Một số biện pháp để dạy tốt phân môn luyện từ và câu lớp 3a - Pdf 41

Một số biện pháp để dạy tốt phân môn luyện từ và câu Lớp 3A
MỤC LỤC
Contents

LỜI NÓI ĐẦU
Môn học này tưởng chừng như khô khan nhưng nếu những ai yêu thích dạy
môn học này thì đây lại là môn học khá hấp dẫn và mang lại nhiều ích lợi cho
học sinh. Sự yêu thích môn học được tạo bởi nhiều cách khác nhau và có một lý
do không thể phủ nhận đó là từ người giáo viên trực tiếp giảng dạy các em. Từ
những bài giảng hấp dẫn và sự tận tụy của người giáo viên,học sinh sẽ hứng thú
học tập tốt,tạo cho các em niềm say mê môn học. Từ sự say mê,hứng thú học tập
chất lượng học tập môn học sẽ được nâng cao. Từ đó các tiết học của các em sẽ
trở nên tự nhiên, sáng tạo, có hiệu quả. Xuất phát từ những suy nghĩ trên, tôi
mạnh dạn đưa ra “Một số biện phápđể dạy tốt phân môn Luyện từ và câu Lớp
3A Trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân”.
Mặc dù tôi đã cố gắng nhiều song chắc rằng đề tài vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi
kính mong được sự góp ý của quý thầy cô giáo để đề tài được hoàn thiện
hơn.Tôi xin chân thành cảm ơn.


PHẦN MỞ ĐẦU :
1.1 Lý do chọn đề tài :
Ở bất kì một quốc gia nào cũng vậy, môn học về tiếng phổ thông là một môn
học quan trọng, nó chiếm một vị trí chủ yếu trong chương trình. Ở nước ta, trong
các tiết dạy môn Tiếng Việt, giáo viên cung cấp cho học sinh những tri thức
khoa học về ngôn ngữ, từ các loại câu và các dấu câu,phong cách học Tiếng
Việt.
Trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học, luyện từ và câu được tách thành
một phân môn độc lập, nó có vị trí quan trọng như các phân môn khác như : Tập
đọc, Chính tả, Tập làm văn... Song ở lớp 3 tiết học dành cho phân môn này rất ít
(Chỉ có một tiết /tuần). Vì vậy giáo viên phải biết bổ sung vào một tiết buổi

- Đề xuất một số biện pháp và kinh nghiệm dạy học phân môn luyện từ và câu ở
lớp 3, Trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân.
- Biết áp dụng các biện pháp đã đề xuất vào quá trình giảnh dạy phân môn luyện
từ và câu.


1.3. Đối tượng nghiên cứu :
Đề tài được thực hiện khảo sát trên đối tượng học sinh lớp 3, Trường Tiểu học
Nguyễn Viết Xuân, Thị trấn EaPôk, huyện CưMgar, Đắc Lắc , năm học 20132014và năm học 2014-2015.
1.4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu :
- Học sinh lớp 3, Trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân
- Chương trình phân môn luyện từ và câu lớp hai và lớp ba.
1.5. Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp giảng giải
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực nghiệm

II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Nói và viết là điều không xa lạ đối với bất cứ người nào, song nó lại hết sức
phức tạp, dùng từ và câu để nói, viết thế nào cho đúng, cho hay là một việc
không phải dễ. Chính vì điều này nên luyện từ và câu được đánh giá là phân
môn khó trong môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Khi học luyện từ và câu người
học phải vận dụng tổng hợp rất nhiều kiến thức và kĩ năng đã có ở những lĩnh


vực, những phạm vi khác nhau vào thực hiện các nhiệm vụ học tập. Dạy luyện
từ và câu ở lớp ba, người giáo viên phải thực hiện được các nhiệm vụ như sau:
1. Mở rộng vốn từ theo các chủ điểm trong Sách giáo khoa.Đây là vốn từ cần

- Phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình nên sách vở ,đồ dùng
học tập đầy đủ.
- Các em đã được làm quen với phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 và có nhiều
kiến thức liên quan ở lớp 2 nên các em học tập có phần tự tin hơn.
* Khó khăn :
+ Đối với giáo viên :
-Hình thức để dạy một tiết luyện từ và câu còn đơn điệu, thiếu sáng tạo, chưa
thực sự sinh động cuốn hút học sinh.
- Trình độ của giáo viên chưa đồng đều, lượng kiến thức của phân môn trong
một tiết dạy còn nhiều bài tập. Khiến người dạy đôi lúc không muốn sử dụng
nhiều phương pháp mới như vấn đáp, gợi mở... Vì mất nhiều thời gian,từ đó dẫn
đến việc giáo viên nói nhiều,làm việc nhiều dẫn đến hoạt động của cô,trò đôi lúc
chưa nhịp nhàng. Học sinh chưa chưa phát huy hết tính tích cực trong học tập.


- Giáo viên chưa có sách tham khảo thêm cho phân môn Luyện từ và câu.Phân
môn luyện từ và câu là một phân môn khó, kiến thức,khái niệm trừu tượng là
một phân môn có ít đồ dùng trực quan nhất vì thế càng làm cho giáo viên gặp
trở ngại trong giảng dạy nên hiệu quả tiết dạy chưa cao.
+ Đối với học sinh :
-Khả năng nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức trong quá trình học tập còn yếu.
- Các từ cần giải nghĩa đa số là từ Hán Việt nên học sinh khó hiểu, khó giải
nghĩa.
- Các từ, các thành ngữ, tục ngữ cần giải nghĩa, cần tìm có nghĩa gần giống
nhau, khiến cho học sinh khó phân biệt nghĩa của chúng.
- Ranh giới giữa các từ hoặc từ trong tiếng việt không mang tính xác định,
không dễ nhận biết nên các em còn thiếu tự tin khi học phân môn này.
b. Thành công – hạn chế:
Sau một thời gian áp dụng những kinh nghiệm của bản thân vào các tiết dạy
luyện từ và câu. Tôi đã nhận thấy hiệu quả các tiết dạy có chuyển biến tốt. Các

b.Nội dung và cách thực hiện biện pháp, giải pháp :


- Từ thực tế trên, tôi nhận thấy để thực hiện tốt yêu cầu đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh làm
cho giờ học Luyện từ và câu trở nên “nhẹ nhàng hơn , tự nhiên hơn , chất
lượng hơn” theo hướng dẫn nhiệm vụ dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Qua quá trình nghiên cứu, tôi thấy để nâng cao chất lượng dạy phân môn Luyện
từ và câu và nâng cao chất lượng học của học sinh, người giáo viên cần phải
thực hiện tốt những biện pháp sau:
Biện pháp 1: Giáo viên cần nắm vững những nội dung cần dạy học cho học
sinh trong từng tiết học cũng như nội dung của bộ môn xuyên suốt năm
học:
Các dạng bài tập về từ : Học sinh tìm được từ và hiểu nghĩa của từ, các bài tập
về từ có mục đích mở rộng vốn từ, và cách dùng từ, rèn cách sử dụng từ trong
giao tiếp.
Ví dụ: Bài tập 2 trang 89 tập 1. Bài “ Mở rộng vốn từ quê hương” muốn làm
được bài tập này học sinh phải biết rõ nghĩa và cách dùng từ quê hương và các
từ khác đã cho.
Các dạng bài tập về các kiểu câu: Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? Học sinh phải
nhận diện tìm câu theo từng kiểu câu trong đoạn văn.
Ví dụ : Bài tập 3 bài “ Mở rông vốn từ quê hương” trang 90 tập 1.Yêu cầu học
sinh tìm những câu trong đoạn văn được viết theo mẫu Ai làm gì? Giáo viên
hướng dẫn học sinh cần tìm được câu như : “Cha làm cho tôi chiếc chổi cọ để
quét nhà,quét sân”.


