1
MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo thực hiện đã có những
thay đổi lớn cùng với những đổi mới trong hoạt động kinh tế - xã hội của đất
nước. hơn 30 năm đổi mới, nhận thức của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã ngày càng trở nên sáng tỏ. Thực hiện
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh”. Giải phóng
mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu
quả mọi nguồn lực, nâng cao đời sống nhân dân. Đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo,
khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác
thoát nghèo và từng bước khá giả hơn.
Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,
trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể
ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính
sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển xã hội, văn hóa, y tế, giáo
dục và đào tạo…, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.
Hoàn thiện chế độ phân phối theo lao động, hiệu quả kinh tế, mức đóng góp vốn
cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.
Khi nghiên cứu về thể chế ở Việt Nam cũng có một số người đưa ra các
khái niệm về thể chế, mặc dù có những khác biệt nhất định, nhưng nhìn chung các
nghiên cứu đều cho rằng thể chế bao gồm các yếu tố sau: các quy tắc hay “luật
chơi” của chủ thể tham gia trò chơi, hay người chơi, các tổ chức xã hội.
2
I. Cơ sở lý luận, thực trạng thể chế của nước ta những năm đổi mới
(1986- nay).
1. Cơ sở lý luận.
a.Khái niệm thể chế.
liên quan đến các hình thức pháp lý doanh nghiệp với những loại hình sở hữu
khác nhau là cơ sở quan trọng cho việc hình thành nền kinh tế nhiều thành
phần. Với việc ban hành luật đầu tư nước ngoài (1987) luật công ty và luật
doanh nghiệp tư nhân (1990) Nhà nước đã chính thức thừa nhận sự tồn tại
hợp pháp của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước. Tiếp theo, luật doanh
nghiệp nhà nước (1995).
Bước ngoặt lớn nhất của quá trình cải cách trong những năm gần đây là
việc ban hành và thực thi luật doanh nghiệp (1999). Việc tự do kinh doanh đã
thực sự tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp các ngành nghề mà
pháp luật không cấm.
Bên cạnh đó các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp đã được ban hành nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh và phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần.
- khung pháp lý về thị trường hàng hóa.
Trong lĩnh vực này, hướng đổi mới là ban hành hướng dẫn thực hiện
quy chế và dỡ bỏ các mệnh lệnh có tính khép kín ở từng địa phương nhằm
thúc đẩy giao lưu kinh tế trong nước và quốc tế. Do vậy, pháp lệnh về hợp
đồng kinh tế ban hành năm 1989 đã tạo khuôn khổ pháp lý cho các hành vi
giao dịch kinh tế trên thị trường. Bộ luật dân sự (1995) và luật thương mại
(1997) đã được ban hành tạo khung khổ tương đối hoàn chỉnh cho tự do giao
dịch hàng hóa trên thị trường. Việc ban hành nghị định 57/NĐ- CP năm 1988
đánh dấu bước ngoặt của quá trình tự do hóa ngoại thương ở nước ta.
- Khung pháp lý cho việc hình thành và vận hành thị trường các yếu
tố sản xuất.
+ Khung pháp lý cho thị trường lao động.
Bộ luật lao động ban hành năm 1994 đã tạo nền tảng cho khung pháp lý
của thị trường lao động bằng việc công nhận quyền tự do tạo việc làm và
4
79/2002/NĐ –CP về tổ chức hoạt động của công ty tài chính…khung khổ luật
pháp cho thị trường chứng khoán cũng được bổ sung bằng nhiều văn bản
pháp quy trong đó có nghị định 90/2003/NĐ – CP quy định chức năng quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban chứng khoán nhà nước.
- Khung pháp lý cho thị trường khoa học công nghệ.
Đã có những luật như: luật thương mại 1997 về quy định nhãn hiệu
hàng hóa và xử lý hàng giả…luật khuyến khích đầu tư trong nước (1998),
luật đầu tư nước ngoài sưa đổi năm 2000, luật khoa học cong nghệ (2000),
luật sở hữu trí tuệ (20050, luật chuyển giao công nghệ (2006) là bước tiến
quan trọng trong xây dựng khung luật pháp cho thị trường công nghệ.
*Đổi mới hệ thống quản lý và chức năng quản lý của Nhà nước.
