TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG ôn tập môn KINH tế CHÍNH TRỊ ở VIỆT NAM - Pdf 43

NỘI DUNG KTCT VN
Câu 1. Có ý kiến cho rằng: Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện
nay làm suy yếu, phá vỡ quan hệ sản xuất, xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Hãy bình
luận ý kiến trên?
Bình Luận: Khẳng định ý kiến trên là sai; đi ngược nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin và quan điểm của Đảng. Đồng thời, không đánh giá đúng thực tiễn phát triển kinh tế
nhiều thành phần ở nước ta trong thời gian qua.
Giải thích:
- Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta là tất yếu khách quan.
Khái niệm: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta là tổng thể các thành phần kinh tế cùng tồn tại trong nền kinh tế quốc dân
thống nhất, mỗi thành phần kinh tế có vị trí, vai trò và tỉ trọng khác nhau, nhưng có mối
quan hệ tác động lẫn nhau, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Sự tồn tại của các thành phần kinh tế là khách quan, vì:
- Xuất phát từ, đặc trưng cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung và
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta nói riêng còn tồn tại đan xen hai kết cấu kinh tế - xã
hội cũ và mới: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Cái cũ vừa bị đánh bại, chưa mất hẳn
và còn có cơ hội hồi phục, trong khi cái mới vừa ra đời, còn non yếu, đòi hỏi phải có thời
gian nhất định để cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới mà không thể chủ quan nóng vội.
+ C.Mác là người đầu tiên trình bày tư tưởng về thời kỳ quá độ trong tác phẩm Phê
phán cương lĩnh Gôta. C.Mác đã dự báo những nét cơ bản nhất của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa cộng sản.
+ Kế thừa những tư tưởng của C.Mác, V.I.Lênin chỉ rõ: “Về lý luận, không thể nghi
ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản có một thời kỳ quá độ nhất
định. Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kết
cấu kinh tế xã hội ấy”.
Đặc trưng cơ bản của thời kỳ quá độ: Thời kỳ quá độ là thời kỳ còn tồn tại 2 kết cấu
1




thiết đặt ra là phải giải phóng, huy động mọi tiềm năng, nguồn lực trong xã hội phục vụ cho
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đây là trách nhiệm và cũng là quyền lợi của mọi cấp,
mọi ngành và toàn xã hội; trong đó thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân có vai trò to
lớn và là một trong những động lực quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước cần được phát huy. Thực tế công cuộc đổi mới đất nước thời gian qua cho thấy,
kinh tế tư nhân (tư bản tư nhân và cá thể, tiểu chủ) có tác dụng to lớn trong việc huy động
vốn, mở mang ngành nghề, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều đối tượng trong xã hội, góp
phần phát triển nhanh lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết nhiều
vấn đề xã hội bức xúc. Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế tạo tiền đề khắc phục tình trạng
độc quyền, hình thành quan hệ hợp tác và cạnh tranh đa dạng, nên chúng đều có tác dụng
tích cực đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, là động lực của kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
- Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần:
duy trì cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn thể hiện sự dân chủ hoá về mặt kinh tế, tạo nền
tảng vật chất mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Quyền dân chủ về mặt kinh tế thể hiện ở chỗ mọi công dân có quyền tự do lựa chọn hình
thức tổ chức kinh tế hay tham gia một thành phần kinh tế cụ thể tuỳ theo điều kiện, khả
năng thực tế của họ mà không có sự phân biệt đối xử. Nhà nước khuyến khích mọi cá nhân
hay tổ chức được tự do phát triển sản xuất kinh doanh không hạn chế quy mô, trình độ ở
những ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho quốc kế dân sinh mà pháp luật không cấm; đồng
thời khuyến khích quá trình hình thành các hình thức liên kết, hợp tác đa dạng giữa các
thành phần và tổ chức kinh tế nhằm tăng cường sức mạnh và nâng cao hiệu quả trong các
hoạt động kinh tế, hướng chúng đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội một cách tự giác.
* Mục tiêu xây dựng CNXH ở nước ta
Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của
lịch sử.
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:
Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

