ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG - Pdf 23

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 1

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà, sự xuất hiện và phát
triển mạnh mẽ của thể lại phóng sự vào những năm đầu thế kỷ XX là một hiện
tượng văn học rất đáng chú ý.
Phóng sự là kết quả của sự phát triển tất yếu, nối tiếp và hoàn thiện của
thể loại ký sự. Đó là sự giao duyên kỳ ngộ giữa báo chí và văn học. Phóng sự có
cái chất chủ quan của người cầm bút và sự khách quan, trung thực cuả đối tượng
nhận thức và miêu tả.
Trong cuốn nhà văn hiện đại. Vũ Ngọc Phan nhận xét : “phóng sự là thăm
dò lấy việc và ghi lấy việc…Phóng sự ghi những điều mắt thấy tai nghe, có tính
cách thời sự. Phóng sự chân chính bao giờ cũng bênh vực lẽ phải, bênh vực sự
công bằng”
Nhắc đến phóng sự vào những năm 1930 – 1945 thì ta nhớ ngay đến Tam
Lang, Trọng Lang, Thạch Lam, Ngô Tất Tố, Phi Vân… và sẽ là thiếu sót nếu ta
không nhắc tới Vũ Trọng Phụng là cây bút nổi bật nhất trong làng phóng sự lúc
bấy giờ.
Bước vào lạng báo với phóng sự đầu tay cạm bẫy bút danh Thiên Hư,
đăng trên báo Nhật Tân (1933) Vũ Trọng Phụng đã nhanh chóng gây được sự
chú ý của dư luận đương thời. Năm sau ông tiếp tục cho ra đời phóng sự thứ hai
Kỹ nghệ lấy Tây, rồi đến Cơm thầy cơm cô, Lục xì… Với số lượng phóng sự như
thế, cùng cây bút đàn anh đi trước như Tam Lang, cùng nhà văn đồng trang lứa
là Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng được liệt vào bộ ba những nhà văn mở đầu cho
nghề phóng sự của nước ta. Đặc biệt ông được Mai Xuân Nhân tôn vinh là “ông
vua phóng sự đất Bắc”.
Vậy điều gì đã làm nên thành công cho phóng sự của Vũ Trong Phụng và
tại sao phóng sự của Vũ Trọng Phụng lại gây được tiếng vang như vậy? Ngoài
nội dung tả chân, phản ánh những mặt trái của xã hội đương thời… chính là

sánh ngang với các nhà ngiên cứu có tên tuổi. Nhưng cũng xin mạn phép đưa ra
cách nhìn nhận của mình về vấn đề ngôn ngữ trong phóng sự của Vũ Trọng
Phụng, trước hết là để phục vụ cho bản thân và công việc giảng dạy. Sau nữa, hi
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 3

vọng góp một phần nhỏ để làm sáng rõ thêm và mang lại cái nhìn nhiều chiều về
vấn đề nghiên cứu.
6. Cấu trúc của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận còn có phần nội dung gồm
Chương 1: Những vấn đề chung
1.1. Đặc điểm phong cách ngôn ngữ báo chí
1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ báo chi
1.2. Khái quát về thể loại phóng sự
1.2.1. Khái niệm
1.2.2. Đặc điểm thể loại phóng sự
1.3. Vũ Trọng Phụng- “cây phóng sự đất Bắc Kỳ”
1.3.1. Cuộc đời và sự nghiệp Vũ Trọng Phụng
1.3.2. Về phóng sự Vũ Trọng Phụng
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ báo chí trong phóng sự Vũ Trọng Phụng
2.1. Hiện thực đời sống trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng
2.2 Chất báo chí qua phóng sự của Vũ Trọng Phụng
2.2.1. Tiêu đề phóng sự của Vũ Trọng Phụng
2.2.2. Ngôn ngữ phóng sự Vũ Trọng Phụng
2.2.3. Các thủ pháp nghệ thuật trong phóng sự Vũ Trọng Phụng
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 4

