1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập,
doanh nghiệp nhỏ và vừa có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế
và xã hội, là khu vực doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong tạo
việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn lực
xã hội cho đầu tư phát triển và đóng góp vào ngân sách nhà nước.
Từ cuối năm 2007 cho đến nay, nền kinh tế nước ta chịu nhiều
ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế
toàn cầu nhưng số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới vẫn
tăng: tính hết năm 2009, gần 85.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập
mới, tăng gần 30% so với năm 2008. Sự phát triển tích cực của khu
vực doanh nghiệp nhỏ và vừa trong những năm qua đã góp phần cơ
bản tạo việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần ổn định tình
hình kinh tế, chính trị, an ninh xã hội.
Quảng Ngãi những năm gần đây dần trở thành một tỉnh có
sức hút mạnh đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Theo đó,
các doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập mới ngày càng tăng về
số lượng và qui mô đã góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế của tỉnh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Quảng Ngãi
cũng gặp phải những hạn chế và khó khăn mà các doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở Việt Nam gặp phải, đó là thiếu vốn, việc tiếp cận nguồn vốn
tín dụng và mặt bằng sản xuất khó, mối liên kết với các doanh nghiệp
lớn còn thấp, trình độ công nghệ lạc hậu, trình độ tay nghề của lao
động và đội ngũ quản lý còn yếu, khả năng tài chính hạn hẹp, khả
năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa thấp…Trong đó, thiếu vốn
2
để sản xuất và mở rộng sản xuất ảnh hưởng rất mạnh đến sự tồn tại
mại của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Quảng Ngãi.
3. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm gần đây, những vấn đề liên quan đến
doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm
nghiên cứu. Điều đó có thể thấy rõ qua khối lượng các tài liệu về
chuyên đề này rất dồi dào, đa dạng được công bố, từ các luật lệ của
Chính phủ, các chiến lược, chương trình phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa của quốc gia, đến các chính sách hướng dẫn, các công trình
nghiên cứu và các bài báo về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đối với địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi, đã có hai tác giả nghiên cứu về doanh nghiệp
nhỏ và vừa:
- Lê Xuân Lãm, Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi - Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ
Kinh Tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Ngô Minh Quỳnh Dao, Nâng cao khả năng tiếp cận được
nguồn vốn tín dụng ngân hàng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở
tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Mở
Thành phố Hồ chí Minh.
Tuy nhiên, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng
ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Quảng
Ngãi thì chưa có công trình nào, chưa có tác giả nào nghiên cứu đến.
Quảng Ngãi là một tỉnh có sức hút khá lớn đối với các nhà đầu tư, vì
vậy số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng tăng lên nhanh
chóng trong thời gian qua. Nhưng các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở
đây cũng giống như các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung ở nước
ta là đều thiếu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh và rất khó khăn
4
để tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Xuất phát từ thực tế
1.1.1. Tín dụng ngân hàng
1.1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là một quan hệ giao dịch về tài sản (tiền
hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay
chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất
định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và
lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.1.1.2. Các nguyên tắc của tín dụng ngân hàng: Bao gồm các
nguyên tắc: Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả vốn và
lãi; vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có
hiệu quả; vay vốn phải có bảo đảm.
1.1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của
doanh nghiệp: Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ hỗ
trợ sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp; thúc đẩy các doanh
nghiệp nâng cao hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn; tín dụng
ngân hàng là động lực kích thích các tổ chức kinh tế và dân cư trong
nước thực hiện tiết kiệm, thúc đẩy qúa trình tích tụ và tập trung vốn
tiền tệ; tín dụng ngân hàng tác động vào xu hướng chuyển dịch cơ
cấu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
1.1.2. Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.2.1. Khái niệm DNNVV: Trên thế giới, tiêu thức xác định
DNNVV thường là vốn, lao động, doanh thu ở một giới hạn nào đó.
Ở Việt Nam, Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của
6
Chính phủ doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký
kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu
nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình
quân năm được quy định cụ thể đối với từng lĩnh vực kinh doanh.
