TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA CHÍNH TRỊ HỌC
TIỂU LUẬN
Môn: Quyền lực Chính trị
ĐỀ TÀI: NÂNG CAO VỊ TRÍ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI DÂN
TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Học viện thực hiện: Nguyễn Thị Hòa
Hà Nội - 2011
1
1. Những quan niệm về vai trò của người dân trong phòng, chống
tham nhũng
Tham nhũng là căn bệnh của quyền lực, nó gắn liền với việc thực thi quyền
lực nhà nước trong đời sống xã hội. Ngày nay, khi mà xã hội càng tiến bộ, văn
minh, những giá trị dân chủ được nhiều quốc gia theo đuổi thì tham nhũng dường
như lại đang là lực cản của quá trình tiến bộ, dân chủ đó. Nó làm cho dân chủ
được thực thi một cách hình thức, cắt xén; sự tham gia của người dân vào quản lý
nhà nước hay nhưng câu nói mang tính tuyên ngôn như “quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân”, “chủ quyền nhân dân” trở nên mang tính phong trào, hô hào,
khẩu hiệu; còn trên thực tế thì lại diễn ra tình trạng ngược lại: người dân ủy
quyền nhưng bị mất quyền, bởi họ đã trao nhầm quyền cho những người thực thi
quyền lực.
Từ những giải thích về nguồn gốc ra đời và bản chất của quyền lực công,
quyền lực nhà nước nói riêng, có thể thấy rõ mối quan hệ giữa quyền lực nhân dân
và quyền lực nhà nước, theo đó người dân trao quyền cho nhà nước để nhà nước
thế hơn so với những người đại diện cho họ trong thực thi quyền lực. Chính vì
vậy, khi có những việc liên quan đến chính quyền, họ không những phải cầu
cạnh, xin xỏ các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết, mà còn phải “bôi
trơn”, hối lộ, đáp ứng sự nhũng nhiễu, đòi hỏi của các quan chức để được hưởng
sự “phục vụ” từ phía chính quyền mà đáng ra họ có quyền được hưởng. Trước
bức xúc về tình trạng tham nhũng, trong dân đã hình thành những cách nói mỉa
mai về bộ máy nhà nước, họ cho rằng các cơ quan hành chính không còn là
những cơ quan phục vụ dân nữa, mà đó là các cơ quan “hành dân là chính”, các
cán bộ tham nhũng là những “vật sống ký sinh” trên cơ thể nhân dân.
Vậy tại sao cuộc đấu tranh với tham nhũng ở Việt Nam lại không đem đến
kết quả như mong muốn? Những nỗ lực chống tham nhũng từ phía nhà nước và
người dân đều thất bại?
Thứ nhất, so với các loại quyền lực khác, quyền lực nhà nước có sức mạnh
cưỡng chế hợp pháp thông qua một bộ máy đồ sộ với những công cụ, phương
tiện mà luật pháp quy định. Những cán bộ, công chức tham nhũng là những
người nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước, họ nắm trong tay các công cụ
cưỡng chế hợp pháp, trong khi đó người dân thường không có hoặc có rất ít các
công cụ, phương tiện đủ sức mạnh để đối phó với những người có quyền lực.