Thực tiễn quá trình đổi mới hệ thống thể chế kinh tế trong hơn hai thập niên
qua cho thấy, Việt Nam đang thực hiện theo phương thức “tiến dần từng bước” và
“điều chỉnh từng bước”. Phương thức này đã tỏ ra hữu hiệu nhằm giúp Việt Nam
hạn chế thấp nhất về tác động của khủng hoảng về kinh tế và tài chính thế giới , bảo
đảm mục tiêu kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với ổn định và duy trì trật tự xã
hội. Cùng với cải cách kinh tế, quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhất định.
Thời gian qua ở Việt Nam, điểm nổi bật là đã thiết lập rất nhiều văn bản
pháp luật và dưới luật… Nội dung pháp luật kinh tế ngày càng phù hợp hơn với
cơ chế thị trường, với thông lệ quốc tế. Đặc biệt, khung pháp luật đã cho phép
thực hiện những bước đi đầu tiên trong quá trình chuyển đổi hoạt động quản lý về
kinh tế của Nhà nước từ can thiệp trực tiếp sang tác động gián tiếp vào hoạt động
sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, một loạt cải tiến trong công tác soạn thảo,
thẩm định, ban hành văn bản cũng như kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa các văn
bản pháp luật trên diện rộng và việc phổ biến thông tin pháp luật một cách tích
cực đã góp phần làm cho luật kinh tế đi nhanh vào cuộc sống và chấp hành
6
7
1993 theo nghị định 338/HĐBT ngày 20/11/1991. Sự thay đổi đó đã giảm bớt tài
trợ của ngân sách đối với các doanh nghiệp thua lỗ và thúc đẩy doanh nghiệp phải
quản lý sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn.
- Khu vực hợp tác xã.
Thực hiện giải thể các hợp tác xã yếu kém, chuyển đổi hợp tác xã kiểu cũ
sang hợp tác xã kiểu mới hoặc thành lập mới. Từ đó hình thành hợp tác xã cổ phần,
các hình thức hợp tác giản đơn như tổ hợp tác, tổ liên kết sản xuất, hội nghề nghiệp.
-khu vực kinh tế tư nhân.
Việc rà soát các giấy phép kinh doanh hiện hành và điều kiện kinh doanh với
những ngành có điều kiện, nhất là trong lĩnh vực tín dụng, thương mại…
- Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Thủ tục cấp giấy phép đầu tư cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài ngày càng được đơn giản hóa. Hình thức thu hút đầu tư nước ngoài được đa
dạng hóa…
*Tạo lập các loại thị trường.
-về thị trường hàng hóa dịch vụ tự do hóa lưu thông hàng hóa, xóa bỏ
những quy định ngăn sông cấm chợ…
- Về thị trường lao động.
- Về thị trường vốn.
- Về thị trường khoa học công nghệ.
- Về thị trường bất động sản.
b. Đánh giá chung về cải cách thể chế.
* thành tựu.
- Chuyển biến cơ bản của thể chế là Nhà nước trước đây quản lý kinh tế, xã
hội chủ yếu bằng chính sách, nghị quyết và mệnh lệnh hành chính thì nay pháp luật
đã trở thành công cụ quản lý chủ yếu của Nhà nước.
- Tạo khung khổ pháp lý cho việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, xác đinh chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu.
9
năm qua, Nghị quyết đã xác định mục tiêu, quan điểm, chủ trương và giải
pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa như sau:
1. Mục tiêu, qua điểm
a. Mục tiêu:
tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường nhằm:
Thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, hội nhập kinh
tế quốc tế thành công, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện thắng lợi mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh", xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Từng bước xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật bảo đảm cho nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển thuận lợi.
Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đi đôi với phát triển mạnh
mẽ các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp; hình thành một số tập
đoàn kinh tế, các tổng công ty đa sở hữu, áp dụng mô hình quản trị hiện đại, có
năng lực cạnh tranh quốc tế.
Đổi mới cơ bản mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của các đơn vị
sự nghiệp công.
Phát triển đồng bộ, đa dạng các loại thị trường cơ bản thống nhất trong cả
nước, từng bước liên thông với thị trường khu vực và thế giới.
Giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa,
bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.
Nâng cao hơn hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Phát huy vai trò của
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trong quản lý, phát
triển kinh tế - xã hội.
