BÁO CÁO SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu:
Tiểu học là cấp học quan trọng, được xem là cơ sở ban đầu đặt nền móng cho
sự phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông. Ở cấp
tiểu học phân môn luyện từ và câu có nhiệm vụ làm phong phú
vốn từ và tích cực hóa vốn từ cho học sinh: cung cấp một lượng
từ ngữ nhất định theo quy định của chương trình, giúp học sinh
hiểu được nghĩa của từ trong hệ thống, hiểu đúng nghĩa và cái
hay của nghĩa từ trong hoạt động thực hiện chức năng giao tiếp
của mình.
Phân môn Luyện từ và câu còn giúp cho các em chiếm lĩnh
ngôn ngữ trong giao tiếp, học tập, hoạt động tạo ra hứng thú và
động cơ học tập. Hơn thế nữa, nhờ có vốn từ dồi dào, cũng giúp
cho các em trở nên tư duy chính xác và chặt chẽ hơn. Vì lẽ đó, ở
trường Tiểu học giáo viên có nhiệm vụ dạy cho học sinh một
cách có hệ thống các phương pháp để hình thành và phát triển
năng lực dùng từ cho học sinh. Phân môn này còn giúp học sinh
tích cực hóa vốn từ, đưa các từ vào tạo câu, tạo lời nói trong học
tập vui chơi, sinh hoạt thường ngày.
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy lớp 5 tôi nhận thấy học sinh học và thực
hành phân môn luyện từ và câu chưa thực sự đạt kết quả như mong muốn, học
sinh mắc lỗi khi làm bài tập còn nhiều. vận dụng từ ngữ còn chưa linh hoạt , làm
các bài tập về từ loại còn sai, đặc biệt là học sinh lớp 5C mà tôi đang trực tiếp
giảng dạy. Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng còn
nhiều băn khoăn và trăn trở bởi sự diễn đạt trong Tiếng Việt rất phong phú và đa
dạng. Do đó, cần phải có biện pháp dạy học phù hợp giúp học sinh học tốt phân
môn Luyện từ và câu đó cũng là lí do mà tôi chọn sáng kiến này.
2. Tên sáng kiến:
1
kỹ năng quan sát nhằm mở rộng vốn từ cho học sinh.
2
- Dạy học áp dụng trò chơi trong học tập tạo hứng thú cho học sinh.
Các biện pháp mà tôi nghiên cứu và áp dụng đều vừa sức và phù hợp với mỗi
đối tượng nên các em hứng thú, không ngại học, bởi thế nên chất lượng đọc của
lớp tôi ngày càng được cải thiện một cách đáng kể.
7.1.2 Tính khoa học:
Con người muốn tư duy phải có ngôn ngữ, ngôn ngữ là công cụ, là hiện thực
của tư duy. Bởi lẽ đó, tư duy và ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác
động qua lại lẫn nhau. Người có tư duy tốt sẽ nói năng mạch lạc, trôi chảy và
nếu trau dồi ngôn ngữ được tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo điều kiện cho tư duy phát
triển tốt. Trong giáo dục, việc nắm vững tiếng nói (trước hết là tiếng mẹ đẻ) có ý
nghĩa quyết định. Nếu học sinh yếu kém về ngôn ngữ, nghe nói chỉ hiểu lơ mơ,
nói viết không chính xác không thể hiện được ý mình cho suôn sẻ, thì không thể
nào khai thác đầy đủ các thông tin tiếp nhận từ người thầy, từ sách vở được. Bởi
vậy, trong nội dung giáo dục, chúng ta cần phải hết sức coi trọng việc đào tạo về
mặt ngôn ngữ, xem đó là điều kiện không thể thiếu để bảo đảm thành công của
mình.