Hướng dẫn học sinh tìm từng bộ phận của câu thuộc các kiểu câu trên, yêu cầu
học sinh chỉ ra mỗi bộ phân câu trả lời câu hỏi : Ai? hoặc làm gì? Học sinh cần
tìm bộ phận trả lời câu hỏi Ai? (là cha), và bộ phận trả lời câu hỏi Làm gì ? là

êm,lo cho người ngủ đó chính là những từ ngữ nhân hóa đom đóm,từ đó học
sinh có thể viết được các câu văn có hình ảnh nhân hóa cho các con vật,sự vật
khác.
-Học sinh nêu được tác dụng của nhân hóa: làm cho câu văn sinh động hơn từ đó
để vận dụng khi nói và viết văn.
-Tập đặt câu có dùng nhân hóa:
Ví dụ: Bài tập 2 trang 127 tập 2. Yêu cầu học sinh viết đoạn văn miêu tả bầu trời
sáng sớm hoặc vườn cây, trong đó dùng nhân hóa.
Ví dụ: Trong đoạn văn tả vườn cây có học sinh đã viết : ( Những bác nhãn cao
tuổi,da đã nhăn nheo. )
Như vậy học sinh đã biết viết những câu có hình ảnh nhân hóa trong đoạn
văn.Khi học sinh làm xong các bài tập cần cho học sinh tự đọc lại lời giải, tự
nhận xét kết quả để nắm chắc kiến thức và kĩ năng,rút kinh nghiệm cho các bài


tập khác.Các bài tập về cùng một vấn đề thường được lặp lại trong quá trình học
và cả dạng bài tập cũng thường được lặp lại. Cho nên nếu làm tốt và nắm chắc
kiến thức,kĩ năng,cách làm ở một,hai lần đầu thì có điều kiện thuận lợi để có thể
làm được các bài tập cùng dạng hoặc về cùng vấn đề ở những lần sau.Muốn đạt
được những điều trên giáo viên phải nắm chắc kiến thức không chỉ kiến thức ở
lớp ba mà còn nắm chắc kiến thức ở lớp hai học sinh đã được cung cấp.Từ đó
chất lượng học tập phân môn luyện từ và câu sẽ được nâng cao.
Biện pháp 2: Thường xuyên tạo ra những tình huống có vấn đề trong tiết
học,từ đó gây cho học sinh những bất ngờ thú vị khi học phân môn này.
Ví dụ 1: Khi dạy bài so sánh trang 42,tập 1 tôi đố học sinh câu hỏi Cái dấu hỏi
giống như cái gì? (Học sinh trả lời: Cái dấu hỏi như vành tai nhỏ). Từ đó tôi giới
thiệu cho học sinh biết đây là câu có hình ảnh so sánh bài học hôm nay các em
sẽ được học bài “So sánh”.
Ví dụ 2: Khi dạy bài Luyện từ và câu: Bài So sánh - dấu chấm trang 24 tập
1.Trước khi vào bài tập 3: Đặt dấu chấm thích hợp trong đoạn văn và viết hoa



cao.Vì thế tôi thường thay đổi các hình thức tổ chức học tập.Khi thì hoạt động
nhóm đôi, nhóm 4, khi hoạt động cá nhân. Khi tổ chức trò chơi học tập.
Ví dụ: thi đua giữa các nhóm xem nhóm nào tìm được nhiều từ đúng và
nhanh.Khi hoạt động nhóm 4 các nhóm thường được thay đổi vị trí.Ví dụ: 2 em
bàn trước và 2 em bàn sau quay mặt về nhau, khi thì phát ra những bông hoa có
4 màu (Xanh,đỏ,tím,vàng) giáo viên yêu cầu những em có cùng màu hoa với
nhau vào cùng một nhóm và học sinh sẽ rất hứng thú thi đua học tập khi được
ghép nhóm theo hình thức này.
Hoạt động nhóm đôi : Khi thì cho 2 em ngồi cùng bàn, khi thì cho em bàn trên
ngồi quay mặt với em bàn dưới, khi thì đánh số theo em số 1 và số 2 theo tường
tổ và những em số 1 ở tổ này ghép với em số 1 ở tổ kia, làm tương tự với các em
số 2.3...
Biện pháp 5: Thường xuyên sử dụng phương pháp trò chơi học tập:
-Học tập thông qua trò chơi là phương pháp có hiệu quả cao trong dạy học phân
môn Luyện từ và câu.Trò chơi học tập không chỉ nhằm vui chơi giải trí mà còn
góp phần củng cố kiến thức, kĩ năng học tập cho học sinh
- Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động hấp dẫn học sinh, nó
tạo cho các em ghi nhớ sâu hơn kiến thức vừa được học.
- Trò chơi học tập là hình thức tổng hợp trí tuệ giữa các đội chơi, đã tổ chức chơi
thì đội nào cũng muốn giành chiến thắng nên các em đều cố gắng hết mình vì
vậy kết quả học tập sẽ được nâng cao.


