ĐẶC điểm NGÔN NGỮ báo CHÍ TRUYỀN HÌNH tiểu luận cao học - Pdf 43

LỜI MỞ ĐẦU
Ngôn ngữ có từ rất lâu, chậm nhất là vào nửa cuối thế kỉ IV trước Công
nguyên. Những tài liệu ngôn ngữ học cổ nhất được tìm thấy ở Ấn Độ, Hi Lạp và
Ảrập. Cuộc sống không thể phát triển hiện đại nếu như thiếu đi sự xuất hiện, tồn
tại và phát triển của ngôn ngữ. Ban đầu là ngôn ngữ giao tiếp cơ bản thông thường,
về sau là ngôn ngữ viết.
Báo chí ra đời và phát triển mạnh mẽ cũng chính là nhờ sự phát triển của
ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là nền tảng cho thể loại báo in ra đời, thể loại báo chí ra
đời và phát triển sớm nhất nhằm mang đến cho con người những thông tin về sự
kiện. Hiện nay có rất nhiều loại hình báo chí khác nhau, nhưng không một loại
hình báo chí nào không sử dụng đến ngôn ngữ. Báo phát thanh truyền tải thông tin
đến công chúng qua ngôn ngữ nói, báo truyền hình truyền tải thông tin đến công
chúng qua ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ âm thanh và cả ngôn ngữ hình
ảnh, báo mạng điện tử truyền tải thông tin đến công chúng của ngôn ngữ viết là
chủ yếu.
Mỗi loại hình báo chí đều có một thể loại ngôn ngữ riêng phù hợp với đặc
thù của mình. Ngày nay, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định, sức ảnh hưởng của
báo chí là vô cùng lớn, bởi thế là nó được mệnh danh là “quyền lực thứ tư” trong
xã hội. Trong thời đại bùng nổ thông tin mạnh mẽ như ngày nay, vấn đề ngôn ngữ
báo chí không còn là một vấn đề mới, nó cũng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu
đào sâu theo từng góc cạnh khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề ngôn ngữ của báo chí
truyền hình lại là một đề tài khá mới mẻ và được nhiều người quan tâm bởi không
ai có thể phủ nhận sức ảnh hưởng cực kỳ lớn của báo truyền hình.


CHƯƠNG I : ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRUYỀN HÌNH
1.

Khái quát về ngôn ngữ:

1.1.

người cùng một cộng đồng ngôn ngữ lưu lại.
1.2.

Bản chất của ngôn ngữ:

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, ngôn ngữ được hình thành, tồn tại và
phát triển trong xã hội loài người. Thế giới loài vật không có ngôn ngữ. Những
tiếng kêu của động vật khi gọi bầy, khi âu yếm, khi tranh giành... chỉ là những
tiếng kêu có tính bản năng, lẻ tẻ, không hệ thống, do đó không phải là ngôn ngữ
thật sự. Pavlop gọi chúng là hệ thống tín hiệu thứ nhất; còn ngôn ngữ con người là
hệ thống tín hiệu cấp cao - hệ thống tín hiệu thứ hai.
Ngôn ngữ là sản phẩm của tập thể, nó tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn
tại và phát triển của xã hội. Trong quá trình phát triển, con ngưòi đã hợp tác với
nhau trong lao động và hình thành ngôn ngữ. Mỗi tập thể khác hhau, có thể có một
ngôn ngữ khác nhau. Ngôn ngữ đó sẽ không ngừng được cải tiến và hoàn thiện gắn
liền với sự tồn tại và phát triển của tập thể xã hội ấy. Khi tập thể xã hội ấy không
còn, ngôn ngữ cũng dần bị mai một và biến mất. Ðiển hình là bên cạnh những sinh
ngữ cũng có rất nhiều tử ngữ mà nay chỉ còn tồn tại trên sách vở. Và tương tự, bắt
một người đã trưởng thành nào đó rời xa quê hương và ngôn ngữ mẹ đẻ của họ,
đến một thời gian nào đó, ngôn ngữ mẹ đẻ đó cũng sẽ dần bị lãng quên để nhường
chỗ cho sự hoạt động của ngôn ngữ gắn với tập thể mà họ đang sống.
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội còn vì nó phục vụ xã hội với tư cách là
phương tiện giao tiếp, nó góp phần thể hiện ý thức xã hội. Mỗi tập thể khác nhau
có một phong tục, tập quán, một cách thức cộng cư khác nhau, và theo đó các từ
ngữ để gọi tên các khái niệm tương ứng cũng khác nhau. Thoát khỏi tập thể ấy,
những từ ngữ ấy sẽ không được sử dụng và thậm chí không còn tồn tại nữa. Người
ta đã bàn đến những nhân tố dân tộc, nhân tố văn hóa, nhân tố truyền thống trong
ngôn ngữ. Chúng xuất phát chính từ điểm này. Chẳng thế mà thông qua ngôn ngữ,