Luyện từ và câu ở tiểu học còn giúp học sinh trang bị một số
hiểu biết về ngữ pháp như: giúp nắm được một số khái niệm
ngữ pháp, biết dùng một số câu, kiểu câu. Mục tiêu của phân
môn Luyện từ và câu ở Tiểu học là nhằm đào tạo, cung cấp cho
các em những kiến thức cơ bản để khi các em học xong Tiểu
học thì các em sẽ có kĩ năng dùng từ chính xác, nói và viết theo
đúng ngữ pháp tiếng Việt. Đó cũng chính là đào tạo ra con
người biết giao tiếp trong đời sống. Phân môn Luyện từ và câu
còn giáo dục cho người học những tư tưởng tốt đẹp: yêu tiếng
nói và yêu chữ viết của dân tộc.
TSHS
chính xác, vận dụng
HS biết dùng từ đặt HS chưa biết dùng
câu
từ đặt câu
viết văn hay
SL
TL
SL
TL
SL
TL
36
9
25%
16
44,4%
11
30,6%
* Nhìn bảng thông kê cho thấy các em học luyện từ và câu còn có nhiều hạn
chế chất lượng môn Tiếng Việt của lớp còn thấp.
7.1.3.2 Nguyên nhân của thực trạng.
4
5
*Biện pháp thứ nhất: Hướng dẫn HS hình thành kiến thức
mới.
* Việc hình thành kiến thức mới để học sinh nắm vững khái niệm và vận dụng
vào thực hành là việc làm hết sức quan trọng trong việc cung cấp kiến thức cho
học sinh. Do vậy giáo viên cần làm tốt:
- Bài dạy kiến thức mới ( Bài dạy lý thuyết) về từ và câu thường gồm 3 phần:
Nhận xét, Ghi nhớ và Luyện tập.
- Nhận xét là phần cung cấp ngữ liệu có liên quan đến nội dung bài học nhằm
giúp các em tự hình thành kiến thức
* GV tổ chức cho HS khai thác ngữ liệu ở phần nhận xét theo các hình thức:
+ Trao đổi chung cả lớp.
+ Trao đổi theo từng nhóm.
+ Tự làm bài cá nhân.
- Dù theo hình thức nào thì GV cũng cần chú ý dẫn dắt HS để hướng cho các
em tự rút ra những điểm cần ghi nhớ về kiến thức.
- Ghi nhớ là phần chốt lại những những điểm cốt lõi về kiến thức được rút ra
qua việc phân tích ngữ liệu. HS cần nắm vững kiến thức này bằng cách:
+ Tự rút ra những điểm chính cần ghi nhớ qua phân tích ví dụ.
+ Đọc phần Ghi nhớ trong SGK.
+ Nêu những điểm cần ghi nhớ mà học sinh có thể đã tự lĩnh hội được sau bài
học.
- Luyện tập là phần bài tập thực hành nhằm củng cố và vận dụng kiến thức đã
học. HS cần chủ động nhiều hơn khi thực hiện các yêu cầu của bài tập. GV có
thể cho HS nhắc lại một số kiến thức có liên quan, sau đó tổ chức cho HS làm
bài tập theo các hình thức cá nhân, cặp đôi, nhóm,.. Giáo viên cần lưu ý:
+ Hướng dẫn HS tìm hiểu kỹ yêu cầu của bài tập.
+ Chữa mẫu cho HS một bài hoặc một phần của bài tập.
*Ví dụ: dạy bài Từ trái nghĩa (tiết 1- tuần 4).
- Khi dạy loại bài này, tôi dùng bài thơ sau để giúp học sinh nhận biết từ trái
nghĩa.
Dòng sông bên lở bên bồi
Bên lở thì đục bên bồi thì trong
Khôn nhà dại chợ long đong
Việc này hẳn có tay trong tay ngoài
Lươn ngắn lại chê trạch dài
7
Vụng chèo khéo chống khen ai vững vàng….