- Việc sử dụng trò chơi học tập làm cho tiết học giảm bớt phần khô khăn tăng
thêm phần sinh động,hấp dẫn. Những bài tập tổ chức chơi trò chơi thường là các
bài tập cuối tiết hoặc các bài tập dưới dạng củng cố mở rộng kiến thức nó
thưởng diễn ra khoảng 5 đến 6 phút.
Ví dụ : Tiết luyện từ và câu bài so sánh trang 42,tập 1.Chia 3 đội chơi mỗi đội 3

Luyện từ và câu tiết học thành công một phần do giáo viên sử dụng kết hợp
nhiều giải pháp khác nhau từ đó phát huy được lợi thế của từng giải pháp để
hiệu quả tiết dạy tốt. Nhiều tiết dạy thành công sẽ góp phần nâng cao chất lượng
phân môn Luyện từ và câu cũng như các phân môn khác.
e. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu:
Với những biện pháp trên, qua gần 2 năm thực hiện ở lớp 3A, trường Tiểu học
Nguyễn Viết Xuân, tôi nhận thấy :
-Tiết học Luyện từ và câu trở nên tự nhiên, hiệu quả hơn.
- Chất lượng các tiết dạy được nâng lên rõ rệt. Học sinh chủ động,sáng tạo trong
việc lĩnh hội kiến thức mới.


- Các em đã bộc lộ được trí tuệ, tài năng của mình trong khi làm các bài tập,
dạng trò chơi, câu đố…
- Vốn từ ngữ của học sinh trở nên phong phú hơn. Khả năng diễn đạt khi nói và
viết văn tốt hơn.
- Khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ đã tương đối thành thạo, các em rất tự nhiên
trong giao tiếp đó là một trong những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống.
II.4. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC QUA KHẢO NGHIỆM, GIÁ TRỊ KHOA
HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Trong quá trình vừa nghiên cứu vừa áp dụng vào thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy
những biện pháp được áp dụng đã cho kết quả khả quan. Trước khi thực hiện
sáng kiến và sau mỗi kì học, tôi lại ra đề khảo sát để kiển tra kết quả và thu được
như sau :
NĂM HỌC 2013- 2014
SĨ SỐ : 26

TRƯỚC KHI ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CHẤT LƯỢNG KSĐN NHƯSAU
Xếp loại Giỏi


Khá

TB

Giỏi

Khá

TB

9/26

11/26

6/26

10/26

13/26

3/26

34,6%

42,3%

32,1%

38,5%


2/19

19/19

0/19

36,8%

52,6%

10,6%

100%

0%

loại
Số
lượng
Tỉ lệ %

Kết quả trên đã chứng minh các biện pháp tôi áp dụng là có hiệu quả. Hiện nay
tôi vẫn tiếp tục thực hiện và phát huy những mặt đã đạt được và khắc phục
những mặt còn tồn đọng để chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu ngày
một tốt hơn.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.


III.1. Kết luận :


STT Tên tài liệu

Tên tác giả hoặc nhà xuất bản

1

Sách Tiếng Việt lớp 3

NXB Giáo dục

2

Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 3

NXB Giáo dục

3

Sách nâng cao Tiếng Việt 3

NXB Giáo dục

4

Luyện từ và câu Tiếng Việt 3

Nhà xuất bản Đại học Sư phạm

5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status