11
hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển; Phát triển kinh
tế đi đôi với phát triển văn hoá, xã hội, y tế, giáo dục và bảo vệ môi trường; Thực
hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời
theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội;
Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, bảo đảm sự điều tiết của Nhà nước pháp
quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế vừa
tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật
kinh tế của CNXH và các yếu tố bảo đảm tính định hướng XHCN.
b. Hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các
loại hình doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất kinh doanh
Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng khẳng định sự tồn tại khách quan, lâu dài và
khuyến khích sự phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các loại hình doanh
nghiệp, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu trong nền kinh
tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loại tài sản mới, như trí
tuệ, cổ phiếu, tài nguyên nước, khoáng sản...
Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà đại diện là Nhà nước; các
quyền của người sử dụng đất theo các quy định hiện nay của pháp luật được tôn
trọng và bảo đảm.
Hoàn thiện thể chế, quy định rõ, cụ thể về quyền của chủ sở hữu và những
người liên quan đối với các loại tài sản (trí tuệ, tài sản vật chất, tài sản cổ phiếu, tài
sản nợ); bảo hộ các quyền hợp pháp. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ
của chủ sở hữu và những người liên quan đối với xã hội.
Bổ sung luật pháp, cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển sở hữu
tập thể, các tổ hợp tác, hợp tác xã; bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích của các xã
viên đối với tài sản thuộc sở hữu của các hợp tác xã.
13
Tiếp tục đổi mới, phát triển hợp tác xã và tổ hợp tác theo cơ chế thị trường,
phù hợp với các nguyên tắc: tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, cùng có lợi và phát
triển cộng đồng.
Khuyến khích tăng vốn góp, tăng vốn đầu tư phát triển, tăng tài sản và quỹ
không chia trong hợp tác xã; phát triển các tổ hợp tác, hợp tác xã đa dạng, sản xuất
kinh doanh có hiệu quả.
Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho các tổ chức kinh tế tập thể tiếp
cận các nguồn vốn; đào tạo cán bộ quản lý, lao động; trợ giúp kỹ thuật và chuyển
giao công nghệ; hỗ trợ phát triển thị trường, tham gia các chương trình xúc tiến
thương mại, các dự án đầu tư của Nhà nước.
Thực hiện nghiêm túc, nhất quán một mặt bằng pháp lý và điều kiện
kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, thành
phần kinh tế.
Khuyến khích phát triển doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước vào
các lĩnh vực mà pháp luật không cấm; tạo điều kiện để các doanh nghiệp tư nhân
tiếp cận các nguồn lực của Nhà nước trên nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng.
Khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân liên doanh, liên kết với các doanh
nghiệp nhà nước, bán cổ phần cho người lao động tại doanh nghiệp.
Tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân
để các doanh nghiệp tư nhân tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật, cơ chế,
chính sách của Nhà nước.
Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các trang trại, hộ kinh doanh,
đặc biệt là trang trại, hộ kinh doanh trong nông nghiệp và ở khu vực nông thôn,
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế.
d. Hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các yếu tố thị trường và phát
triển đồng bộ các loại thị trường
Tiếp tục hoàn thiện thể chế về giá, cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong
kinh doanh, Nghị quyết nêu rõ:
15
f. Hoàn thiện thể chế thị trường tài chính
Phát huy tốt hơn vai trò điều hành thị trường tiền tệ của Ngân hàng Nhà
nước như một ngân hàng trung ương hiện đại, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
kiểm soát lạm phát.
Từng bước mở cửa thị trường tín dụng, các dịch vụ ngân hàng phù hợp với
cam kết quốc tế.
Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại, thực hiện tốt việc cổ phần hoá
các ngân hàng thương mại nhà nước, thu hút được các đối tác chiến lược, song Nhà
nước giữ cổ phần chi phối, áp dụng các thông lệ và chuẩn mực quốc tế để nâng cao
năng lực cạnh tranh và vai trò chủ đạo của các ngân hàng này.
Đổi mới hoạt động thẩm tra, giám sát; phát triển các công cụ dự báo,
phòng ngừa rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.
Hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách cho hoạt động và phát triển
lành mạnh của thị trường chứng khoán, làm cho thị trường chứng khóan ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong huy động vốn cho đầu tư phát triển.