Muốn tìm được cặp từ trái nghĩa, trước các cặp từ còn đang “Nghi vấn”, học
sinh cần trả lời 2 câu hỏi nhỏ sau: thứ nhất “nghĩa của 2 từ trong mỗi câu thơ có
đối lập nhau không, trái ngược nhau không?”, thứ hai : “cơ sở chung của sự đối
lập về nghĩa của 2 từ là gì ?”. Trả lời được 2 câu hỏi trên, học sinh đã xác định
có cơ sở chắc chắn về từ trái nghĩa.
- Cuối tiết học tôi củng cố kiến thức bằng cách tổ chức thi sử dụng và tìm từ
trái nghĩa dưới dạng 2 loại bài tập điền từ vào chỗ trống và đặt câu với từ trái
nghĩa
Hình thức vừa dạy vừa tổ chức trò chơi như vậy ngay trong không gian lớp
học, tại thời gian của lớp học làm cho học sinh đỡ căng thẳng, tạo được hứng thú
và niềm tin trong học tập.
*Ví dụ: dạy về nghĩa của từ qua bài Từ nhiều nghĩa
Để chuyển tải được khái niệm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ khi dạy bài
khái niệm về nghĩa của từ, tôi đã tìm cách đặt từ vào trong câu, nói rộng hơn là
đặt từ trong ngữ cảnh. Ngữ cảnh có tác dụng hiện thực hoá, cụ thể hoá nghĩa của
từ và để học sinh hiểu vấn đề, chúng tôi cung cấp: trong các nghĩa khác nhau
của từ nhiều nghĩa, nghĩa nào là nghĩa trực tiếp, gần gũi, quen thuộc “dễ hiểu”
dòng thơ đó. Sau đó nhóm 2 sẽ làm ngược lại…và cứ tiếp tục
cho đến hết).
Anh em trên dưới một lòng
Thuyền bè xuôi ngược trên sông sớm chiều
Nghe giảng em hiểu ít nhiều
Đừng nói nặng nhẹ những điều chẳng hay
Đảm đang lo việc trước sau
Thì thầm to nhỏ kề tai dành dành….
+ Học sinh sẽ vận dụng kiến thức của mình trao đổi với bạn
trong nhóm, dựa trên cơ sở nghĩa của chúng có đối lập không
để tìm từ.
Cuối tiết, tôi củng cố kiến thức bằng cách tổ chức thi sử dụng
từ trái nghĩa dưới dạng 2 loại bài tập sau:
+ Loại bài tập 1: Điền từ trái nghĩa vào chỗ trống trong từng
câu thơ sau
9
Ví dụ :
Yếu trâu còn hơn …………… bò
Bé lại xé ra ............đáng buồn
Lành làm gáo, ……. làm muôi
Ở ……. người cười, ở hẹp người chê
+ Loại bài tập 2: Đặt câu với cặp từ trái nghĩa, dạng bài tập điền từ,
học sinh cần được dựa vào từ cho sẵn (từ in đậm trong câu thơ), coi đó là từ
“điểm tựa” để tìm từ có nghĩa trái ngược, tạo nên một cặp từ trái nghĩa hoàn
chỉnh. Còn ở dạng bài tập đặt câu, học sinh cần căn cứ vào đặc trưng về nghĩa
của cặp từ trái nghĩa
Mùa hè gió mát là đà bóng cây
Quê mình đẹp nhất nơi đây
Cây đa ………..hồ đầy nước trong (cổ thụ)
a. Phương pháp liên tưởng: Từ 1 từ hoặc cụm từ cho trước sẽ cho ra 1 từ mới
cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa với từ cho sẵn.
Loại bài tập này bao gồm một số dạng sau:
Dạng 1: Điền từ vào chỗ trống.
Sạch sẽ là không ..................
............là không lộn xộn
.............là không luộm thuộm.
Dạng 2: Tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa được nêu trực tiếp.