nên vô nghĩa.
1.3.2. Tính hệ thống của ngôn ngữ:
Người ta nói ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu bởi nó có đầy đủ
những đặc điểm của kí hiệu và những đặc điểm của hệ thống. Tính hệ thống của
ngôn ngữ biểu hiện ở các mặt sau:
-

Ngôn ngữ là một chỉnh thể hay cấu trúc, bao gồm rất nhiều tiểu hệ

thống và các đơn vị kết hợp lại. Các tiểu hệ thống có thể nói đến là: hệ thống ngữ
âm, hệ thống từ vựng, hệ thống ngữ pháp.


-

Trong từng tiểu hệ thống nói trên lại bao gồm rất nhiều nhóm được

cấu tạo từ các đơn vị cụ thể khác nhau.
Trong tiểu hệ thống ngữ âm, có các loại: nguyên âm, phụ âm và thanh điệu.
Nguyên âm, phụ âm lại bao gồm các nhóm nhỏ với những đặc điểm khác nhau:
nguyên âm hàng trước, hàng sau, tròn môi, không tròn môi, phụ âm tắc, xát, rung;
phụ âm vang, ồn...
Tương tự, hệ thống từ vựng bao gồm các tiểu hệ thống từ và thành ngữ.
Theo các tiêu chí khảo sát khác nhau, ta có thể nói đến các hệ thống nhỏ hơn khác
nhau. Dựa vào tiêu chí cấu tạo, ta có các hệ thống từ đơn, từ ghép, từ láy. Dựa vào
các tiêu chí ngữ nghĩa, ta có thể nói đến các nhóm từ đồng nghĩa, trái nghĩa hoặc
đồng âm...
1.3.3. Ngôn ngữ còn mang tính hình tuyến:
Khi dùng ngôn ngữ để giao tiếp, người ta phải nói lần lượt từng đơn vị nối
tiếp nhau, và người nghe cũng vậy, phải tiếp nhận các đơn vị lần lượt theo trục thời

Giao tiếp là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc giữa các thành viên trong xã hội để
trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm và để bày tỏ thái độ của bản thân với thế
giới xung quanh.
Giao tiếp là nhu cầu có tính bản năng của sinh vật bậc cao và là nhu cầu đặc
biệt thiết yếu với con người. Hoạt động giao tiếp có ngay từ khi có con người và xã
hội loài người, và ngày càng phong phú, đa dạng cùng với sự phát triển của con
người và xã hội. Con người và xã hội không thể thiếu hoạt động giao tiếp. Nhờ có
hoạt động giao tiếp, con người mới dần trưởng thành để có được những đặc trưng
xã hội và xã hội loài người mới dần hình thành và phát triển. Ðặc điểm của hoạt
động giao tiếp là bao giờ cũng xảy ra trong một hoàn cảnh nhất định, với những
phương tiện nhất định và nhắm một mục tiêu nhất định.
I.4.1.2.

Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất


Về các công cụ giao tiếp xã hội không phải là ngôn ngữ: Loài người
đã tiến hành giao tiếp bằng nhiều loại công cụ. Nhưng những công cụ này dù có
những ưu điểm mà ngôn ngữ không có nhưng lại có nhiều hạn chế và không thể
quan trọng bằng ngôn ngữ.
Cử chỉ, nét mặt, dáng điệu là những phương tiện giao tiếp quan trọng.
Nhưng so với ngôn ngữ, chúng thật nghèo nàn và hạn chế. Không một cử chỉ nét
mặt nào có thể diễn đạt một nội dung chẳng hạn Thế nào là giao tiếp bằng ngôn
ngữ? Hơn nữa nhiều cử chỉ có ý nghĩa không rõ ràng, chính xác. Người tạo cử chỉ
nghĩ một đằng, người tiếp thu nó hiểu một cách khác.
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người: Ta đã
biết, ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt, có khả năng biểu hiện đến độ vạn
năng và vô hạn; tuy phức tạp nhưng đối với người bản ngữ, để nói được, lại tự
nhiên, giản đơn lạ kì nếu họ sống bình thường trong xã hội. Chính vì vậy, ngôn ngữ
là phương tiện được dùng phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc trong sinh hoạt xã hội. Tất