1.2.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng từ DNNVV: Bao gồm các yếu tố: Tài
sản đảm bảo; Khả năng lập kế hoạch kinh doanh; Khả năng trả nợ
của DN; Thông tin minh bạch; Vốn tự có của DN trong dự án; Trình
độ công nghệ của DN; Viễn cảnh ngành nghề sản xuất kinh doanh;
Lợi nhuận sau thuế của DN trong những năm gần đây; Quan hệ cá
nhân của DN.
1.2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng từ ngân hàng: Bao gồm các yếu tố:
Hồ sơ và thủ tục cho vay vốn của ngân hàng; Lãi suất cho vay của
ngân hàng.
CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1. Giới thiệu chung về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng
Ngãi và các tổ chức tín dụng trên địa bàn
2.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi
2.1.1.1. Tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh
bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 đạt 18,52%.
2.1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế của Tỉnh tiếp tục
chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp
– xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng khu vực nông - lâm nghiệp
và thuỷ sản.
2.1.2. Tình hình các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
8
2.1.2.1. Mạng lưới tổ chức tín dụng: Mạng lưới các tổ chức tín
dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi tăng lên qua các năm từ năm
2008 đến năm 2010. Tính đến nay đã có 17 chi nhánh tổ chức tín
dụng với hơn 75 phòng giao dịch, điểm giao dịch trên toàn tỉnh.
doanh
Khả năng trả nợ
Nhân
tố
thuộc
về
doanh
nghiệp
Thông tin minh bạch
Vốn tự có của DN trong dự án
Trình độ công nghệ của DN
Viễn cảnh ngành nghề SXKD
của DN
Lợi nhuận sau thuế của DN trong
những năm gần đây
Nhân
tố
thuộc
về
Ngân
hàng
Tín
dụng
ngân
hàng
thương
mại
310 bảng câu hỏi điều tra thu về, có 10 bảng bỏ trống quá nhiều mục,
60 bảng của các DN không tiếp cận ngân hàng xin vay vốn, do đó chỉ
sử dụng được 240 bảng đầy đủ thông tin. Nghiên cứu này sử dụng
240 bảng câu hỏi.
2.3.2.2. Phương pháp phân tích: Đề tài sử dụng phương pháp
thống kê mô tả và mô hình hồi quy Binary Logistic với
công cụ là trình ứng dụng Excell và phần mềm SPSS.
2.3.3. Phân tích thống kê mô tả
2.3.3.1. Mô tả mẫu khảo sát
- Loại hình DN: Theo kết quả thu thập thông tin cho thấy, trong 240
DN điều tra thì công ty TNHH chiếm tỷ lệ cao nhất (59,6%), kế đến
là DN tư nhân (27,5%), công ty TNHH (12,9%) .
- Lĩnh vực kinh doanh: Các DN hoạt động trong lĩnh vực công
nghiệp và xây dựng chiếm tỷ lệ cao nhất (44,6%), kế đến là lĩnh vực
11
thương mại – dịch vụ (30%) và cuối cùng là các DNNVV hoạt động
trong lĩnh vực Nông – Lâm nghiệp – Thủy sản (25,4%)
- Kết quả vay vốn của DN: Trong số 240 doanh nghiệp có tiếp cận
ngân hàng thương mại xin vay vốn, có 150 doanh nghiệp vay được
vốn và 90 doanh nghiệp không vay được vốn. Tỷ lệ vay được là
62,5%, không vay được là 37,5%. Loại hình doanh nghiệp vay được
vốn nhiều nhất là Công ty TNHH (62%). Kết quả khảo sát cũng cho
thấy loại hình ngân hàng thương mại mà doanh nghiệp vay vốn nhiều
nhất là ngân hàng thương mại nhà nước (chiếm tỷ lệ hơn 80%).
2.3.3.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng ngân hàng
thương mại đối với các DNNVV tỉnh Quảng Ngãi: Kết quả điều tra
về các nguyên nhân doanh nghiệp không vay được vốn tín dụng ngân
hàng thương mại cho thấy, các nguyên nhân doanh nghiệp không vay
thấy, khả năng trả nợ rất quan trọng đối với các doanh nghiệp khi vay
vốn tín dụng ngân hàng.