3
Chính vì vậy, khi hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức bị phát hiện, những
kẻ tham nhũng không từ một thủ đoạn nào để bảo vệ bản thân mình, sẵn sàng sử
dụng tối đa thẩm quyền, các công cụ cưỡng chế và tất cả những gì họ có trong tay
để đối phó, áp chế với những người dân dám đấu tranh chống lại họ. Đó là chưa
kể đến một số vụ tham nhũng lớn, sự cấu kết giữa các quan chức rất chặt chẽ và
khó phá vỡ, vì nếu “anh chết thì tôi cũng chết” và cách tốt nhất để tồn tại là
“chúng ta phải bảo vệ lẫn nhau”, trong khi đó sự liên kết giữa những người dân
trong cuộc chiến chống tham nhũng là rất lỏng lẻo và dễ vỡ bởi nó mang tính tự
phát, và sự gắn kết về lợi ích của người dân trong đấu tranh chống tham nhũng
bé thì người dân, với tư cách là cá nhân hay một vài người, rất khó mà chiến
thắng được những kẻ tham nhũng, và trong các cuộc chiến đó thì người dân
thường nhận những thất bại về mình. Nhiều vụ án tham nhũng được phát hiện và
xử lý trong thời gian qua đã cho thấy rất rõ điều này.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là người dân luôn bất lực với cuộc
chiến chống tham nhũng trong mọi hoàn cảnh. Trong xã hội, nếu quyền làm chủ
của nhân dân chỉ được ghi nhận trong các văn bản pháp lý mà không được thực
thi trên thực tế; nền dân chủ không có những cơ chế để người dân dễ dàng thực
hiện quyền làm chủ của mình, trách nhiệm của nhà nước không được giải trình rõ
ràng và cụ thể, thì đó là mảnh đất tốt cho sự tha hóa quyền lực và gia tăng tham
nhũng, và những nỗ lực chống tham nhũng từ phía người dân là điều không thể.
Còn trong các xã hội mà quyền làm chủ của người dân được tôn trọng và bảo vệ,
phương thức thực thi dân chủ đơn giản, thuận tiện cho người dân; sự ràng buộc
của chính quyền đối với người dân được đảm bảo bằng cơ chế trách nhiệm pháp
lý rõ ràng,… thì ở đó tính tích cực của người dân trong phòng, chống tham nhũng
được phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả, bởi trong các xã hội đó quyền lực được
xác định là công cụ để phục vụ dân chứ không phải là cái để các quan chức dựa
vào đó để đòi hỏi.
Thực tiễn đã cho thấy, lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử đấu
tranh cho quyền tự do, dân chủ. Sự tiến bộ của một chế độ xã hội phải dựa trên sự
tham gia rộng rãi của người dân vào các quá trình chính trị, vào các quyết định
của đất nước. Vì vậy, việc mở rộng và phát huy dân chủ với tư cách là một kênh
để kiểm soát quyền lực ở nước ta là một việc làm hết sức cần thiết trong cuộc
chiến chống tham nhũng.
5
Ngày nay, chúng ta đang đẩy mạnh quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; phát huy dân chủ được xác định vừa là
mục tiêu, vừa là động lực mạnh mẽ của quá trình cải cách về chính trị, chính vì
nhà nước. Khi dân chủ được phát huy mạnh mẽ, tự nó sẽ là liều thuốc kháng sinh
hết sức hiệu quả trong việc chữa trị tận gốc các căn bệnh của nhà nước, làm cho
cơ thể nhà nước trở nên khỏe mạnh hơn.
Tuy nhiên, việc phát huy dân chủ phải đảm bảo giữ vững sự ổn định chính
trị, xã hội. Dân chủ, với vai trò là phương thức kiểm soát quyền lực, phải được
thực hiện trên tinh thần xây dựng chứ không phải là sự chống đối, gây rối. Vì vậy,
để dân chủ không bị lợi dụng vào những mục đích xấu, cần trừng trị nghiêm khắc
những hành vi lợi dụng dân chủ để gây rối, kích động nhân dân chống phá đất
nước.