HĐH đất nước. Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên tai
4


nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách. Tuy nhiên, giai
đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm.
Năm 2000-2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP bình
quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện hành,
đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640
USD.
Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu tấn lương thực, Việt
Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, nước ta đứng thứ 2 trên
thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2 về hạt điều, thứ nhất về
hạt tiêu.
2005-2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%. Mặc dù khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
nước ta đạt cao. Trong 5 năm, tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỉ USD, vượt 77% so với
kế hoạch đề ra. Tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 150 tỉ USD, gấp hơn 2,7 lần
kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001-2005. Tổng vốn ODA cam kết đạt
trên 31 tỉ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỉ
USD, vượt 16%. GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD. Năm 2011 ước tính tăng 5,89%
Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
gắn sản xuất với thị trường.
Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988 là 46,3%,
năm 2005 còn 20,9%, năm 2010 còn 20,6%. Trong nội bộ ngành nông nghiệp cơ cấu trồng
trọt và chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năng
suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu.
Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục. Năm 1988 là 21,6%, năm
2005 lên 41%. Công nghiệp và xây dựng phát triển mạnh với thiết bị công nghệ ngày càng
hiện đại.

gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, thực hiện các cam kết về Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, gia nhập tổ chức thương mại
thế giới (WTO)...Đến nay Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200 nước và vùng
lãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, tạo ra một bước phát
triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại.
6


Thực hiện gắn kết phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, đời sống
của đại bộ phận dân cư được nâng lên rõ rệt.
Một thành công lớn đầy ấn tượng của nước ta qua 25 năm đổi mới là đã giải quyết có
hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội, các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng
lớp dân cư, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân được nâng cao.
Trước hết, công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt, vượt
mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Từ năm 2000 đến năm 2005, tạo việc
làm cho 7,5 triệu lao động. Năm 2005, thất nghiệp ở thành thị giảm xuống còn 5,3%; thời
gian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 80%.
Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh từ 200 USD năm 1990 lên khoảng 1168
USD năm 2010.
Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng và có nhiều tiến bộ. Mạng lưới
y tế được củng cố và phát triển, y tế chuyên ngành được nâng cấp, ứng dụng công nghệ tiên
tiến; việc phòng chống các bệnh xã hội được đẩy mạnh; tuổi thọ trung bình từ 68 tuổi năm
1999 đến nay nâng lên trên 72 tuổi.
Câu 2: Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và BVTNMT.
Phân tích cơ sở lý luận của luận điểm trên. Phê phán quan điểm sai trái?
Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại về công
nghiệp hoá, hiện đại hóa vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta đã đưa ra quan niệm về
công nghiệp hoá, hiện đại hoá như sau: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình
chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh

các mục tiêu và giải pháp phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển hiện đại.
+ Từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX cho tới nay, khoa học và công nghệ
(KH&CN) đã có những bước phát triển kỳ diệu, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghệ
thông tin (CNTT). Sự phát triển cực kỳ nhanh chóng của các ngành công nghệ cao, như:
CNTT, công nghệ sinh học, công nghệ nanô... đang hội tụ với nhau để tạo thành nền tảng
cho một hệ thống công nghệ mới của thế kỷ XXI - công nghệ của nền KTTT. Hệ thống
công nghệ mới này đã và đang làm biến đổi sâu sắc các quá trình sản xuất, cách thức sản
xuất, kinh doanh và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người. Đây không chỉ là cách
mạng trong kỹ thuật, trong kinh tế mà còn là cách mạng trong các khái niệm, tư duy, cách
sống, cách làm việc và trong các quan hệ xã hội…
+ Đi đôi với quá trình biến đổi lực lượng sản xuất, từ kinh tế công nghiệp chuyển lên
KTTT, là quá trình toàn cầu hóa (trên thực tế đang hình thành nền KTTT toàn cầu). Đó là
8