B. NỘI DUNG


Nói tóm lại phong cách ngôn ngữ báo chí là dấu hiệu đặc trưng khái quát
hóa hệ thống những biến thể sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong việc thực
hiện chức năng thông tin cho mọi người biết trong đời sống xã hội, có ảnh
hưởng trực tiếp đến xã hội và cuộc sống con người. Do đó phong cách ngôn ngữ
báo chí cần tuân theo chuẩn ngôn ngữ.
1.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ báo chí
1.1.2.1. Tính thời sự
Báo chí ra đời trước hết là do nhu cầu thông tin con người trong cuộc
sống hàng ngày thông qua quan hệ giao tiếp thường xuyên trao đổi với nhau về
mọi mặt : tình cảm, kiến thức, các sự kiện chính trị , xã hội… Không có báo chí
người ta vẫn thiết lập được quan hệ thông tin.Nhưng qua báo chí , người ta có
thể nhanh chóng tiếp cận được các vấn đề mà người ta quan tâm. Xã hoọi càng
phát triển, nhu cầu thông tin của con người càng lớn, báo chí trở thành một công
cụ đắc lực khắc phục tình trạng đói thông tin của con người.
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu cập nhật thông tin của cn người ngày
càng lớn và đời hỏi được “cập nhật”.Trước đây cụm từ tin tức cập nhật” nghĩa là
những tin diễn ra trong ngày. Vì vậy hình thành nhật báo. Càng ngày người ta
càng cập nhật thông tin. Điều này thúc đẩy báo chí các nước ngoài tờ báo buổi
sáng xuất hiện thêm báo buổi chiều.
Các hãng thông tấn báo chí đòi hỏi các phóng viên của hãng phải cung
cấp “những sự kiện phát sinh ngay trong lúc người ta nghe và nhìn thấy” để dẫn
chúng “ngồi tại nhà biết mọi chuyện của thiên hạ” thì tính thời sự trong tin tức
thậm chí là những gì “cập giờ, cập phút” chứ không còn là những gì cập nhật
nữa.
Vấn đề thời sự còn được hiểu là những vấn đề đang được xã hội quan
tâm. Ví dụ: sau kỳ thi Đại học và Cao đẳng, Bộ Giáo dục công bố điểm thi Đại
học. Một vấn đề nổi cộm lên là môn Lịch sử học sinh làm bài không được, điểm
rất thấp. Điều này đặt ra vấn đề búc xúc về chất lượng dạy học và thái độ thờ ơ
của học sinh đối với môn Lịch sử và sâu xa hơn nữa là lịch sử dân tộc.

thì sức hấp dẫn của tít bài sẽ trở nên sáo rỗng.
Do đó, sức hấp dẫn về mặt hình thức của bài báo phải bao gồm một tổng
thể hình thức. Từ cách trình bày đến các hình ảnh phụ họa. Cuối cùng là biện
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 7

pháp sử dụng ngôn ngữ, trong đó có việc lựa chọn từ ngữ.Trong việc lựa chọn từ
ngữ cần quan tâm một số vấn đề như: sử dụng từ độc đáo, kết hợp từ một cách
độc đáo, bất ngờ, sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao một cách sáng tạo và hiểu
quả. Sử dụng các biện pháp chơi chữ. Mỗi tác giả để tạo nên tính hấp đẫn trong
bài viết của mình, cần tạo ra phong cách riêng mình, dựa trên sự vận dụng, sử
dụng ngôn ngữ linh hoạt, biến hóa.Tạo những điều “bất thường” trong những cái
bình thường.
Cùng thời với Vũ Trọng Phụng có rất nhiều tác giả viết phóng sự, nhưng
tại sao phóng sự Vũ Trọng Phụng lại được nhắc đến nhiều và có vị trí lâu bền
trong lòng bạn đọc, được vinh danh là “cây phóng sự của đất Bắc Kì”… Bởi do
Vũ trọng Phụng đã tạo ra được nét đặc sắc của riêng mình thông qua cách đặt
tiêu đề và sử dụng ngôn ngữ.
Cách đặt tiêu đề của ông khiến độc giả rất tò mò. Ví dụ: Việc kết hợp
nhân duyên giữa nam và nữ đó là lẽ dĩ nhiên không kể quốc tịch sắc tộc, chỉ cần
“hai tâm hồn đồng điệu”. Nên một người phụ nữ việt Nam lấy một người đàn
ông phương Tây thì chẳng có gì phải bàn cả.Vậy mà Vũ Trọng Phụng đã cho
người đọc một cái nhìn mới mẻ, đầy bất ngờ về điều này. Qua tít giật gân “Kỹ
nghệ lấy Tây”, chẳng lẽ việc lấy chồng Tây là một “nghề”, một “kĩ nghệ”, điều
này khiến độc giả tò mò, chú ý, muốn hiểu thực hư vấn đề là như thế nào.Vì vậy
Vũ Trọng Phụng đã thành công bước đầu trong việc lôi kéo khán giả. Bước kế
tiếp trong tiếp tục sử dụng thành ngữ, tục ngữ như: “lá gió cành chim”, “tiền
trao cháo múc”, theo lối châm biếm mỉa mai và như vậy ông đã thành công.
1.1.2.3.Tính thẩm mĩ
Báo chí muốn trở thành món ăn tinh thần thực sự của đông đảo bạn đọc