Hiện nay, trong tư tưởng, tâm lý của không ít các nhà lãnh đạo, các chính
khách hiện nay tồn tại những mâu thuẫn về vấn đề thực thi dân chủ. Một mặt, họ
muốn thực thi các giá trị dân chủ trong xã hội, tạo điều kiện để người dân tham
gia vào các công việc của nhà nước; mặt khác, họ lại e ngại nếu dân chủ được
phát huy thì những khuyết tật của bộ máy, những sai lầm của công chức sẽ bị
phát hiện và tạo nên hình ảnh không tốt trong xã hội. Theo cách hiểu như vậy thì
dân chủ tức là trang bị cho người dân phương tiện, công cụ để chống lại chính
quyền, cản trở, gây khó khăn cho chính quyền. Chính những tư tưởng, cách nghĩ
như vậy đã làm cho quá trình dân chủ hóa bị chậm lại, làm cho những ý tưởng
dân chủ chỉ tồn tại một cách hình thức. Những giá trị về dân chủ được tuyên
truyền, còn việc thực thi dân chủ thì lại bị hạn chế. Vì vậy, để dân chủ được mở
rộng và phát huy tối đa thì những nhận thức như trên cần phải được xóa bỏ.
2. Địa vị pháp lý của người dân trong việc tham gia đấu tranh với nạn
tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền
XHCN của dân, do dân, vì dân, Nhà nước đã ban hành rất nhiều đạo luật và văn
bản quy phạm dưới luật nhằm cụ thể hóa quyền làm chủ của người dân trên
những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Đó cũng là tất yếu của quá trình
dân chủ hóa nhằm tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để người dân thực hiện
quyền làm chủ thực sự của mình, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch và hiệu
quả, phục vụ tốt trước đòi hỏi của xã hội và nhu cầu của nhân dân.
1- Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính,
hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền
8
trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi
đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân, cơ quan, tổ chức.
Như vậy, Luật phòng, chống tham nhũng và Luật Khiếu nại, tố cáo đã cụ
thể hóa quy định của Hiến pháp, coi việc khiếu nại, tố cáo là quyền Hiến định của
công dân. Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân thực chất là quyền dân chủ trực
tiếp để người dân tham gia quản lý nhà nước và đấu tranh với nạn tham nhũng.
Đó cũng là công cụ để người dân tự bảo vệ mình và bảo vệ lợi ích chung của xã
hội khi bị các quan chức xâm phạm. Bằng các quyền đó, người dân giám sát hoạt
động của các cơ quan nhà nước trong việc thực thi quyền lực nhà nước, góp phần
hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và xã hội.
Với sự ra đời của những Luật này đã trang bị cho người dân những khung
pháp lý cơ bản để chống tham nhũng và các sai phạm trong hoạt động của bộ
máy nhà nước. Nội dung của những quy định này xác định việc chống tham
nhũng, tiêu cực không chỉ là trách nhiệm của riêng hệ thống chính trị, bộ máy
nhà nước, mà còn là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước là của dân, do
dân, vì dân thì trước hết nhân dân phải là người có quyền và trách nhiệm trong
việc xây dựng bộ máy nhà nước thật tốt để phục vụ mình.
Vậy tại sao người dân phải là lực lượng tiên phong trong cuộc chiến chống
tham nhũng?
Thực tế cho thấy người dân luôn là nạn nhân trực tiếp của các hành vi tham
nhũng, tiêu cực từ phía nhà nước. Khi tham nhũng, tiêu cực xảy ra, hậu quả đầu
việc công khai, minh bạch hóa hoạt động của nhà nước được coi là cơ chế hữu
hiệu để người dân giám sát và phát hiện các hành vi tham nhũng. Đó cũng là cách
thức chống tham nhũng đang được phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, bởi vì:
- Công khai, minh bạch còn là biện pháp hữu hiệu nhằm phòng ngừa các
hành vi sai trái, tiêu cực, các biểu hiện làm sai lệch, suy giảm hiệu quả hoạt động
của bộ máy nhà nước
10
- Công khai, minh bạch là một trong những tiền đề, điều kiện quan trọng để
nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, thúc đẩy sự tham gia của người dân
vào đời sống chính trị đất nước
- Công khai, minh bạch là cơ sở đảm bảo tính trách nhiệm của chính quyền,
là yêu cầu nội tại, xuất phát từ bản chất và là một trong những chuẩn mực hoạt
động của bộ máy nhà nước, có vai trò tích cực góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu
quả của bộ máy nhà nước.
