chiến thắng.
- GV nhận xét và tuyên dương đội thắng cuộc.
b. Trò chơi trí tuệ kết hợp vận động
Chúng tôi dựa vào sự vận động của HS như ngồi ngay bàn học hay đứng trên
bảng, đi lên xuống hay đi quanh lớp để chơi trò chơi. Đây chỉ là sự vận động nhẹ
nhưng vẫn rèn luyện được thể chất của các em trong giờ học.
- Trò chơi: Ghép từ
Mục đích:
- Đây là trò chơi trí tuệ kết hợp với vận động vì thế được áp dụng rất nhiều các
bài tập ở phân môn LT&C lớp 5.
- Dùng nhiều ở các bài tập củng cố bài cũ, hay các bài luyện tập và ôn tập.
Chủ yếu với những phần ghi nhớ hay những phần ghép từ, ghép câu ở 2 khung lại
với nhau.
- Trò chơi giúp HS vận động nhẹ trong giờ học, học thoải mái, nhẹ nhàng.
21
- Trò chơi tạo được tinh thần thi đua cao giữa 2 đội. HS cùng thi đua tự tìm
kiến thức mới, rèn luyện tư duy cao, khả năng phán đoán, hợp tác và đoàn kết.
Chuẩn bị: Các thẻ từ chứa nội dung cần thực hiện hoặc các bảng phụ để HS
thực hiện yêu cầu.
Cách chơi:
GV nêu tên trò chơi: Ghép từ
GV phổ biến luật chơi:
- GV chia lớp thành 2 đội A, B.
- GV nêu nội dung câu hỏi hay bài tập để chơi trò chơi.
+ Đối với ghép từ là ghép các từ ngữ thích hợp để tạo thành một câu hoàn
chỉnh (có thể là khái niệm, ghi nhớ…) thì GV chia bảng ra làm 2 cột A, B. Cho HS
2 đội lên chọn thẻ từ, sau đó mỗi đội lần lượt dán thẻ từ vào cột của đội mình. Đội
nào dán nhanh, chính xác nội dung GV đưa ra thì đội đó thắng cuộc.
+ Đối với ghép từ là ghép những từ hoặc những câu ở cột A tương ứng với cột
- GV gọi HS nhận xét từng cánh hoa đúng hay sai.
- GV nhận xét và gọi HS đọc lại kết quả đúng.
1.1.3.4. Ý nghĩa của việc vận dụng trò chơi học tập vào dạy học phân môn
Luyện từ và câu ở lớp 5
Dạy học không chỉ là sự truyền đạt đơn thuần kiến thức mà là một quá trình
tạo mối tương quan giữa GV với HS và tài liệu. Thông thường HS chỉ nhớ: 10%
những gì đọc được, 20% những gì nghe được, 30% những gì thấy được, 50% những
gì vừa nghe và thấy, 80% những gì mình nói, 90% những gì khi nói và làm, tức là
khi tự mình khám phá. Tác động của các hoạt động “trò chơi học tập” tại lớp học có
một ý nghĩa rất quan trọng, nó làm cho HS được gần gũi, được cởi mở, và quan
trọng hơn là nó có ý nghĩa chủ đạo trong việc tạo ra sự chú ý của HS đối với nội
dung bài học, khuyến khích sự quan tâm của người học một cách tự nhiên, không
mang tính gượng ép và bắt buộc. HS nắm vững kiến thức do chính mình tìm ra.
Phân môn LT&C ở lớp 5 đa dạng phong phú về các kiểu bài. Vì thế các dạng
bài tập trong những kiểu bài đó cũng không kém phần đa dạng, phong phú. TCHT
giúp mỗi HS phát huy hết khả năng của mình và phát triển những phẩm chất còn
tiềm tàng. Sử dụng TCHT để hình thành kiến thức, kĩ năng mới hoặc củng cố kiến
thức, kĩ năng đã học, đồng thời phát huy tính tích cực sáng tạo, chủ động trong học
tập tìm ra kiến thức mới của HS.
Trong thực tế dạy học, GV thường tổ chức TCHT để củng cố kiến thức, kĩ
năng. Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến
23
thức, kĩ năng mới là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt
đầu bài học mới.
Trò chơi học tập sẽ giúp cho tiết học LT&C trở nên sinh động, lôi cuốn HS
vào tiết học “chơi mà học, học mà chơi”. Nó giúp các em khắc sâu kiến thức vì
những kiến thức đó do các em tự khám phá, phát hiện và tìm ra, GV chỉ đóng vai
trò tổ chức, hướng dẫn và định hướng.
Tóm lại, trò chơi học tập không những giúp học sinh tự khám phá, hình thành,
hệ thống kiến thức mà nó còn tạo cho các em có sự thi đua, tính nhanh nhẹn, cởi
tuổi này. Tư duy của các em sẽ được rèn luyện mang tính phân tích, hệ thống thông
qua trò chơi mà các em tham gia.
e. Tưởng tượng
HS lớp 5 nằm ở thời kì thứ hai của tưởng tượng. Giai đoạn này, nảy sinh sự xử
lí sáng tạo những biểu tượng. Số lượng dấu hiệu và đặc điểm trong hình ảnh tăng
lên nhiều. Chúng khá trọn vẹn và cụ thể. Các em có thể tưởng tượng ra những hình
ảnh mà người lớn khó chấp nhận nhưng các em lại cho rằng đó có thể là hiện thực.
g. Trí nhớ
Ghi nhớ máy móc dễ dàng hơn ghi nhớ logic. Tuy nhiên ở lớp 5, các em đã có
một số vốn từ nhất định để trình bày lại những thông tin đã ghi nhớ được theo cách
hiểu của mình. Do đó, GV cần phải hình thành biện pháp ghi nhớ logic theo điểm
tựa cho HS. Trong khi chơi các em đã được tư duy, ghi nhớ, khi kết thúc trò chơi
GV sẽ cũng cố lại các em ghi nhớ và hệ thống lại kiến thức bài học.
h. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ của HS lớp 5 phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ ngữ.
Tuy nhiên hiện tượng phát âm sai vẫn còn. Các em đã nắm được một số quy tắc ngữ
pháp cơ bản khi nói và viết vẫn còn sai ngữ pháp. Việc hiểu nghĩa của từ vẫn còn
hạn chế, vốn từ ngữ của các em ngày càng phong phú, chính xác và giàu hình ảnh,
ngôn ngữ phát triển có tính chất logic, có sức truyền cảm.
Trong khi chơi, các em thảo luận nhiều hơn để có được đáp án đúng hay trình
bày miệng trước lớp, có nghĩa là các em đang được rèn luyện và phát triển ngôn
ngữ của chính mình.
1.1.4.2. Đặc điểm nhân cách
a. Nhu cầu
Các em HS có rất nhiều nhu cầu: nhu cầu hoạt động trò chơi, nhu cầu vận
động, nhu cầu chiếm lĩnh tri thức… Nhìn chung những nhu cầu của HS ngày càng
được ý thức và được điều khiển hơn.
25