trên, các tác giả còn thêm một số chức năng khác. Nhưng ở đây tôi xin đề cập
đến những đặc điểm theo tôi là nổi bật nhất trong khả năng nghiên cứu của bản
thân.
1.2. Khái quát về thể loại phóng sự
1.2.1. Khái niệm
Trong các thể loại báo chí, phóng sự là một trong nhưngnx thể loại đặc
biệt thích hợp với việc mô tả sự phát triển năng động của hiện thực có khả năng
gây được những ấn tượng sâu sắc đối với công chúng,
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 9

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về phóng sự nhưngn theo tiến sĩ Đức
Dũng thì: phóng sự là một thể loại đứng giữa văn học và báo chí, có khả năng
trình bày, diễn tả những sự kiện, con người, tình huống điển hình trong một quá
trình phát sinh, phát triển. Đồng thời khẳng định hiện thực đó thông qua cái tôi
trần thuật, vừa tỉnh táo lý trí, vừa cảm xúc lý trí với một bút pháp giàu chất văn
học.
Ngoài việc thông tin sự kiện còn diễn giải tỉ mĩ những quá trình diễn biến
các sự kiện, cuối cùng dự báo khuynh hướng phát triển hay kết thúc của quá
trình đó. Ngôn ngữ của loại văn bản này thường giàu hình ảnh, sinh động, nhưng
khác với ngôn ngữ văn học nó không có tính hư cấu. Phóng sự thường viết về
người thật, việc thật. Có người coi đó là loại văn bản vừa có thông tin sự kiện,
vừa có thông tin lý lẽ và thẩm mĩ.
1.2.2. Đặc điẻm thể loại phóng sự
Phóng sự là thể loại báo chí đòi hỏi nhiều thời gian và công sức để điều
tra, thâm nhập thực tế và phỏng vấn nhiều người. Phóng sự cung cấp cho người
đọc một cái nhìn cận cảnh và toàn cảnh về một hiện tượng thường là đặc biệt,
diễn ra trong xã hội. Thông qua những ghi chép cụ thể sinh động tình hình một
vấn đề, một sự việc nào đó đang là vấn đề thời sự mang tính bức xúc. Phóng sự
thể hiện tính chiến đấu cao độ, dùng sự thật để bác lại những nhận thức còn sai

Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939), nhà văn tài hoa, bạc mệnh, hưởng dương
chỉ được hai mươi bảy năm ngắn ngủi. Ông sống nghèo túng và hoạt động văn
học sôi nổi trọn trong ba thập niên của nửa đầu thế kỷ XX. Và như một ngôi sao
băng bừng sáng rực rỡ khác thường rồi tắt, tuy cầm bút sáng tác hối hả như rút
ruột, như muốn vắt kiệt sức lực trai trẻ của mình trong vòng chưa đầy 10 năm,
song Vũ Trọng Phụng đã để lại một số lượng tác phẩm không nhỏ mà chân giá
trị của nó góp phần thúc đẩy tiến trình văn học dân tộc, hiện đại của nước nhà.
Vũ Trọng Phụng sinh năm 1912 tại Hà Nội trong một gia đình nghèo.
Chính quê nhà văn ở làng Hảo (tức Bần Yên Nhân, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng
Yên). Ông thân sinh ra Vũ Trọng Phụng là thợ tiện mất khi nhà văn mới 7 tháng
tuổi. Mẹ làm nghề khâu vá thuê, khi chồng chết mới 24 tuổi, đã ở vậy nuôi con.
Theo lời Nguyễn Tuân, đó là một “người mẹ chí từ của một người con chí hiếu”
đã âm thầm tận tụy hy sinh vì con. Năm 1926, Vũ Trọng Phụng đỗ bằng tiểu học
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 11