Loại bài tập này giúp học sinh thu thập thêm những từ đồng nghĩa, trái nghĩa
mà trước nay bản thân chưa biết hoặc chưa nhận ra, đồng thời tạo cho học sinh
một sự nhạy cảm, để đến khi có nhu cầu giáo tiếp ngôn từ thì có thể dễ dàng huy
động các từ đồng nghĩa, trái nghĩa có như vậy vốn từ của học sinh mới ngày
càng phong phú, mới đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong hoạt động nói - viết
của học sinh.
b. Phương pháp láy: Tìm ra từ mới bằng cách lặp lại một bộ phận của từ, hoặc
láy lại từ đã cho.
*Ví dụ: Từ từ gốc “xinh” láy từ sẽ cho ra các từ: Xinh xẻo, xinh xinh, xinh xắn.
7.1.5. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm :
Với những biện pháp trên, qua gần 1 năm thực hiện trên lớp 5C, tôi nhận thấy:
- Giờ học Luyện từ và câu trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả hơn.
11
- Chất lượng giờ học được nâng lên: tỉ lệ học sinh hiểu bài, phát biểu bài nhiều
hơn, chính xác hơn.
- Học sinh tích cực, chủ động hơn trong giờ học.
Lớp áp dụng các biện pháp
Lớp 5C
Lớp không áp dụng các biện pháp
Lớp 5B
12
HS dùng
HS dùng từ,
T
S
đặt câu
HS biết HS
chính xác,
dùng từ biết dùng từ
vận dụng
đặt câu
từ, đặt câu
biết HS chưa biết
từ dùng từ đặt
câu
21
5
- Qua bảng tổng hợp so sánh và trong quá trình làm đề tài tôi đã áp dụng những
biện pháp đã nêu trên với học sinh lớp 5C do tôi phụ trách và thấy được sau mỗi
biện pháp áp dụng vào thực tế giảng dạy, các em tiếp thu bài nhanh hơn 100%
học sinh lớp 5C nắm chắc cấu tạo của thể loại bài lý thuyết hay dạng bài thực
hành, tiết học đã gây được hứng thú học tập cho học sinh.
Đến cuối năm học, tổng số 36 học sinh đã có tới trên 80% các em đạt điểm 7
trở lên trong khi số bài điểm dưới 5 không còn nữa kết quả được thể hiện qua
bài kiểm tra cuối kỳ II môn Tiếng Việt .Cụ thể:
TSHS
36
Điểm 9&10
L
TL
17 47,2%
Điểm 7&8
SL
TL
14 38,9%
cần phải có các điều kiện sau:
*Nhà trường:- Tạo điều kiện về thời gian, đồ dùng, tranh ảnh , máy chiếu phục vụ
cho giảng dạy tốt hơn. Tạo điều kiện về cơ sở, vật chất để có những phòng học
thoáng mát, bàn ghế đủ quy cách…
* Giáo viên:- Phải chuẩn bị bài thật chu đáo trước khi đến lớp. Tìm hiểu mối
liên quan giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, đồng thời chuẩn bị những tình
huống và đồ dùng cần thiết cho tiết dạy.
- Thường xuyên học tập rèn luyện phát huy vốn từ ngữ và thay đổi phương pháp
giảng dạy phù hợp nhằm nâng cao hứng thú học tập của các em
- Liên hệ với phụ huynh để có biện pháp kèm các em học ở nhà.
*Học sinh:- Học sinh cần có ý thức tự thực hiện tốt những bài giao về nhà.Có ý
thức học và chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, sách vở cần thiết trước khi lên lớp.
*Phụ huynh:- Phụ huynh cần quan tâm đến con em mình nhiều hơn, kiểm tra,
đôn đốc việc tự học ở nhà của các em thường xuyên, liên tục. Mua đủ sách vở,
đồ dùng học tập cho con em mình, mua thêm báo, truyện để các em đọc.
10. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến:
10.1 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
Sau khi điều tra, tìm giải pháp và áp dụng thực hành sáng kiến của mình trong
quá trình giảng dạy tôi nhận thấy:
Sau mỗi tiết dạy Luyện từ và câu, tôi cảm thấy lòng mình thanh thản và tự tin
khi học sinh học tập tích cực chủ động, sáng tạo, ngày càng tiến bộ. Bản thân
không còn cảm thấy ái ngại và khó khăn mỗi khi dạy phân môn Luyện từ và câu.