xu thế phát triển tất yếu khách quan, xu thế ấy lôi cuốn tất cả các quốc gia, không loại trừ
ai.
>> Như vậy, đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát triển KTTT là phương thức xây
dựng một đất nước công nghiệp mới trong điều kiện của cuộc cách mạng KH&CN, của xu
hướng toàn cầu hóa kinh tế đang gia tăng mạnh mẽ.
- Việt Nam: Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng, CNH,HĐH là
một quá trình lịch sử tất yếu mà Việt Nam phải trải qua nhằm cải biến nước ta thành một
nước công nghiệp, có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ
sản xuất tiến bộ; trang bị và tái trang bị công nghệ mới nhất cho tất cả các ngành kinh tế
quốc dân, chuyển từ lao động thủ công lạc hậu sang sử dụng lao động với công nghệ
(phương tiện, phương pháp) tiên tiến, hiện đại, có hàm lượng trí tuệ cao; giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao chất lượng cuộc sống
của con người, bảo vệ nền kinh tế độc lập, tự chủ và đưa đất nước đi lên CNXH một cách
vững chắc.
+ Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa kinh tế và sự phát triển KTTT đang làm thay đổi

nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều mặt yếu kém, nhất là chất lượng tăng trưởng thấp, phát
triển chưa bền vững. Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng đã nêu rõ: “Tăng trưởng
kinh tế chưa tương xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh
tế còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm” 3. Nền kinh tế nước ta đang còn dựa chủ yếu
vào tài nguyên và lao động, giá trị do tri thức tạo ra chưa đáng kể. Cơ cấu kinh tế vẫn còn
nặng về nông nghiệp và khai thác tài nguyên. Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chủ yếu là
do vốn (chiếm 52,7%). Giá trị xuất khẩu tuy khá cao, nhưng hiệu quả kém: sản phẩm xuất
khẩu chủ yếu là nông sản và nguyên liệu ít qua chế biến. Năng suất lao động ở nước ta còn
thấp hơn từ 2 đến 15 lần so với một số nước ASEAN…
Nguyên nhân của những yếu kém trên là do: công tác đào tạo nguồn nhân lực còn
bất cập trước yêu cầu phát triển KTTT (lực lượng lao động dồi dào, nhưng tỷ lệ qua đào tạo
rất thấp, cơ cấu đào tạo lại bất hợp lý, chất lượng đào tạo còn thấp); năng lực khoa học và
công nghệ quốc gia còn yếu; kết quả ứng dụng những công trình, bằng sáng chế phát minh
khoa học còn ít và thấp so với các nước; thị trường KH&CN chậm được hình thành; sự gắn
kết hoạt động KH&CN với giáo dục - đào tạo và sản xuất, kinh doanh còn yếu …
10


- Quá trình CNH, HĐH chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm
trọng về môi trường. Nhiều vấn đề cấp thiết đối với môi trường
+ Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện nước ta có gần 4000 cơ sở
sản xuất, hơn 1500 làng nghề gây ô nhiễm, hơn 200 KCN cần được kiểm soát về khả năng
gây ô nhiễm. Thực tế là, ô nhiễm nguồn nước, không khí đang lan rộng không chỉ ở các
KCN, khu đô thị, mà ở cả nhũng vùng nông thôn; đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm;
biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra triều cường và những hậu quả khôn lường; thành
quả phát triển của nhiều địa phương trong nhiều năm chỉ sau một đợt thiên tai có thể bị xóa
sạch.
+ Chỉ tiêu tăng GDP gấp 2,2 lần trong 10 năm tới với mức tăng trưởng công nghiệp
hằng năm 13% sẽ làm trầm trọng hơn tình trạng ô nhiễm ở các KCN và vùng đô thị; việc
CNH-HĐH các ngành công nghiệp nặng gây ra những ảnh hưởng không thể bỏ qua với môi