nhưng vì nghèo túng, phải thôi học để đi làm kiếm sống. Ông làm thư ký cho
nhà hàng Gôđa, rồi làm chân đánh máy chữ cho nhà in Viên Đông nhưng rồi bị
đuổi việc do ham mê tiểu thuyết. Từ đó, Vũ Trọng Phụng chuyển hẳn sang nghề
làm báo, viết văn. Đầu 1938, Vũ Trọng Phụng lấy vợ và có một người con gái.
Cuộc sống của ông hết sức chật vật, bấp bênh nghèo túng. Ông mất ngày
13/10/1939 vì bệnh lao, để lại mẹ già, người vợ trẻ và đứa con gái chưa đầy một
tuổi.
1.3.1.2.Sự nghiệp
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo khó,một thứ “nghèo gia
truyền” (Ngô Tất Tố). Tuổi thơ đi học phải hứng chịu biết bao tủi cực do sự
phân biệt đối xử giữa một cậu học trò con nhà nghèo với đám bạn học con nhà
giàu. Khi lớn lên lại liên tiếp gặp trắc trở trong cuộc sống, ở Vũ Trọng Phụng có
cái mầm bất mãn với cuộc sống, môi trường sống của ông ở phố Hàng Bạc hết
sức nhốn nháo, phức tạp, xô bồ. Ở đó, những me Tây, lưu manh, gái điếm,

Năm 1933, khi trên Nhật Tân xuất hiện thiên phóng sự Cạm bẫy người
của tác giả Thiên Hư Vũ Trọng Phụng. Sau đó là các thiên phóng sự khác như
Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, ….thì cái tên Vũ Trọng Phụng nổi lên như
cồn. Ông được đánh giá là “ông vua phóng sự đất Bắc” (Mai Xuân Nhân).
Rồi sau đó, các tiểu thuyết lần lượt xuất hiện như: Giông tố (1936), Số đỏ
(1936) Vỡ đê (1936) Lấy nhau vì tình (1937) Trúng số độc đắc (1938)…thì Vũ
Trọng Phụng càng được dư luận quan tâm nhiều hơn.
Ngoài ra, không thể không kể đến những truyện ngắn của Vũ Trọng
Phụng như: Con người điêu trá, Cái ghen đàn ông, Từ lý thuyết đến thực
hành… Kịch như: Không một tiếng vang (1931) Tài tử (1934) Phân bua
(1939)…
Các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng thường đăng trên các báo trước khi
xuất bản thành sách. Tuy là một trong nhưng hiện tượng văn học gây ra nhiều
tranh luận bậc nhất trong văn học Việt Nam hiện đại nhưng hầu hết các tác
phẩm của Vũ Trọng Phụng đã được tái bản trong thời kỳ đất nước tiến hành sự
nghiệp Đổi mới từ năm 1986 Vũ Trọng Phụng được quan tâm nhiều trong đời
sống, nghiên cứu và giảng dạy văn học cũng như trong đông đảo bạn đọc.
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 13

Vũ Trọng Phụng là con người bình dị và giàu lòng tự trọng. Một con
người nề nếp, khuôn phép. Dù ông viết rất nhiều – trong khoảng thời gian chưa
đầy 10 năm, gần hai mươi tác phẩm và nhiều bài báo, nhưng cái nghèo cứ bám
riết lấy gia đình ông. Do phải làm việc quá sức, lại trong cảnh thiếu thốn, căn
bệnh lao ngày một thêm trầm trọng và làm ông kiệt sức. Ông mất ngày
13/10/1939 tại căn nhà số 73, phố Cầu Mới, Ngã Tư Sở, nay thuộc quận Thanh
Xuân – Hà Nội. Năm ấy, Vũ Trọng Phụng mới 27 tuổi. Nhưng những tác phẩm
của Vũ Trọng Phụng sẽ sống mãi trong lòng bạn đọc một số câu nói trong câu
nói trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đã trở thành câu nói cửa miệng như:
“biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.