trên.
Tóm lại, chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ là làm công cụ chủ yếu
cho hoạt động giao tiếp xã hội. Tất cả các phương tiện giao tiếp khác dù có những
ưu điểm nhất định chỉ là các phương tiện giao tiếp bổ sung quan trọng mà thôi.
I.4.2. 1.4.2. Chức năng công cụ tư duy:
I.4.2.1.
Khái niệm tư duy:
Trong quá trình tác động vào thế giới xung quanh, con người đồng thời nhận
thức các mặt khác nhau của nó. Việc này diễn ra dưới dạng những cảm giác, tri
giác, biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy lí. Những cảm giác, tri giác, biểu
tượng cho phép ta nhận thức được một cách cảm tính các thuộc tính của sự vật,
hiện tượng. Ở giai đoạn nhận thức này, con người không nhận biết được mối liên
hệ có tính quy luật, tất yếu giữa các thuộc tính của một sự vật, hiện tượng và giữa
các sự vật, hiện tượng với nhau. Ðó là giai đoạn nhận thức cảm tính mà cả loài
người và loài vật đều có tuy không giống nhau về mức độ. Trên cơ sở nhận thức
cảm tính, loài người còn nhận thức thế giới thông qua tư duy. Ðây là giai đoạn


nhận thức thế giới khách quan một cách gián tiếp, khái quát, là giai đoạn nhận thức
lí tính. Ở giai đoạn này của quá trình nhận thức, trí tuệ con người hình thành các
khái niệm, các phán đoán về sự vật, hiện tượng, và tiến hành các suy luận về
chúng. Như vậy, quá trình nhận thức có hai giai đoạn: giai đoạn nhận thức cảm tính
và giai đoạn nhận thức lí tính. Tư duy là giai đoạn nhận thức lí tính, nhận thức gián
tiếp, khái quát. Hình thức của tư duy là khái niệm, phán đoán, suy lí; chúng liên hệ
mật thiết với ngôn ngữ.
1.4.2.2. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy:
Tư duy định hình nhờ ngôn ngữ, ngôn ngữ là phương tiện vật chất của tư
duy. Các khái niệm, phán đoán, suy lí, các tư tưởng của chúng ta bao giờ cũng
được hình thành trên cơ sở ngôn ngữ. Các nhận thức cảm tính có thể tồn tại dưới
dạng các cảm giác, tri giác, biểu tượng, còn các tư tưởng về các thuộc tính, các mối

Đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ báo chí:

Tính thông
tin sự kiện

Đặc trưng cơ
bản của ngôn
ngữ báo chí

Tính ngắn
gọn nhưng
biểu cảm

Tính hấp dẫn
nhưng thuyết
phục

2.2.1.

Tính thông tin sự kiện:

-

Tính thông tin thể hiện ở chỗ phải cập nhật nhanh, chính xác và

đầy đủ, đảm bảo tính khách quan, vừa có tác dụng định hướng dư luận.


-


Với mỗi tác phẩm báo chí, sự hấp dẫn sẽ khiến cho công chúng

thích thú và quan tâm đến các tác phẩm của cơ quan, tòa soạn báo đó hơn.
2.3.

Chức năng của ngôn ngữ báo chí:

Chức năng ngôn ngữ báo chí

Chức năng thông tin

Chức năng định hướng dư luận

Chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng
2.3.1.

Chức năng thông tin:


-

Đây là chức năng vô cùng quan trọng của báo chí. Đối với bất cứ

một tác phẩm báo chí nào cũng phải có thông tin để chuyển tải tới khán giả. Do đó,
báo chí phải luôn đảm bảo sự thật, đảm bảo tính khách quan trong đưa tin để báo
chí luôn là nguồn thức ăn tinh thần cho công chúng.
-

Trên thực tế hiện nay có nhiều bài báo đưa tin nhưng là các tin


Người ta đọc báo, xem truyền hình để tiếp nhận thông tin bởi họ không thể có mặt
ở nhiều khu vực,nhiều quốc gia và ở nhiều thời điểm để nắm bắt được những sự
kiện đó xảy ra như thế nào. Bởi vậy, họ xem báo chí và tin tưởng vào sự thật mà
báo chí mang lại.
-