Như vậy, công khai, minh bạch hoạt động của bộ máy chính quyền là một
trong những đòi hỏi cần thiết của quá trình dân chủ hóa, và việc thực hiện điều
này trên thực tế cũng được coi là thước đo về trình độ phát triển của một nền dân
chủ. Nó có thể giúp tăng cường trách nhiệm chính trị của nhà nước và làm giảm
cơ hội cho những hành vi tiêu cực, tham nhũng.
Qua quan sát các văn bản pháp lý của nước ta, nhất là các văn bản pháp
luật liên quan đến phòng, chống tham nhũng, cũng cho thấy rõ xu hướng đòi hỏi
việc thiết lập các biện pháp công khai, minh bạch hóa hoạt động của chính quyền,
nhất là trong Luật phòng, chống tham nhũng và Luật khiếu nại, tố cáo. Chẳng
hạn, để người dân có cơ sở trong việc giám sát, phát hiện và ngăn ngừa tham
nhũng, Luật phòng, chống tham nhũng đã đưa ra nhiều quy định buộc các cá
nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải tiến hành công khai, minh bạch hóa
hoạt động của mình để nhân dân giám sát nhằm phòng ngừa tham nhũng như:
phải tích cực, chủ động để phối hợp cùng với nhà nước trong việc phát hiện và xử
lý tham nhũng. Nếu thiếu một trong hai điều này thì việc phòng, chống tham
nhũng sẽ giảm đi hiệu quả.
Thứ ba, nhận thức rằng phần lớn các vụ tiêu cực, tham nhũng xuất hiện
trong mối quan hệ giữa người dân và chính quyền ở cơ sở, do đó để người dân có
thể tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiệu quả thì phải bắt đầu từ cơ
sở, vì cơ sở chính là nơi mà chính quyền gần dân nhất, và những sai phạm của
chính quyền dễ bị người dân phát hiện nhất. Đó cũng là lý do để Pháp lệnh về
dân chủ cơ sở ra đời nhằm củng cố hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững
mạnh, tạo cơ hội để quyền làm chủ của người dân địa phương được phát huy
mạnh mẽ trong các sinh hoạt chính trị và đời sống cộng đồng.
Thực tiễn cho thấy, Pháp lệnh dân chủ cơ sở đã trao cho người dân nhiều
cơ hội để họ có thể trực tiếp thực hiện quyền làm chủ của mình ngay tại nơi họ
12
sinh sống và làm việc; hay nói cách khác, người dân được xác định là chủ thể
đích thực của đời sống chính trị cơ sở, còn chính quyền cơ sở cũng chỉ là công cụ
để giúp người dân trong việc thực hiện quyền dân chủ đó.
Với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, Pháp lệnh
dân chủ cơ sở đã đặt người dân vào vị trí trung tâm của đời sống chính trị cơ sở
nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng. Với các quy định cụ thể hóa
phương châm nêu trên, quyền làm chủ của người dân được xác định một cách tối
đa nhất và trở thành một công cụ mạnh nhất để thúc đẩy tính minh bạch cũng như
trách nhiệm của chính quyền và sự tham gia của người dân trong các hoạt động
chính trị-cộng đồng cơ sở, trong đó phòng, chống tiêu cực, tham nhũng cũng là
một nội dung trọng tâm của việc thực hiện các quyền dân chủ đó. Điều này thể
hiện ở các quy định sau:
Điều 5. Những nội dung công khai để nhân dân biết
1. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh
dung công khai
Điều 10. Nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp
Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây
dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ
dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc
khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều 13. Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết
1. Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố.
2. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
3. Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư
của cộng đồng.
Điều 19. Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến
1. Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế
mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã.
2. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều
chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã.
3. Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã;
chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ
tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư.
14
4. Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh
địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã.
5. Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của
pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền
cấp xã thấy cần thiết.