Sự thật đã trả lời: quả đó là một thứ nghề, một kế sinh nhai tuy quái gỡ –
vì đó là con đẻ của chủ nghĩa thực dân. Là một nghề hẳn hoi nên nó cũng có “tổ
sư”, nghĩa là người “khai sáng”. Ra đời từ ngày Tây sang, nghề này cũng có một
quá trình lịch sử với những bước thăng trầm rất đỗi ly kỳ. Một thiên lịch sử đáng
buồn vì càng ngày càng suy tồi theo qui luật, “phú quí giật lùi”. Đã là nghề thì
phải có “ngón”. Thôi thì đủ các mánh khóe, cạnh tranh nhau, dìm giá, phá giá
nhau, lừa đảo để “chạy làng” hay phỗng tay nhau, .v.v. Và đã là nghề thì cũng
phải có học nghề, có tìm việc, nghỉ việc, có thất nghiệp…
Tác giả vốn có lối thuật kể thật là hóm hỉnh và có duyên. Nhưng tiếng
cười vừa thức, dư vị để lại sao mà cay đắng, chua chát! Vì sao mà những người
đàn bà vốn lương thiện, có người từng có một thời thanh xuân đầy ước mộng
riêng lại đến nông nỗi phải làm cái “nghề” mà chính họ cũng thấy là đáng khinh,
là đồ bỏ đi này? Thực chất đây là một thứ mại dâm mạt hạng, làm “điếm” kiêm
đầy tớ có thời hạn cho những tên lính viễn chinh dâm ô, hung dữ, liều lĩnh và
thường là những con sâu rượu thô bỉ. Mà “nghề” này có thể làm mãi được sao?
Lại còn những đứa con lai đẻ ra một cách bất đắc dĩ? Cho nên đằng sau cái “kỹ
nghệ” quái thai kia là biết bao cuộc đời lở dỡ, biết bao tâm trạng tủi nhục, biết
bao số phận tối tăm của những người đàn bà một nước thuộc địa bị đẩy tới bước
đường cùng.
Cơm thầy cơm cô còn sâu và sắc hơn nữa. Đây là một thiên phóng sự về
Hà Nội thời cũ. Không phải Hà Nội nhìn từ phía “mặt tiền” thơm tho, hoa lệ, mà
từ phía “cổng hậu” tối tăm, hôi hám.
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 15

Tác phẩm tập trung viết về cảnh đời khốn khổ, tủi nhục của những người
đi ở. Vì nghèo đói, cùng quẫn, không thể kiếm nỗi miếng cơm nơi thôn quê,
những con người rách rưới lam lũ ấy đành như con thiêu thân lao về “ánh sáng
của kinh thành” để kiếm sống. Nhưng Hà Thành hoa lệ vẫy gọi họ đến để ban
ngày ra “ngồi bày hàng ở ngã ba, ngã bảy”, những chợ bán người trở thành món

biệt nhạy cảm, sắc sảo trong quan sát, nắm bắt và phát hiện những tệ nạn, những
vấn đề có ý nghĩa xã hội. Cách hai tháng, phân tích, lý giải các vấn đề xã hội của
ông vừa có chiều sâu, vừa cụ thể lại vừa có tầm khái quát cao. Trong những
phóng sự tiêu biểu ông có cách tiếp cận vấn đề các tệ nạn xã hội rất thông minh,
sắc sảo. Ông thường có thói quen đi thẳng vào cốt lõi của sự thật và bản chất của
hiện tượng. Với mỗi hiện tượng, vấn đề cụ thể, ông lại tìm được một con đường
khám phá riêng độc đáo và đầy bản lĩnh khi lách mũi dao nhọn phanh phui, mổ
xẻ, phơi bày toàn bộ sự thật, cho dù là sự thật đau đớn của loài người.
Phóng sự của Vũ Trọng Phụng thường có kết cấu chặt chẽ, cách trần thuật
linh hoạt. Nhiều trang phóng sự của ông như những thước phim tài liệu sinh
động quay từ toàn cảnh đến cận cảnh rồi đến đặc tả. Phóng sự của ông có thiên
hướng tiểu thuyết hóa và giàu kịch tính. Ngòi bút phóng sự của ông có khả năng
phác thảo tài tình chân dung nhân vật và tái hiện sinh động những đám đông
bằng một thứ ngôn ngữ sắc sảo, có giọng điệu riêng.
Cùng với Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng xứng đáng là cây bút phóng sự
Việt Nam trước cách mạng.
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 17

Chương 2. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG
PHÓNG SỰ VŨ TRỌNG PHỤNG