Qua báo chí, nhà báo muốn gửi gắm thông điệp theo cách mình

viết, muốn gửi lời muốn nói qua những câu chữ mình viết, từ cách viết ấy sẽ hướng
công chúng theo một suy nghĩ nhất định. Bởi vậy, mọi thông tin đưa trên báo chí
phải luôn đúng đắn để có tác dụng định hướng đúng, nếu không nó sẽ gây ra phản
ứng ngược.
-

Ví dụ như Chuyển động 24 giờ phát sóng lúc 11h15 phút và

18h30 phút trên kênh VTV1 gần đây đã đưa ra nghi án Đi tìm tuổi thật của Công
Phượng và hàng loạt các chứng cứ để xác minh về sự thật này. Đây có thể coi là


một lỗi lớn của chương trình và đã gây ra ý kiến phản hồi của dư luận mạnh mẽ.
Sự thật chưa được ai khẳng định, nhưng Chuyển động 24 giờ với những lời nói,
hình ảnh trong lỗi dẫn hay phóng sự gần như đã khẳng định nghi án mình đưa ra là
đúng và điều này đã định hướng dư luận theo chiều hướng đó. Nhưng kết quả
không đi đến đâu bởi sau đó, họ đã dừng vấn đề này lại và chưa có ý kiến rõ ràng
gửi tới công chúng.

Cuộc trò chuyện xung quanh nghi án tuổi của Công Phượng giữa Nhà văn
Quang Vinh ( bên trái màn hình) và BTV Ngọc Trinh ( bên phải màn hình)
( )

Tính
ngắn
gọn

Tính đại
chúng

Tính
biểu
cảm

Tính
khuôn
mẫu

2.4.1. Tính chính xác:
-

Báo chí có chức năng vô cùng quan trọng trong việc cung cấp thông

tin cho công chúng. Ở bất cứ thể loại báo chí nào cũng vậy, báo chí luôn phải tôn
trọng sự thật, phải thể hiện được sự thật, không có yếu tố bịa đặt, thêm bớt hay mơ
hồ khi truyền tải thông tin tới công chúng.
-

Tính chính xác cần được thể hiện tối đa nhất nhưng trong nhiều

trường hợp, nhà báo phải có tính nhân văn khi đưa tin. Với những sự việc nhạy
cảm, đau lòng không nên đưa tin thẳng mà phải thật dựa trên sự khéo léo, nói giảm
nói tránh để tránh gây tổn thương cho nhân vật và thể hiện được sự tôn trọng khán

công chúng ở độ tuổi đi học hay đi làm không có nhiều thời gian để xem báo, đưa
tin ngắn gọn sẽ giúp công chúng năm bắt thông tin nhanh. Việc đưa tin dài nhiều
khi lan man ra những vấn đề ngoài lề, đây là điều không cần thiết vì nó sẽ gây ra
sự loãng thông tin đến người đọc.
2.4.4. Tính đại chúng:
-

Báo chí là của toàn dân nên cần phải mang tính đại chúng. Đại chúng

ở đây được hiểu là phổ biến với toàn dân, nhiều người hiểu được và phục vụ được
cho nhiều người. Đặc biệt tính đại chúng phải được thể hiện trên đài truyền hình
quốc gia hay báo chí quốc gia để phần lớn dân cư hiểu.
-

Trên những trang báo địa phương có thể được sử dụng tiếng lóng,

tiếng địa phương bởi đó là địa chúng với địa phương đó. Việc sử dụng tiếng địa
phương trên kênh báo chí quốc gia sẽ khiến cho nhân dân không hiểu được hết ý
nghĩa nhà báo muốn truyền tải và nhiều khi còn hiểu sai nghĩa gây ra những hậu
quả nghiêm trọng.
2.4.5. Tính biểu cảm:


-

Tin tức cần phải đưa ngắn gọn, xúc tích nhưng khong vì thế là khô

khan. Việc đưa tin khô khan sẽ khiến cho công chúng cảm thấy chán và thiếu đi sự
hấp dẫn.
-


Trong ngôn ngữ báo chí nói chung có bao gồm các dạng ngôn ngữ đặc trưng
của các loại hình như báo in, báo phát thanh, báo mạng điện tử, báo truyền hình.
Trog phạm vi nghiên cứu của bài tập này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sâu về các đặc
điểm của ngôn ngữ báo truyền hình. Ngôn ngữ báo truyền hình bên cạnh những
điểm chung của ngôn ngữ báo chí cũng có những đặc điểm riêng đặc thù của loại
hình này.
3.1.

