1
Môn kinh tế chính trị
Câu 1: phân tích các thuộc tính của hàng hoá. Cách xác định lượng giá trị hàng hoá
và các nhân tố ảnh hưởng tới nó
Hàng hoá là sản phẩm của lao động thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào
tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán. Vì vậy, không phải bất kì vật phẩm nào cũng là
hàng hoá.
*Hai thuộc tính của hàng hoá
- Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người
Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định, là nội dung
vật chất của của cải, vì vậy nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá
có đặc điiểm là: giá trị sử dụng không phải cho người trực tiếp sản xuất mà là cho người
khác, cho xã hội. giá trị sử dụng đến tay người khác - người tiêu dùng phải qua trao đổi
mua bán. Trong nền kinh tế hàng hoá giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.
- Giá trị của hàng hoá
muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phỉa đi từ giá trị trao đổi. GIá trị trao đổi là biểu
hiện quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau.
Thí dụ: 1m vải = 5kg thóc
Hai hàng hoá vải và thóc có gía trị sử dụng khấc nhau lại có thể trao đổi được với nhau
theo một tỷ lệ nhất định, vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có vơ sở chung là sự
hao phí sức lao động của con người. Sự hao phí đó chính là giá trị của hàng hoá.
Vậy giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong
hàng hoá đó.
Do đó, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của
giá trị.
GIá trị phản ánh mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Từ đó gía trị là một
phạm trù lịch sử nó chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá.
* Cách xác định lượng giá trị hàng hoá
Nếu giá trị hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng
hoá, thì lượng hàng hoá chính là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hoá
đó (bao gồm lao động vật chất và lao động sống). Trong sản xuất hàng hoá, hao phí lao
triển của chủ nghĩa tư bản?
*Quy luật giá trị
Nội dung của quy luật giá trị:
Quy luật giá trị là qui luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hoá. Ở đâu có sản xuất
và trao đổi hàng hoá thì ở đó có qui luật giá trị hoạt động. Qui luật giá trị yêu cầu việc
sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết.
Sự hoạt động của quy luật giá trị được biểu hiện thông qua giá cả hàng hoá trên thị
trường. Giá cả hàng hoá biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá.
trong sản xuất quy luật này yêu cầu thời gian lao động hao phí cá biệt để sản xuất hàng
hoá phải phù hợp với thời gian lao động cần thiết. Trong lưu thông (trao đổi) đối với
mỗi hàng hoá giá cả có thể bán cao hơn hoặc thấp hơn giá trị nhưng bao giờ cũng xoay
quanh giá trị. Đối với tổng hàng hoá qui luật này yêu cầu tổng giá cả sau khi bán phải
bằng tổng giá trị hàng hoá trong sản xuất. Như vậy, nhìn bề ngoài sản xuất và trao đổi
hàng hoá là công việc riêng của từng người, họ độc lập và hình như không chịu sự chi
phối nào, nhưng trên thực tế mọi người sản xuất và trao đổi hàng hoá đều chịu sự chi
phối của quy luật giá trị.
Tác dụng của quy luật giá trị:
trong nền sản xuất hàng hoá quy luật giá trị có 3 tác dụng sau:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá
+ nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy và lãi cao,
những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức
lao động. Mặt khác, những người sản xuất hàng hoá khác cũng có thể chuyển sang sản
xuất mặt hàng này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô
sản xuất càng được mở rộng.
+ nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị sẽ bị lỗ vốn. Tình hình đó
3
buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển sang mặt
hàng khác làm hco tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi, ở ngành khác
lao động là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn đó?
Mọi tư bản đều xuất hiện với một khối lượng tiền tệ nhất định và vận động theo công
thức T – H – T’, trong đó T’= T+t. Số tiền trội lên so với số tiền ứng ra ban đầu được
Mac gọi là giá trị thặng dư, ký hiệu là m. Đây là công thức chung của tư bản.