- Về cơ chế thực hiện chủ trương.
* Giải pháp:
Một là, thống nhất nhận thức về chủ trương...Thông qua giáo dục tuyên truyền trong
mọi tầng lóp nhân dân...
- Những yếu kém, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường trong thời gian qua
chủ yếu là do các cấp các ngành thường nặng về quan tâm tới các chi tiêu tăng trưởng kinh
tế, chưa đảm bảo hài hòa, cân bằng trong phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.
- Do đó, cần có sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng và toàn xã hội về nhận
thức và hành động, trong chỉ đạo điều hành và đặc biệt trong tổ chức triển khai các hoạt
động bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, gắn với phát triển KTTT.
Hai là, Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững là biện pháp hữu hiệu nhất có
khả năng phòng ngừa và hạn chế tối đa các tác động xấu đối với môi trường trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH-HĐH, phát triển KTTT. ''Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình dự án đầu
tư''.''chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; từng bước phát triển
năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch”.
- Các mối quan tâm về môi trường cần được lồng ghép ngay từ quá trình ra các quyết
định về phát triến kinh tế và xã hội, tất cả các dự án đầu tư phải có báo cáo đánh giá tác
12


động môi trường, được Bộ hoặc Sở Tài nguyên - Môi trường thẩm định trước khi được phê
duyệt.
- Tăng cường việc kiểm soát ô nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lý chất thải, nhất là
các chất thải trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ y tế.
- Khắc phục các khu vực môi trường đã bị ô nhiễm, suy thoái; nâng cao khả năng và
nguồn lực điều tra nắm chắc các nguồn tài nguyên để có kế hoạch bảo vệ, khai thác hợp lý,
bảo vệ đa dạng sinh học. Nói cách khác, bảo vệ môi trường phải vừa là mục tiêu, vừa là nội
dung của quá trình phát triển bền vững.
Ba là, Nhà nước cũng cần sử dụng công cụ tài chính nhằm khuyến khích đầu tư vào

theo nhu cầu xã hội.
Câu 3: Cơ sở lý luận, thực tiễn, đặc trưng nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta?
Vì sao Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ?
Kinh tế thị trường, theo nghĩa hẹp, là khái niệm dùng để chỉ một giai đoạn phát triển
cao của kiểu tổ chức kinh tế sản xuất hàng hóa, ở đó, hầu hết các yếu tố đầu vào và sản
phẩm đầu ra của sản xuất đều mang hình thái hàng hóa, tức là được trao đổi, mua bán trên
thị trường trước khi đi vào tiêu dùng cho sản xuất hoặc cho sinh hoạt.
Những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường.
Thứ nhất, Các nguồn lực đầu vào của sản xuất mang hình thái hàng hóa, làm xuất
hiện các loại thị trường mới.
Thứ hai, thị trường chịu sự chi phối bới các quy luật kinh tế khách quan.
Thứ ba, lợi nhuận tối đa trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy hoạt động của các chủ
thể kinh tế.
Thứ tư, nền kinh tế mở cửa, hội nhập
>> Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ảnh trình độ phát triển
nhất định của văn minh nhân loại.
- Từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tố
quyết định sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã biết lợi dụng
tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh
14


doanh, tìm kiếm lợi nhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã
hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạn
phát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển.
- Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng. Bên cạnh
mặt tích cực nó còn có mặt trái, có khuyết tật từ trong bản chất của nó do chế độ sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa chi phối. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, càng ngày

năng động, kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút cuộc đã không thành công.
Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở Đông Âu vào cuối
những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã làm lộ rõ những khuyết tật của mô
hình kinh tế cứng nhắc phi thị trường, mặc dù những khuyết tật đó không phải là nguyên
nhân tất yếu dẫn đến sự sụp đổ.
* Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế - kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp,
lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề.
- Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân
Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng đi lên chủ
nghĩa xã hội bằng cách nào ? Đó là câu hỏi lớn và cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật không
đơn giản.
- Suốt một thời gian dài, Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đã áp dụng mô hình
chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp. Mô
hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ
đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mô hình này bộc lộ những khuyết điểm; và trong
công tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm
đó là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội,
không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế
Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 121986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủ
nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá
16


độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị trường,
phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạch
toán kinh doanh.

thực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây
là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Cũng có
thể nói kinh tế thị trường là “cái phổ biến”, còn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là “cái đặc thù” của Việt Nam, phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của Việt
Nam.
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp thu
có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị
trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật –
công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của cải, góp phần làm giàu cho xã
hội và cải thiện đời sống nhân dân; đồng thời phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn
chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc
liệt, bóc lột và phân hóa giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội. Đây
cũng là sự lựa chọn tự giác con đường và mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt lý luận
Mác – Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ
thể của Việt Nam.
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của
kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản
chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý, và phân phối.
Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng
sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng
cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ
sản xuất mới, tiên tiến.
18




Có ý kiến cho rằng, không thể có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; rằng
chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường không thể dung hợp với nhau, nếu đem “ghép”định
hướng xã hội chủ nghĩa vào kinh tế thị trường thì chẳng khác nào trộn dầu vào nước, tạo ra
một cơ thể “đầu Ngô mình Sở”. Theo chúng tôi, ý kiến này không đúng. Không đúng là vì,
hoặc ý kiến này muốn trì kéo Việt Nam trong quỹ đạo phát triển của chủ nghĩa tư bản, phủ
nhận định hướng xã hội chủ nghĩa, không muốn Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là điều
trái với quy luật khách quan, không thể chấp nhận. Hoặc ý kiến này không thoát ra được khỏi
tư duy cũ, đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, cho kinh tế thị trường là cái
riêng có của chủ nghĩa tư bản, từ đó “dị ứng” với kinh tế thị trường, không thấy hết những
yếu tố mới, xu hướng mới của kinh tế thị trường trong điều kiện mới của thời đại, lặp lại sai
lầm của một thời trước đây.
Cũng có ý kiến nhấn mạnh một chiều những đặc trưng chung, những cái phổ biến
của kinh tế thị trường, chưa thấy hết hoặc còn phân vân, nghi ngờ về những đặc điểm riêng,
những cái đặc thù của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó chưa tin là
kinh tế thị trường có thể phát triển trên cơ sở chế độ công hữu là nền tảng, kinh tế quốc
doanh là chủ đạo; rằng trong kinh tế thị trường không thể có kế hoạch, không thể thực hiện
được công bằng xã hội, không thể khắc phục được những tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị
trường, v.v.. Lại có ý kiến băn khoăn cho rằng, việc lựa chọn kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa thực chất là trở về với chủ nghĩa tư bản, có thêm định ngữ “định hướng xã
hội chủ nghĩa” thì cũng chỉ là để cho yên lòng, cho có vẻ “giữ vững lập trường” mà thôi,
trước sau gì thì cũng trượt sang con đường tư bản chủ nghĩa.
Chúng tôi cho rằng, những băn khoăn này là dễ hiểu, bởi vì đây là những điều còn rất
mới mẻ, chưa có tiền lệ, nếu không xác định rõ nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa và
kiên trì vai trò quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường thì
những điều đó rất dễ xảy ra. Chúng tôi còn phải vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm.
Nhưng có điều cần khẳng định là: trong điều kiện mới của thời đại ngày nay, nhất định
không thể duy trì mãi mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, không thể đồng nhất
kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản. Chính C.Mác đã phê phán sự lầm lẫn giữa kinh tế
hàng hóa với kinh tế tư bản chủ nghĩa của phái kinh tế học tầm thường. C.Mác khẳng định