Điều 24. Hình thức để thực hiện việc giám sát của nhân dân
1. Nhân dân thực hiện việc giám sát thông qua hoạt động của Ban thanh tra
định thiếu tính khả thi, nhất là những quy định liên quan đến việc xác định vị trí,
vai trò của người dân trong phòng, chống tham nhũng. Chẳng hạn, khi đánh giá
về việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở, nhiều nghiên cứu thẳng thắn chỉ ra
rằng chúng ta chưa thực hiện Pháp lệnh này được bao nhiêu trên thực tế. Quy
định về lấy ý kiến nhân dân trước khi ban hàn các chủ trương, chính sách, các dự
án quan trọng về đầu tư cơ sở hạ tầng chưa được thực hiện nghiêm túc. Chưa có
cơ chế và tạo điều kiện để người dân giám sát các chương trình, dự án đầu tư,
việc công khai, minh bạch về tài chính, ngân quỹ, đấu thầu, mua bán vật tư, các
hợp đồng kinh tế, v.v.. vẫn còn hình thức, thiếu công khai, minh bạch, vì vậy
nhiều công trình để thất thoát vốn, chất lượng kém, hiệu quả thấp. Việc tổ chức
cho người dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể và góp ý cho cán
bộ, chủ chốt không ít nơi còn tiến hành hình thức, số lượng và thành phần tham
gia gop ý chưa nhiều. Đội ngũ cán bộ chủ chốt chưa thực hiện đối thoại trực tiếp
báo cáo kiểm điểm trước dân và nghe dân góp ý. Chế độ tự phê bình chưa được
thực hiện rộng rãi, chưa trở thành ý thức thường xuyên ở cơ sở. Vai trò giám sát
của đoàn thể, của ban thanh tra nhân dân chưa đủ mạnh, cơ chế hoạt động còn
mang tính bị động, sợ chính quyền, năng lực và trình độ của cán bộ còn nhiều
hạn chế, kết quả giám sát chưa cao.
Trong đánh giá việc thực thi Luật phòng, chống tham nhũng và Luật khiếu
nại, tố cáo, những hạn chế được chỉ ra cũng không ít. Chẳng hạn, các quy định về
công khai, minh bạch không được thực hiện hoặc thực hiện mang tính hình thức,
không đến nơi đến trốn; việc kê khai tài sản cũng mới chỉ mang tính hình thức,
làm mà như không; chế độ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, của người đứng
đầu khi xảy ra tham nhũng không rõ ràng, rất nhiều vụ tham nhũng được phát
hiện nhưng người đứng đầu không phải chịu trách nhiệm; chưa có cơ chế hiệu
quả để bảo vệ những người tích cực chống tham nhũng, làm cho họ bị trù dập,
16
mất mát những quyền lợi thiết thân, v.v…Trong thực hiện Luật khiếu nại tố cáo,
bản quy phạm pháp luật khác nhau, các nội dung cụ thể của các điều luật còn
chung chung, chồng cho, trùng lắp, thậm chí là mâu thuẫn nhau nên tạo ra rất
nhiều khó khăn cho nhân dân trong quá trình giám sát đối với tổ chức, cơ quan và
cán bộ Đảng, Nhà nước.
Chúng ta đã có Luật về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, Luật
Thanh tra Nhân dân, Pháp lệnh Thanh tra Chính phủ,…Đã đến lúc chúng ta cần
có một Luật quy định về quyền giám sát của nhân dân đối với việc thực thi quyền
lực nhà nước, bởi vì chính bộ luật này sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc, là điều kiện
để nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình. Nội dung của Luật giám sát của
nhân dân cần xác định rõ chủ thể, đối tượng, phạm vi, vị trí, tính chất, phương
thức, trình tự, thủ tục giám sát của nhân dân đối với việc thực thi quyền lực nhà
nước. Trên cơ sở đó xây dựng chương trình phối hợp giám sát giữa các cơ quan
nhà nước với hoạt động giám sát của nhân dân để đảm bảo quá trình giám sát
được đảm bảo hiệu quả, hợp lý, khoa học hơn.