2.1. Hiện thực đời sống qua phóng sự của Vũ Trọng Phụng
Sinh thời, Vũ Trọng Phụng nổi danh trước hết ở thể tài phóng sự. Thiên
phóng sự đầu tay Cạm bẫy người rồi Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô… đã
làm xôn xao cả dư luận. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng những thiên phóng
sự của cây bút “sắc sảo và khôn ngoan” (Vũ Ngọc Phan) ấy, như là những
chàng lính ngự lâm cừ khôi, bảo vệ cho cái “ngai vàng” của “ông vua phóng sự”
mà cho đến nay chưa có người “kế vị”.
Giá trị của một thiên phóng sự trước hết là ở ý nghĩa vấn đề mà nó đặt ra

hoàn toàn mang ý nghĩa hình thức đối với gái mại dâm; bởi lẽ nhà lục xì chỉ đảm
đương nổi chưa đầy hai trăm con người, năm nghìn đĩ lậu mà chỉ có một thanh
tra người Pháp chỉ huy năm, sáu thầy đội con gái, “quản” mười sáu nhà thổ
chung, mười lăm nhà thổ riêng, ba trăm ba mươi bảy cái phòng ngủ của nhà săm
trong một đêm, tác giả kết luận, dẫn lời chính bác sĩ Joyeux: “cảnh sát phường
chèo”.
Vũ Trọng Phụng chỉ rõ hậu quả khôn lường của sự tha hóa, sự băng hoại
trên phương diện đạo đức, xã hội, nhân phẩm và giống nòi. Tệ nạn mại dâm là
một căn bệnh trầm kha, kinh niên, lây lan trong xã hội với một tốc độ chóng mặt
khó lòng ngăn chặn được. Một xã hội nhan nhản những nhà săm, ổ chứa như
thế, sự tha hóa, sa đọa của con người là điều khó tránh. Chưa có thời kỳ nào
trong lịch sử nước ta, nạn mại dâm lại hoành hành đến như vậy. Chỉ cần ra nhà
độ mươi thước, xa vợ con độ mươi phút, một người đàn ông lương thiện, một
người chồng, một người cha đáng kính có thể dễ dàng sa bẫy bọn ma cô bở
những lời đường mật mồi chài của chúng:
- “Dạ bẩm, chắc chắn lắm ạ! Người buôn tơ ở Đình Bảng đấy! Cẩn
thận lắm vì lần đầu tiên cô ta muốn kiếm thêm”
- “Ở nhà quê mới ra đây có hai hôm… mặc váy cẩn thận và chưa
biết đi guốc!”
Gần gũi với gái mại dâm là “nghề” lấy Tây. Đó cũng là một loại mại dâm
trá hình, mại dâm dài hạn. Kỹ nghệ lấy Tây là phóng sự tập trung về vấn đề xã
hội “nóng” này và cũng là phóng sự duy nhất ở giai đoạn 1930 – 1945 đề cập tới
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 19

vấn đề mại dâm trá hình. Tập phóng sự 10 chương làm sống dậy cả lịch sử hình
thành và phát triển của nghề lấy Tây thể hiện khả năng quan sát, phát hiện và
nhập cuộc mau lẹ của tác giả. Do nhiều nhân tố, cái sự lấy Tây cũng diễn ra có
tính “đặc thù”, trong xã hội thực dân phong kiến. Hơn 70 năm trước, lấy Tây là
chuyện động trời, bởi ông Tây thời ấy đồng nghĩa với “ông” thực dân, kẻ cướp