- Khả năng lập kế hoạch kinh doanh : Đây là một trong những yếu tố
được đánh giá là có ảnh hưởng mạnh đến khả năng vay vốn
TDNHTM của các DNNVV. Có 37,78% DNNVV trong số 90
DNNVV không vay được vốn TDNHTM trong cuộc điều tra không
vay được vốn vì không có khả năng lập dự án đầu tư, phương án kinh
doanh. Phỏng vấn sâu hơn cho thấy các DN có tiếp cận ngân hàng
thương mại xin vay vốn thường là thuê chuyên gia tư vấn lập dự án
từ bên ngoài (tỷ lệ 72,9%), điều này cho thấy phần lớn các DNNVV
ít có khả năng lập dự án đầu tư hoặc phương án kinh doanh.
- Thông tin minh bạch: Khi nộp hồ sơ xin vay vốn, các ngân hàng
thường yêu cầu người đi vay phải cung cấp các báo cáo tài chính.
Thực tế, các doanh nghiệp tư nhân thường chỉ sử dụng hệ thống tài
13
chính kế toán cho mục đích báo cáo thuế. Để tránh bị nộp thuế nhiều,
các DNNVV khi lập báo cáo tài chính để nộp cho cơ quan thuế
thường giảm chỉ tiêu doanh số và tăng chi phí để giảm thiểu lợi
nhuận. Khi xin vay tại các ngân hàng, các doanh nghiệp cũng dùng
các báo cáo tài chính này nộp cho ngân hàng, do đó thường bị ngân
hàng từ chối cho vay do có tình hình kinh doanh không có lãi, trong
khi trên thực tế doanh nghiệp kinh doanh rất hiệu quả. Trong tổng số
90 DNNVV không vay được vốn TDNHTM thì có hơn 61% doanh
nghiệp không vay được vốn xuất phát từ nguyên nhân tính minh bạch
của thông tin, kết quả này phản ánh các DNNVV vẫn chưa chú trọng
đến công tác kế toán.
- Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của DN thể hiện khả năng tự chủ
về tài chính của DN. Kết quả khảo sát cho thấy có 46,67% số doanh
sơ và thủ tục vay vốn là quá phức tạp và mất thời gian; 22,1% doanh
nghiệp thấy là phức tạp và mất thời gian, chỉ có hơn 5% số doanh
nghiệp điều tra thấy là đơn giản, nhanh chóng.
Các DNNVV không vay được vốn do không đáp ứng được
yêu cầu về hồ sơ, thủ tục vay vốn của ngân hàng là 10 DN, chiếm tỷ
lệ 11,11%. Như vậy, hồ sơ, thủ tục cho vay vốn của ngân hàng cũng
là một trong những nhân tố ảnh hưỏng đến tín dụng NHTM đối với
các DNNVV.
- Lãi suất cho vay của ngân hàng: Lãi suất thực tế của các khoản vay
ngân hàng thường rất cao do doanh nghiệp còn phải gánh chịu các lệ
phí của ngân hàng. Mặt khác, các DNNVV luôn phải chịu phần thiệt
hại về mình khi lãi suất tăng, ngân hàng sẽ ngay lập tức điều chỉnh
tăng lãi suất cho DN, nhưng khi lãi suất giảm thì các DNNVV
15
thường phải mất một khoảng thời gian mới được hưởng mức lãi suất
điều chỉnh giảm.
Kết qủa điều tra cho thấy đa số các doanh nghiệp đánh giá
mức lãi suất hiện nay là quá cao (66,7%); số các doanh nghiệp cho
rằng lãi suất cao chiếm tỷ lệ 31,3%; chỉ có 2,1% chấp nhận mức lãi
suất hiện nay là bình thường. Số DNNVV không vay được vốn do
không chấp nhận lãi suất cho vay mà ngân hàng đề nghị là 48 DN,
chiếm tỷ lệ 55,3%. Như vậy , có thể thấy, lãi suất vay vốn là một
nhân tố ảnh hưởng mạnh đến tín dụng NHTM của các DNNVV.