* Mâu thuẫn chung của công thức chung của tư bản:
Lý luận giá trị khẳng địng rằng giá trị hàng hoá là do lao động xã hội của người sản xuất
hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, nghĩa là nó chỉ được tạo ra trong sản xuất. Nhưng mới
thoạt nhìn vào công thức chung ta lại có cảm giác giá trị thặng dư được tạo ra trong lưu
thông. Có phải lưu thông tạo ra giá trị thặng dư? Sự thật lưu thông thuần tuý dù trao đổi
4
ngang giá hay trao đổi không ngang giá cũng không hề làm tăng thêm giá trị.
+ Trường hợp trao đổi ngang giá, những người tham gia trao đổi chỉ có lợi về mặt giá trị
sử dụng chứ không có lợi về mặt giá trị, nên không tạo ra m. Trong trường hợp trao đổi
không ngang giá, người này được lợi trong mua và bán, thì người khác sẽ mất đi khi bán
và khi mua, còn xét trên phạm vi toàn xã hội thì đó chỉ là sự phân phối lại giá trị mà
thôi.
Sự phân tích trên cho thấy trong lưu thông không làm cho T lớn lên, nhưng nếu nằm
ngòai lưu thông ( tức là tiền tệ để trong két|) thì tiền tệ cũng không làm tăng thêm giá trị.
Như vậy, mâu thuẫn của công thức chung của rư bản biểu hiện ở chỗ: tiền tệ vừa lớn lên
trong lưu thông vừa không được tạo ra trong lưu thông. Đó chính là mâu thuẫn của công
thức chung của tư bản.
Để giải quyết mâu thuẫn này phải tìm trên thị trường một hàng hoá có khả năng tạo ra
giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. ĐÓ là hàng hoá sức lao động.
* Hàng hoá sức lao động
Sức lao động là toàn bộ thể lực, trí lực của con người, là khả năng lao động của con
người.
+ Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá
Người có sức lao động được tự do về thân thể được quyền làm chủ sức lao động của
tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối.
1. Giá trị thặng dư, giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng
dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư: là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do người công nhân
làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt.
giá trị thặng dư phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa - quan hệ bóc
lột của nhà tư bản đối với lao động làm thuê.
Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa. Vì vậy, các nhà tư bản
dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư. Khái quát lại có
hai phương pháp chủ yếu để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
và sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượt
khỏi giới hạn thời gian lao động cần thiết. Ngày lao động kéo dài trong khi thời gian lao
động cần thiết không thay đổi, do đó thời gian lao động thặng dư tăng lên.
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ TBCN. Phương pháp này
được áp dụng phổ biến trong giai đoạn đầu của CNTB, khi lao động còn ở trình độ thủ
công và năng suất lao động còn thấp.
Với lòng tham vô hạn, nhà tư bản tìm mọi thủ đoạn để kéo dài ngày lao động, nâng cao
trình độ bóc lột lao động làm thuê. Nhưng một mặt, do giới hạn tự nhiên của sức lực con
người; mặt khác do đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân đòi rút ngắn ngày lao
động, cho nên ngày lao động không thể kéo dài vô hạn. Tuy nhiên, ngày lao động cũng
không thể rút ngắn đến mức chỉ bằng thời gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của
sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là tăng cường độ lao động, vì tăng cường độ lao động
cũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày, trong khi thời gian lao động tất
yếu không thay đổi.
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất
yếu và tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư với độ dài ngày lao động không thay
đổi, dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội. Việc tăng năng suất lao động xã hội,
trước hết ở các ngành sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng, sẽ làm cho giá trị lao động giảm
xuống, do đó làm giảm thời gian lao động cần thiết. Khi độ dài ngày lao động không
- Thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu
- Năng suất lao động không thay đổi
- Giá trị sức lao động không thay đổi
- Thời gian lao động tất yếu không thay đổi
Giá trị thặng dư tương đối
- Thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu
- Năng suất lao động tăng
- Giá trị sức lao động giảm
- Độ dài ngày lao động và cường độ lao động không thay đổi
Câu 5: Thế nào là tuần hoàn và chu chuyển của tư bản?Những biện pháp làm tăng
tốc độ chu chuyển của tư bản?