sen Đũi, thằng bé ho lao,con ở bị điện giật.Đối lập với chúng là những bộ mặt lì
lợm,khả ố mất hết nhân tính của một mụ đưa người,những ông chủ bà chủ keo
bẩn,tàn ác. Con sen Đũi “đi ở năm 12 tuổi, suốt ngày làm việc như trâu ngựa ăn
đói làm no,mỗi ngày độ 300 lần bị mụ chủ chửi xả tiên sư cha,để rồi một năm
sau bị chính mụ ta cho vào “xiếc”.Ở tuổi 13 sự trinh trắng của em đã bị tước
đoạt trắng trợn.Trong tiếng nói thảng thốt,đau thương của em hằn lên từng dòng,
từng chữ bằng máu,vò xé lòng ta biết nhường nào! “cha tiên nhân năm đời mười
đời nhà nó !Chính nó làm cho tôi mất tân!Anh ơi,tôi lúc ấy mới 13 tuổi đầu mà
nó nhét giẻ vào mồm tôi,giữ hai chân tôi thằng oẳn cứ việc hiếp lấy hiếp để”.
Sau khi bị cưỡng đoạt,em bé được trả công hai đồng bạc.Ba ngày sau
chính thức gia nhập làng mại dâm.Những bức tranh hiện thực ấy vừa phơi bày
bản chất xấu xa của một chế độ,vừa ẩn chứa một tấm lòng cao cả của tác
giả.Không có tấm lòng nhân đâọ xót thương không có một traí tim đồng cảm,
không thể viết những dòng như thế, không thể đưa ra những nhận xét tinh tế và
sâu sắc về mặt trái của xã hội Hà thành: “Nó đã cất tiếng gọi dân quê bỏ những
nơi đồng khô, cỏ héo để đến đây chết đói một lần thứ hai sau khi bỏ nhà bỏ cửa.
Nó đã làm cho giá loài người ngang hàng với giá loài vật, nó đã làm cho một
bọn trẻ đực vào nhà hỏa lò và một bọn trẻ cái làm nghề mãi dâm”.
Xen kẽ trong các chương đoạn, Vũ Trọng Phụng hạ bút nhận xét đôi dòng
như một sự ngẫu nhiên, tạt ngang. Song đó chính là những lời phê phán mạnh
mẽ, những cú “đá móc” hóc hiểm, đánh vỡ mặt khi ông viết: “Cái giá trị làm
người, nghĩa là không bằng giá súc vật. Thật vậy, tôi thấy một vài con chó còn
được chủ mua thịt bò cho ăn. Có khi con chó mỗi tháng khiến chủ tốn kém hơn
một đứa tôi tớ trong nhà”. Sự biến đổi số phận của những em bé đi ở, gắn liền
với sự tha hóa và tính qui luật của xã hội. Con đường thơ dại của những kiếp đời
thơ dại từ thôn quê trôi dạt ra thành thị chỉ là thay đổi vị trí, thay đổi hoàn cảnh
thuần túy trên phương diện vật lý của sự chuyển động, thật ra về căn bản không
có gì khác nhau. Đây không phải là sự xê dịch của những quân cờ trên bàn cờ,
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 21

sắc sảo, thắm đượm nhân tình của Vũ Trọng Phụng, thế giới cờ bạc hiện lên
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 22

đậm nét với tất cả cái xấu xa đa dạng của nó. Những con bạc xuất hiện trong tác
phảm không phải với tư cách cá nhân đơn lẻ, chúng đủ tầm vóc đại diện cho cả
một lực lượng xã hội, theo đúng cái nghĩa đen “sinh nghề tử nghiệp”. Cũng như
nghề mại dâm, nạn cờ bạc lây lan mạnh mẽ dưới sự chi phối, thống trị của đồng
tiền trong xã hội. Nó có sức mạnh vô hình ghê gớm. Bất kỳ một đối tượng nào,
một khi rơi vào ổ nhện với những mạng lưới tổ chức, với các chân rết giăng
“thiên la địa võng” khắp Hà Thành, lập tức sẽ bị sa lưới, bị ăn sống, nuốt tươi.
Đặc sắc của thiên phóng sự này ở chỗ tác giả không miêu tả thuần túy các sự
kiện, không chỉ cung cấp cho độc giả hàng đống tư liệu về nghề cờ bạc như một
cuốn bách khoa của nghề mà còn nhìn thấy bản chất sự tha hóa của con người
trong xã hội trước sức mạnh đông tiền mà chưa một xã hội nào, một thời đại nào
lại có sức tàn phá, hủy hoại mạnh mẽ nhanh chóng đến vậy.
Bằng ngòi bút sắc nét, Vũ Trọng Phụng miêu tả cận cảnh, những canh bạc
trên chiếu – nơi làng bịp tung quân xuất trận với tất cả các ngón đòn, dữ dội, áp
đảo với những bức chân dung cụ thể của một ông phán: “lương tháng gần mười
lạng vàng, nhưng tháng nào cũng vậy cứ đến mồng mười là nhà đã không còn
đến một xu”, một ông chủ báo thua một canh tài bàn một trăm sáu mươi ba
đồng, gần bằng bảy lạng vàng, một nhà buôn “nướng” một nghìn ba trăm đồng
chỉ một canh xóc đĩa. Cờ bạc hoành hành như một thứ giặc bên cạnh bốn loại
giặc “thủy, hỏa, đạo, tặc” mà dân gian từng tổng kết. Nó mạnh mẽ đến với nhà
đương cũng phải nhắm mắt bó tay vì không sao đủ sức xét nổi. Mặt khác nạn cờ
bạc cũng chính là con đẻ của xã hội ấy, nó sinh ra cùng xã hội, nó phát triển và
tồn tại mãi trong lòng xã hội, chừng nào mà ở đó mọi thứ quan hệ giữa người
với người vẫn được xây dựng trên nền tảng đồng tiền, vẫn tuân thủ qui luật “cá
lớn nuốt cá bé”.
Không thi vị hóa cuộc sống, không nhìn cuộc sống từ cái vỏ hào nhoáng