2.3.4. Phân tích hồi quy
2.3.4.1. Mô hình hồi quy
P (Y = 1)
Log
đến quyết định cho vay ở ngân hàng: Bằng cách vận dụng mô hình
hồi quy Binarry Logistic một lần nữa cho thấy khả năng vay vốn tín
dụng NHTM của các DNNVV chịu ảnh hưởng bởi 8 nhân tố
17
Khả năng
lập kế hoạch
kinh doanh
Tài sản
đảm bảo
Lãi suất
cho vay
của ngân
hàng
Khả năng
trả nợ
Thông tin
minh bạch
KHẢ NĂNG
VAY VỐN TÍN DỤNG
NHTM
CỦA DNNVV
Hồ sơ,
3.1.1. Định hướng phát triển DNNVV tỉnh Quảng Ngãi: Tăng số
lượng doanh nghiệp thành lập mới; củng cố và phát triển doanh
nghiệp hiện đang hoạt động có tính chuyên môn hóa cao, tăng khả
năng cạnh tranh, hiệu quả, ổn định và bền vững. Nâng cao năng lực
quản lý của các doanh nghiệp; khuyến khích các doanh nghiệp đổi
mới công nghệ, trang thiết bị tiên tiến;
3.1.2. Chính sách trợ giúp DNNVV của nhà nước: Chính phủ ban
hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV thay
thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 2001 của Chính
phủ về trợ giúp phát triển DNNVV, ban hành Nghị quyết số 22/NQCP để triển khai Nghị định 56, trong đó Chính phủ quyết nghị tăng
cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng và huy động các nguồn
lực hỗ trợ tài chính cho DNNVV.
3.1.3. Đánh giá kết quả đạt được và hạn chế trong vay vốn tín
dụng ngân hàng thương mại của các DNNVV
3.1.3.1. Kết quả đạt được
- Về phía các DNNVV: Năm 2009, trên địa bàn tỉnh chỉ có 48,2%
doanh nghiệp vay vốn ngân hàng. Tuy vậy, nguồn vốn tín dụng ngân
hàng đã phần nào đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của các DNNVV, qua đó giúp các doanh nghiệp này phát
triển.
19
- Về phía ngân hàng: Tính đến năm 2009, số lượng các ngân hàng
trên địa bàn tỉnh là 16 ngân hàng với dư nợ cho vay đạt 13.057 tỷ
đồng trong đó cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt gần 9.792 tỷ
đồng chiếm khoảng 75% dư nợ cho vay.
3.1.3.2. Hạn chế: Phần lớn các doanh nghiệp có nhu cầu về vốn
nhưng chưa vay được từ ngân hàng. Điều này xuất phát từ những
nguyên nhân: Các DNNVV có công nghệ lạc hậu, năng lực cạnh
hiện qua các chỉ tiêu NPV, IRR), kế hoạch trả nợ của doanh nghiệp
(Thời gian và khả năng trả nợ). Các doanh nghiệp nên sử dụng dịch
vụ tư vấn hỗ trợ của ngân hàng trong khâu lập dự án đầu tư – phương
án kinh doanh.
3.2.1.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh: Nâng
cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh bằng cách tăng doanh
thu, giảm giá thành…sẽ giúp các DNNVV tăng lợi nhuận sau thuế và
nâng cao khả năng trả nợ của mình. Các doanh nghiệp cần hợp tác –
liên kết với nhau để gia tăng sức mạnh cho mình. Sự hợp tác – liên
kết giữa các doanh nghiệp cùng ngành nghề giúp các doanh nghiệp
có cơ hội tích lũy kinh nghiệm, phấn đấu hạ giá thành để tăng lợi
nhuận. Các DNNVV cũng nên chủ động hợp tác – liên kết với các
doanh nghiệp lớn để hạn chế sự cạnh tranh, tăng thêm lợi nhuận cho
doanh nghiệp …Để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, các DNNVV cũng cần nâng cao trình độ của đội ngũ quản lý,
đồng thời chú trọng việc xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp –
đây cũng là một hướng để các doanh nghiệp có thể được ngân hàng
cho vay tín chấp.