1. Tuần hoàn của tư bản
Mọi tư bản sản xuất trong quá trình vận động đều trải qua ba giai đoạn, tồn tại dưới ba
hình thức và thực hiện ba chức năng.
Giai đoạn 1: tư bản mang hình thức tiền tệ, thực hiện các chức năng mua các yếu tố sản
xuất tư liệu sản xuất và sức lao động, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất.
Quá trình lưu thông được biểu hiện như sau:
SLĐ
T–H
TLSX
7
Giai đoạn 2: tư bản mang hình thức sản xuất, thực hiện các chức năng sản xuất ra hàng
hoá và tạo ra giá trị thặng dư. Trong quá trình sản xuất, công nhân hao phí sức lao động,
tạo ra giá trị hàng hoá mới còn nguyên liệu được chế biến, máy móc hao mòn thì giá trị
của chúng được bảo tồn và chuyển dịch vào sản phẩm mới. Quá trình sản xuất kết thúc,
lao động của công nhân làm thuê đã tạo ra những hàng hoá mới mà giá trị của nó lớn
hơn giá trị các yếu tố sản xuất mà nhà tư bản đã mua lúc ban đầu, vì trong đó có giá trị
2. Chu chuyển của tư bản
Nghiên cứu tuần hoàn của tư bản là nghiên cứu mặt chất của sự vận động tư bản, còn
nghiên cứu chu chuyển tư bản là nghiên cứu mặt lượng hay nghiên cứu tốc độ vận động
của tư bản. Mặc dù có sự khác nhau nhưng cả hai cùng nghiêng sự vận động của tư bản.
Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới diễn ra liên tục và
lặp đi lặp lại không ngừng, thì gọi là sự chu chuyển của tư bản. Chu chuyển tư bản phản
ánh tốc độ vận động nhanh hay chậm của tư bản. Thời gian chu chuyển của tư bản laf
khoảng thời gian từ khi tư bản ứng ra dưới một hình thức nhất định đến khi nó trở về
8
cũng dưới hình thức đó nhưng có kèm theo giá trị thặng dư. Thời gian của tư bản cũng là
thời gian tư bản thực hiện được một vòng tuần hoàn. Tuần hoàn tư bản bao gồm quá
trình sản xuất và quá trình lưu thông, vậy để chu chuyển một vòng, tư bản phải trải qua
hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản xuất. Thời gian chu chuyển của tư bản cũng
bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông.
Thời gian sản xuất = thời kỳ lao động + thời kỳ gián đoạn lao động + thời kỳ dự trữ sản
xuất.
Cả thời kỳ gián đoạn lao động và thời kỳ dự trữ sản xuất đều không tạo ra giá trị sản
phẩm. Sự tồn tại hai thời kỳ này là không tránh khỏi. Nhưng nói chung thời gian của
chúng càng dài thì hiệu quả hoạt động của tư bản càng thấp. Rút ngắn thời gian này có
tác dụng quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản.
Thời gian lưu thông là thời kỳ tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Thời kỳ này bao
gồm thời gian mua, thời gian bán, kể cả thời gian vận chuyển.
Tốc đọ chu chuyển của tư bản là số vòng (lần) chu chuyển của tư bản trong một năm,
khái niệm này dùng để chỉ sự vận động nhanh hay chậm của tư bản ứng trước. Công
thức tính tốc độ chu chuyển của tư bản là:
CH
N=
Ch
giảm xuống, tăng lượng tư bản đầu tư cho sản xuất, tạo ra nhiều giá trị, giá trị thặng dư
hơn, nên làm tăng hiệu quả hoạt động tư bản.
Tóm lại, do chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, nên thời gian chu chuyển của các tư bản
khác nhau trong cùng một ngành và ở các ngành khác nhau là rất khác nhau. Để nâng
cao hiệu quả sử dụng tư bản, các nhà tư bản thường tìm mọi cách khai thác mặt thuận lợi
và hạn chế mặt không thuận lợi của những nhân tố trên để nâng cao tốc độ chu chuyển
tư bản.