Việc dạy tốt phân môn Luyện từ và câu là động lực để tôi dạy tốt những môn
học khác.
14
* So với các biện pháp dạy học trước đây tôi đã từng áp dụng và so sánh với lớp
khác không áp dụng thì nay với việc áp dụng các biện pháp dạy học này triệt để
vận dụng
đặt câu
21
15
chính xác,
vận dụng
đặt câu
viết văn
viết văn hay
36
từ, đặt câu
0
35
hay
9
HS
dùng
đặt câu
ht hc sinh u ham thớch v hng thỳ hc tp phõn mụn ny.
- Kt qu hc tp ca hc sinh phõn mụn Luyn t v cõu qua cỏc kỡ kim tra
c nõng lờn mt cỏch rừ rt. n cui nm hc nú ó gúp phn vo thnh tớch
hc tp ca cỏc em v thnh qu hc tp v rốn luyn ca cỏc em c cỏc thy
cụ giỏo v nh trng cụng nhn kt qu cui nm hc v thnh tớch ca tp th
v cỏ nhõn c th nh sau:
* Kt qu cui nm hc lp tụi ó t c nhng thnh tớch ỏng k sau:
- Gii toỏn bng ting Anh qua mng cp trng: 2 em
- Gii toỏn bng ting Anh qua mng cp cp huyn: 1 em
- Môn học, hoạt động giáo dục( kiến thức, kỹ năng): Hon
thnh:36 em = 100%
- Mức độ hình thành và phát triển năng lực: t: 36 em = 100%
- Mc hỡnh thnh v phỏt trin phm cht: t: 36 em = 100%
- Hc sinh c khen: 28 em t: 77,7%
- Hc sinh hon thnh chng trỡnh Tiu hc: 36 em t 100%
11. Danh sỏch t chc, cỏ nhõn ó tham gia ỏp dng sỏng kin
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
Lp 5C
Lp 5C
16
Phm vi/Lnh vc
ỏp dng sỏng kin
Phõn mụn LT&C Lp 5
Phõn mụn LT&C Lp 5
Phõn mụn LT&C Lp 5
Phõn mụn LT&C Lp 5
Phõn mụn LT&C Lp 5
Phõn mụn LT&C Lp 5
Phõn mụn LT&C Lp 5
Phõn mụn LT&C Lp 5
Phõn mụn LT&C Lp 5
Phõn mụn LT&C Lp 5
Phõn mụn LT&C Lp 5
Phõn mụn LT&C Lp 5
Phõn mụn LT&C Lp 5
Lớp 5C
Phân môn LT&C Lớp 5
14
Dương T Lan Hương
Lớp 5C
Phân môn LT&C Lớp 5
15
Bùi Thị Diệu Linh
Lớp 5C
23
Dương T Như Quỳnh
Lớp 5C
Phân môn LT&C Lớp 5
24
Lớp 5C
Phân môn LT&C Lớp 5
Dương Tuyết Quỳnh
25
Lớp 5C
Phân môn LT&C Lớp 5
26
Trần Văn Sơn
Lớp 5C
Phân môn LT&C Lớp 5
27
Nguyễn Gia Sinh
Lớp 5C
Phân môn LT&C Lớp 5
28
Nguyễn Văn Toàn
Lớp 5C
Phân môn LT&C Lớp 5
29
Dương Viết Thạo
Lớp 5C
Phân môn LT&C Lớp 5
30
Nguyễn Công Thành
Lớp 5C
Hương Sơn nói riêng và sự nghiệp giáo dục của huyện Phú Bình nói chung
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hương Sơn,ngày.....tháng 5.năm2016
Thủ trưởng tổ chức, đơn vị
Hương Sơn, ngày 25 tháng 5 năm 2016.
Tác giả sáng kiến
Nguyễn Thị Vân Anh
17
18