3.2.2. Đối với ngân hàng
21
3.2.2.1. Thiết lập các cơ chế phù hợp cho DNNVV: Cơ chế thế chấp
cần có sự linh hoạt, đổi mới. Đối với các trường hợp cho vay dài hạn
để đầu tư, ngân hàng có thể cho vay mức 80-90% giá trị so với tài
sản thế chấp thay vì tối đa 70% như các ngân hàng thường quy định.
Đa dạng hoá các loại tài sản dùng để đảm bảo cho khoản vay. Việc
định giá giá trị tài sản thế chấp phải theo giá thị trường.
3.2.2.2. Cải tiến hồ sơ - thủ tục cho vay cho phù hợp với từng loại
hình DNNVV: Các DNNVV có thể tồn tại dưới những hình thức khác
DNNVV tháo gỡ khó khăn về vốn.
3.3. Một số kiến nghị
3.3.1. Đối với Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Quảng Ngãi: Hiệp hội
phải có bộ phận pháp lý am hiểu luật trong nước và cả luật của
những nước là thị trường chính xuất khẩu hay nhập khẩu sản phẩm
này. Hiệp hội cần liên kết với hiệp hội ngành khác ở các nước trên
thế giới để chia sẻ công nghệ, kỹ thuật đồng thời tìm những đối tác,
những bạn hàng tin cậy.
3.3.2. Đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Sớm thành lập
Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV và Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa của tỉnh. Công bố công khai quỹ đất để thực hiện đầu tư xây
dựng các khu, cụm công nghiệp, làng nghề cho các DNNVV. Phối
hợp với các cấp chính quyền, các cơ quan hữu quan mở các lớp bồi
dưỡng cho chủ doanh nghiệp để nâng cao năng lực sử dụng vốn, tăng
khả năng lập dự án đầu tư – phương án kinh doanh nhằm tăng hiệu
quả và giảm rủi ro trong việc vay vốn tín dụng ngân hàng. Công khai
hoá các thông tin về kế hoạch xây dựng, kế hoạch mua sắm của các
cơ quan nhà nước nhằm giúp các DNNVV tham gia đấu thầu cung
ứng các sản phẩm trang thiết bị phục vụ hoạt động cho các cơ quan
23
nhà nước. Chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh phải được xây dựng
chính xác, ổn định để giúp các doanh nghiệp xây dựng chiến lược
của doanh nghiệp đồng thời định hướng điều chỉnh hoạt động của
sao cho phù hợp với chiến lược chung của tỉnh.
3.3.3. Đối với nhà nước: Bảo đảm các DNNVV khu vực tư nhân
được thực sự bình đẳng như các doanh nghiệp nhà nước trong vay
vốn ngân hàng. Bãi bỏ đối xử ưu đãi về vay nợ, xóa nợ, giãn nợ đối
với khoản nợ quá hạn, gia hạn nợ đối với các khoản vay gặp rủi ro
tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chính sách đối với các DNNVV nhưng
vẫn còn những vướng mắc, chưa thống nhất nên có những tác động
không tốt đến các doanh nghiệp này trong việc vay vốn.
Trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù tác giả đã có
nhiều cố gắng nhưng chắc chắn luận văn còn có sai sót, còn những
vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung. Tác giả mong nhận được sự
đóng góp quý báu của các nhà khoa học, các đồng nghiệp. Hy vọng
sau khi hoàn thành, bản luận văn sẽ mang tính khả thi, sẽ đóng góp
một phần nhỏ để các DNNVV tỉnh Quảng Ngãi có thể nâng cao khả
năng vay vốn tín dụng ngân hàng của mình, từ đó góp phần vào sự
phát triển của tỉnh để đưa Quảng Ngãi thành một tỉnh giàu có, văn
minh, hiện đại trong tương lai.