Đưa các sàn giao dịch chứng khoán phi tập trung vào phạm vi quản lý,
kiểm soát của Nhà nước.
Tăng tính minh bạch của thị trường. Chống các giao dịch phi pháp, các
hành vi rửa tiền, nhiễu loạn thị trường.
Năng cao năng lực dự báo, có biện pháp phòng ngừa tình trạng rút vốn
hàng loạt, ảnh hưởng xấu đến kinh tế vĩ mô.
Mở rộng từng bước quyền mua cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài và
tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam giao dịch trên thị trường chứng
khoán quốc tế.
g. Về thị trường bảo hiểm
Tạo điều kiện phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm thuộc các thành
phần kinh tế trong nước, khuyến khích hợp tác và liên kết giữa các nhà đầu tư
trong nước và ngoài nước.
17
Tăng cường sự quản lý và giám sát của Nhà nước đối với các hoạt động
trên thị trường lao động. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các tòa lao
động, xử lý tốt các trường hợp tranh chấp, bảo đảm lợi ích chính đáng của người
lao động và người sử dụng lao động.
k. Hoàn thiện thể chế thị trường công nghệ
Khi phân tích sự phát triển của tư bản cố định : C.Mác phát hiện ra xu hướng
máy móc thay thế người công nhân, cùng với sự phát triển của sản xuất thì trí thức
ngày càng trở thành yếu tố chủ yếu của quá trình sản xuất, được sản xuất ứng dụng
phổ cập ngày càng giữ vai trò quyết định, tạo ra của cải, nâng cao đời sống.
Đánh giá của C.Mác là đúng : trí tuệ của con người kết tinh trong sản phẩm
ngày càng nhiều .Như vậy để khoa học công nghệ được ứng dụng ở nước ta ngày
càng phát triển hơn chúng ta cần:
Xây dựng đồng bộ luật pháp, cơ chế, chính sách quản lý và hỗ trợ phát
triển các tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học - công nghệ và
nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp.
Khuyến khích doanh nghiệp đổi mới, nhập khẩu và ứng dụng công nghệ
mới, công nghệ tiên tiến vào sản xuất, kinh doanh: Khi phân tích tư bản cố định
C.Mác phát hiện ra (xu hướng máy móc thay thế người công nhân). Cùng với sự
phát triển của sản xuất thì tri thức ngày càng trở thành yếu tố chủ yếu của quá
trình sản xuất, được sản xuất ứng dụng, phổ cập và ngày càng giữ vai trò quyết
định, tạo ra của cải nâng cao đời sống.
Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ.
Phát triển các dịch vụ thiết kế, đo lường, đánh giá, thẩm định, giám định
chất lượng, thông tin, môi giới, chuyển giao công nghệ, tư vấn pháp lý về sở hữu
trí tuệ theo hướng xã hội hóa.
19
m. Hoàn thiện thể chế phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng về kinh tế; nâng
cao hiệu quả, hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước, tăng cường sự tham gia của
nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp vào
quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và phát triển kinh tế,
tăng cường chỉ đạo nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để xác định rõ và đầy
đủ mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là những nội
dung của định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường.
Coi trọng đổi mới tư duy, công tác tuyên truyền, giáo dục cho đội ngũ cán
bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thống nhất nhận thức về kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.
Bổ sung, phát triển Cương lĩnh, đường lối, các chủ trương, chính sách lớn
về phát triển kinh tế - xã hội của Đảng; lãnh đạo quá trình tiếp tục hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp uỷ đảng các cấp phù hợp với yêu cầu
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước vận dụng và phát huy mặt tích cực, hạn chế ngăn ngừa mặt tiêu
cực của cơ chế thị trường; tiếp tục tạo ra những tiền đề, điều kiện để nền kinh tế
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phát triển lành mạnh các thị trường tài chính, tiền tệ chứng khoán, bảo hiểm.
Ngăn ngừa và xử lý kịp thời những biến động xấu đối với ổn định kinh
tế vĩ mô.
Phát triển lĩnh vực xã hội, gắn thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
với phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường.
Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ cho các Xí nghiệp vừa và nhỏ đi
đầu trong ứng dụng công nghệ, cải tiến công nghệ . Đồng thời quá trình sản
xuất các DN phải nghiên cứu mình ứng dụng công nghệ gì ? sản xuất cái gì ?