tài bàn tay tư, tấm lòng đi bịp từ nay xin chừa, cái lưới nhện, kẻ ở với người về,
(Cạm bẫy người); đầu và tai, cự môn thê thiếp, mày muốn nhận tao làm chồng,lá
gió cành chim, suzanne muốn…và không muốn, ai muốn hóa ra sư tử, mất bức
thư tình, Sơn Tinh, Thủy Tinh, tư tưởng độc quyền, (Kĩ nghệ lấy Tây); cái xấu
của thành phố, nàng hơ của gái lục xì, vài con số và một ít lịch sử, sự cần hại
phải có, cuộc đi bộ trong nhà lục xì, bọn gái của sổ đoạn trường, một ngày khám
bệnh, học trò và cô giáo, cái quan điểm của nhà chuyên trách, cầm giấy, xé giấy,
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ TRONG PHÓNG SỰ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Đinh Thị Ngà – ĐHSP Văn – Sử K50 24

tương tai sẽ ra sao (Lục xì); Mở đầu, đêm ấy tại hàng cơm, muốn bán 16 người,
cái giá trị làm người, cuốn tiêu thuyết của con sen Đũi, sự cám dỗ với mảnh hồn
ngây thơ, ánh sáng của kinh thành, bi hài kịch, đầy tớ nói xấu chủ nhà, tôi là tôi,
(Cơm thầy cơm cô).
Qua việc khảo sát tôi thấy trước hết tiêu đề của phóng sự ở đây ngắn gọn,
có tiêu đề chỉ hai từ (xé giấy; cầm giấy), ba từ (ba nhân vật, đầu và tai, cái lưới
nhện), nhiều nhất là mười từ (nạn kinh tế, sở liêm phóng với ông Ấm B).
Cách đăt tiêu đề ngắn gọn sẽ gây được chú ý của độc giả, chỉ cần nhìn
thoáng qua là đập ngay vào mắt không cần tốn nhiều thời gian để “đọc” nữa.
Đây là một tiêu chí hấp dẫn người đọc.
Thứ đến là dùng ẩn dụ trong cách đặt tiêu đề như: Sơn Tinh và Thủy Tinh,
Học trò và cô giáo, Ánh sáng của kinh thành, Xưởng chế tạo khí giới…
Về cách sử dụng trong tiêu đề Sơn Tinh và Thủy Tinh vừa đọc lên độc giả
sẽ thấy nghi ngờ, tại sao trong thời hiện đại lại có Sơn Tinh, Thủy Tinh ở đây.
Điều đó sẽ kích thích độc giả đọc tiếp câu chuyện. Chủ hôn ở đây không phải là
“vua Hùng” mà là một me (Thị Cầu) đồng thời là cô dâu, hai chàng lính lê
dương một già một trẻ đã tình nguyện dâng “trái tim” dưới chân “người đẹp”,
kết quả của màn kén rể, chú rể già tuổi hơn đã thắng trận bởi ‘tiền” nhiều hơn.
Một sự phối duyên đầy kì lạ, không bởi tiêu chuẩn “môn đăng hộ đối” hay tâm
đầu ý hợp, mà thước đo là tiền. Cho độc giả một cách nhìn mới trong những

Phụng có một gia đình phải lo - một mẹ già, một người vợ và một con thơ thì
phóng sự cũng là một nghề để kiếm sống.
2.2.2.Ngôn ngữ phóng sự Vũ Trọng Phụng
Ngôn ngữ trong một tác phẩm văn học thường là những kí hiệu nghệ thuật
vừa thể hiện tài năng, phong cách của nhà văn, vừa tham gia trực tiếp vào việc
xây dựng kiến trúc tác phẩm. Thông qua ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm
ta nhận ra đươc chân dung phong cách của nhà văn ấy.
Những năm đầu thế kỉ XX, thể loại phóng sự bắt đầu xuất hiện ở nước ta
và Vũ Trọng Phụng là một trong ba người mở đầu cho thể loại báo chí mới mẻ
này.
Đọc các phóng sự của Vũ Trọng Phụng ta thấy tác giả rất có ý thức trong
việc sử dụng ngôn ngữ sao cho thật ấn tượng. Trong các phóng sự của mình Vũ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status