Khái niệm ngôn ngữ truyền hình:


Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ dùng để truyền tải thông tin đến công
chúng qua màn hình bao gồm tổng hợp nhiều yếu tố ngôn ngữ hình ảnh, ngôn ngữ
âm thanh.
3.2.

Lịch sử vấn đề tìm hiểu ngôn ngữ truyền hình:

Ngày nay, truyền hình đã trở thành phương tiện truyền thông mạnh mẽ và
quan trọng bậc nhất đối với công chúng khắp nơi trên thế giới. Chính truyền hình
đã tạo nên một cuộc cách mạng thông tin và làm nên sự bùng nổ truyền thông bắt
đầu từ những năm nửa cuối thế kỷ XX. Truyền hình đã được nghiên cứu từ nhiều
góc độ khác nhau với những mục đích khác nhau: về vai trò, vị trí của nó đối với
các vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế; về phương thức, cách thức thông tin…Trong
khi tiếp cận nhiều vấn đề như vậy thì ngôn ngữ truyền hình là đề tài chưa được chú
trọng mặc dù vấn đề này có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với chất lượng sản phẩm
truyền hình.
Ở Việt Nam hiện nay tình hình trên cũng diễn ra tương tự, chưa có một công
trình nào nghiên cứu ngôn ngữ truyền hình một cách thấu đáo.

Tính cụ
thể

Tính đại
chúng

Tính
ngắn
gọn

Tính
định
lượng

Tính
bình giá

Tính
biểu
cảm

Tính
khuôn
mẫu

3.3.1. Tính chính xác:
Không chí riêng với ngôn ngữ báo truyền hình mà ngôn ngữ báo chí nói
chung cũng rất đề cao sự chính xác. Tính chính xác là một yếu tố vô cùng quan
trọng đối với mỗi tác phẩm báo chí nói chung và tác phẩm báo chí truyền hình nói
riêng.

để mỗi nhà báo biết tự bảo vệ mình. Mỗi nhà báo ngoài khả năng giao tiếp, chuẩn
bị hệ thống tư liệu tài liệu, hành trang kiến thức chuyên môn, thì cần phải thực sự
sống trong nhịp đập của thời cuộc và nhịp sống của nhân dân. Nhà báo phải xông
pha và bất chấp gian khổ bằng một trái tim yêu nghề và cống hiến cho nghề để có


được những thông tin phản ánh kịp thời. Một nhà báo có bản lĩnh, có phương pháp
tác nghiệp, có tác phong tốt, đưa thông tin sự thật chính xác, không chỉ đem lại
thắng lợi cho bài báo của mình, mà còn là phương pháp bảo vệ chính mình một
cách hữu hiệu nhất trước những cám dỗ và không sợ bất cứ mưu mô đe dọa từ mọi
đối tượng, cũng như không phải trông chờ vào sự can thiệp của pháp luật. Để có
được những bài báo hay, nóng hổi, phản ánh chính xác và kịp thời thì những người
viết báo chân chính thường phải chịu đựng nhiều hy sinh, mất mát, gian khổ để đi
tìm tòi và phản ánh lên sự thật. Bản lĩnh chính trị và sự dũng cảm của nhà báo
được thể hiện ngay trong mỗi tác phẩm báo chí. Mỗi nhà báo ngoài khả năng, kỹ
năng viết báo, còn phải là người trong sáng về lương tâm, đạo đức nghề nghiệp và
phải có tinh thần trách nhiệm rất cao với cộng đồng xã hội.
Chân thật, chính xác của báo chí là thật một trăm phần trăm, sự thật được
nêu rõ bản chất, có tên người, địa chỉ, chi tiết rõ ràng cụ thể, người đọc, người
nghe, người xem có thể tìm đến tận nơi để chiêm nghiệm, học hỏi, đúc kết, rút kinh
nghiệm… Và chính điều này đã làm nên giá trị to lớn của báo chí mà không lĩnh
vực nào có thể thay thế được. Tính chính xác của báo chí hoàn toàn khác với tính
hiện thực của văn học - nghệ thuật. Với tính chính xác, không cho phép người làm
báo xây dựng hình tượng, hư cấu, bịa đặt, tưởng tượng, suy diễn… dù chỉ là chi
tiết, tình tiết nhỏ nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy của báo chí cách mạng
Việt Nam đã từng căn dặn người làm báo: “Quần chúng mong muốn những tác
phẩm có nội dung chân thật và phong phú, cho nên người làm báo phải luôn viết
rõ sự thật: Việc đó ai làm, ở đâu? Ngày, tháng, năm nào... Nếu chưa điều tra, chưa
nghiên cứu, chưa biết rõ thì chớ nói, chớ viết”. Tính chính xác của báo chí còn
được hiểu ở một khía cạnh quan trọng khác. Đó là không một ai, một tổ chức nào