Từ thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời gian
qua và căn cứ vào yêu cầu phát triển trong thời gian tới, có thể xác định những phương
21


hướng, nhiệm vụ cơ bản phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam như sau:
1 – Phải tiếp tục thực hiện một cách nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều
thành phần, coi các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành
quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài,
hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Không nên có thái độ định kiến và kỳ thị đối với bất cứ
thành phần kinh tế nào.
Kinh tế nhà nước phải phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là
nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ
để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những
vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất,
chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật.
Đẩy mạnh việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu của các doanh nghiệp nhà nước;
đồng thời tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu
quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước theo hướng xóa bao cấp; doanh nghiệp thực
sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm về sản xuất, kinh doanh; nộp
đủ thuế và có lãi; thực hiện tốt quy chế dân chủ trong doanh nghiệp.
Kinh tế tập thể gồm các hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt.
Các hợp tác xã dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi
những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không
giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn; liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp
nhà nước và kinh tế hộ nông thôn. Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa
học và công nghệ, thông tin, mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác
xã.
Kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà

Hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh.
Mặt khác, phải đổi mới sâu rộng cơ chế quản lý kinh tế, phát huy những yếu tố tích
cực của cơ chế thị trường, triệt để xóa bỏ bao cấp trong kinh doanh, tăng cường vai trò
quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, đấu tranh có hiệu quả chống các hành vi tham
nhũng, lãng phí, gây phiền hà. Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho
các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển; bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
23


và chính sách, kết hợp với sử dụng lực lượng vật chất của Nhà nước để định hướng phát
triển kinh tế – xã hội, khai thác hợp lý các nguồn lực của đất nước, bảo đảm cân đối vĩ mô
nền kinh tế, điều tiết thu nhập; kiểm tra, thanh tra mọi hoạt động kinh doanh theo quy định
của pháp luật, chống buôn lậu, làm hàng giả, gian lận thương mại.
Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong
đó đặc biệt coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ chế chính sách, luật
pháp, đổi mới công tác kế hoạch hóa, nâng cao chất lượng công tác xây dựng các chiến
lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; tăng cường công tác thông tin kinh
tế – xã hội trong nước và quốc tế, công tác kế toán, thống kê; ứng dụng rộng rãi các thành
tựu khoa học và công nghệ trong công tác dự báo, kiểm tra tình hình thực hiện ở cả cấp vĩ
mô và doanh nghiệp.
3 – Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, hướng vào phát triển và lành mạnh hóa xã hội,
thực hiện công bằng xã hội, coi đây là một nội dung rất quan trọng của định hướng xã hội
chủ nghĩa, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội mới. Điều đó chẳng những tạo động lực
mạnh mẽ nhằm phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động mà còn thực hiện bình đẳng
trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu chính đáng và hợp pháp, điều
tiết các quan hệ xã hội.
Trong tình hình cụ thể hiện nay ở Việt Nam, phải bằng nhiều giải pháp tạo ra nhiều
việc làm mới. Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động,
phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Từng bước mở rộng hệ
thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội. Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm

nó vận động một cách tự phát, mù quáng mà phải có lãnh đạo, hướng dẫn, điều tiết, phát
huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, vì lợi ích của đại đa số nhân dân, vì một xã hội
công bằng và văn minh. Người có khả năng và điều kiện làm được việc đó không thể ai
khác ngoài Đảng Cộng sản – là đảng phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa và
cộng sản chủ nghĩa, thật sự đại diện và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động.
Đảng lãnh đạo có nghĩa là Đảng đề ra đường lối, chiến lược phát triển của đất nước
nói chung, của lĩnh vực kinh tế nói riêng, bảo đảm tính chính trị, tính định hướng đúng đắn
trong sự phát triển kinh tế, làm cho kinh tế chẳng những có tốc độ tăng trưởng và năng suất
lao động cao, có lực lượng sản xuất không ngừng lớn mạnh mà còn đi đúng định hướng xã
25



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status