Ba là, đa dạng hóa các hình thức giám sát mang tính xã hội để người dân
có thể thuận tiện hơn trong việc thực hiện quyền lực của mình, đấu tranh với các
hành vi tham nhũng.
Trong tâm lý chung của người dân, bình thường họ vẫn rất ngại tiếp xúc
với chính quyền, gặp gỡ trực tiếp các cán bộ, công chức nhà nước. Với họ, tiếp
xúc với chính quyền là thực sự phiền phức; chỉ khi những việc cần thiết và liên
quan trực tiếp đến bản thân mà luật pháp quy định (như khai sinh, khai tử, đăng
ký hôn nhân, làm sổ đỏ, xác nhận lý lịch,…) thì họ mới đến gặp các cơ quan có
thẩm quyền để giải quyết công việc. Còn khi bức xúc trước các hành vi tham
nhũng của cán bộ, công chức, người dân thường rất ngại “xuất đầu lộ diện” và
chia sẻ những bức xúc của họ trước cơ quan công quyền. Nguyên nhân của tình
trạng này, một phần là do trình tự thủ tục gặp người có thẩm quyền giải quyết là
quá phức tạp, những khiếu nại, tố cáo của họ phải chờ đợi quá lâu mới được giải
quyết; phần khác là tâm lý lo sợ bị trả thù cá nhân và làm liên lụy đến những
lãnh đạo. Nếu dụng chạm đến quyền lợi của cán bộ thì việc cung cấp thông tin sẽ
bị hạn chế và người cung cấp thông tin thường thông tin vòng vo.
Vì thông tin là cơ sở, là điều kiện cho hoạt động giám sát của người dân.
Do đó nếu không có thông tin thì cũng không có giám sát. Chính vì vậy, đã đến
lúc chúng ta cần có một bộ Luật về tiếp cận thông tin. Luật tiếp cận thông tin ra
19
đời sẽ tạo thêm cơ sở pháp lý vững chắc để cho người dân giám sát bộ máy công
quyền, hạn chế những tiêu cực, tham nhũng. Xây dựng Luật tiếp cận thông tin là
một bước thể hiện dân chủ, tiến bộ của nhà nước. Không thể dân chủ hóa, minh
bạch hóa hoạt động của các cơ quan nhà nước và thành công trong việc chống
tham nhũng trong tình trạng bưng bít thông tin.
Năm là, cần xây dựng cơ chế bảo vệ những người đấu tranh chống tham
nhũng, tiêu cực.
Trong quá trình ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật,
Nhà nước cũng đã chú ý đến việc xây dựng những quy định về bảo vệ nhân
chứng, chuyên gia và người tố giác trong các vụ án hình sự nói chung, các vụ án
về tham nhũng nói riêng, chẳng hạn:
Điều 7 Bộ Luật TTHS quy định: “Người bị hại, người làm chứng và những
người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến
tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ
theo quy định của pháp luật”
Khoản 3 Điều 55 Bộ luật TTHS quy định: “Người làm chứng có quyền yêu
cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản
và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng”
Khoản 3 Điều 7 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 quy định:
“Trong phạm vi, trách nhiệm của mình, cơ quan điều tra phải xem xét, giải quyết
tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, thông báo kết quả giải quyết cho
hành mà hậu quả của nó thậm chí còn đáng sợ hơn rất nhiều so với những gì mà
giặc ngoại xâm gây ra.
Để khuyến khích người dân phát hiện, tố cáo tham nhũng thì cần phải xây
dựng cơ chế bảo vệ chặt chẽ đối với những người chống tham nhũng, để làm cho
người chống tham nhũng có cảm giác và niềm tin rằng mình được bảo vệ, được
an toàn trước những hành vi đe dọa, bị trả thù khi tham gia vào việc phát hiện và
tố cáo tham nhũng. Đây là cái chúng ta đã quy định nhưng làm còn thiếu triệt để.
21
22