Ngày hôm sau trong bản tin Chuyển động 24 giờ trưa ngày 16/11,

BTV Trần Việt đã đưa ra nói “Chuyển động 24 giờ sẽ cung cấp thêm những thông
tin để đi tìm sự thật” .


BTV Trần Việt trong Chuyển động 24 giờ ( )
Hàng loạt những bằng chứng khẳng định Công Phượng sinh năm 1993 được
đưa ra khi nhóm phóng viên của chương trình đã về tận quê của Công Phượng để
dò hỏi thông tin hàng xóm của em, trường cấp 1, cấp 2 em theo học, UBND xã và
UBND huyện. Tuy nhiên, BTV Trần Việt đã nói rằng chúng tôi không bao giờ
phán xét, chúng tôi là nhà báo và chúng tôi có trách nhiệm phải tìm ra sự thật. Tuy
nhiên tính đến thời điểm hiện tại thì vụ lùm xum xung quanh Công Phượng đã
được lắng xuống bởi sức ép dư luận. Vẫn chưa có kết luận Công Phượng thực sự
sinh năm 1993 hay 1995. Như vậy, trong trường hợp này, các nhà báo đã đưa ra
nghi án khi những thông tin mình đang nắm giữ chưa thực sự chắc chắn và điều
này khiến cho dư luận hoang mang. Sức ảnh hưởng của báo chí rất lớn. Và thực tế
khi câu chuyện này được lên sóng thì Công Phượng và gia đình em đã phải chịu rất
nhiều sức ép. Đây là một ví dụ cho việc nếu đưa những thông tin chưa chính xác và
chưa có căn cứ thì điều này sẽ có tác dụng ngược lại rất xấu. Vẫn chưa có một bản


tin nào của VTV24 nhắc đến kết luận của nghi án này. Nếu nghi án đưa ra sai thì
chắc chắn Công Phượng, gia đình Công Phượng và dư luận cần một lời xin lỗi
công khai của VTV24.
3.3.2. Tính cụ thể:
Ngôn ngữ báo truyền hình mang tính cụ thể. Nó thể hiện ở chỗ mảng hiện
thực của từng sự kiện, vấn đề, hiện tượng phải được phóng viên, biên tập viên
miêu tả rất cụ thể, tường thuật lại chi tiết đến mức cặn kẽ để khán giả có thể đón
nhận thông tin một cách đầy đủ nhất, hình dung được sự kiện đúng hướng nhất và

đời sống văn hóa ở khu dân cư, xứng đáng là môt địa phương có di tích lịch sử
quốc gia đặc biệt, nơi Bác Hồ đã từng ở, làm việc và chỉ huy kháng chiến”. Tin
này đã thể hiện được tính cụ thể ở chỗ trả lời được đầy đủ các câu hỏi về:
-

When : ngày hôm nay, 16/11

-

Where : thôn Tập Lập, xã Tân Trào, huyện Tân Dương tỉnh Tuyên

Quang
-

Who: Chủ tích Ủy ban nhân dân Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam và chính

quyền nhân dân xã Trân Trào
-

Why : thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống

văn hóa ở khu dân cư, gắn với xây dựng nông thôn mới nhân kỉ niệm 84 năm ngày
thành lập Mặt Trận dân tộc thống nhất Việt Nam 18/11/1930 – 18/11/2014.
-

What : Ngày hôm nay Chủ tịch Ủy ban nhân dân Mặt Trận Tổ quốc

Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân đã tham dự và chung vui với nhân dân thôn Tân
Lập – xã Tân Trào – huyện Tân Dương – tỉnh Tuyên Quang trong ngày hội đoàn
kết toàn dân tộc kỉ niệm 84 năm ngày thành lập Mặt Trận dân tộc thống nhất Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status