LUẬN văn THẠC sĩ ý THỨC bảo vệ CHỦ QUYỀN BIỂN đảo của NHÂN dân TỈNH bà rịa VŨNG tàu HIỆN NAY - Pdf 43

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Biển, đảo Việt Nam là chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của Tổ
quốc Việt Nam XHCN. Bảo vệ vững chắc CQBĐ là một trong những nhiệm vụ
chiến lược và cấp bách của cách mạng Việt Nam, là nghĩa vụ và trách nhiệm của
mỗi công dân đối với dân tộc, là nhân tố quyết định bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc phát triển bền vững. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
của Đảng chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển
đảo, vùng trời của Tổ quốc” [28, tr.148]. Đó là ý chí sắt đá, quyết tâm thực hiện
không gì lay chuyển được toàn dân và toàn quân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Thời gian qua, tình hình tranh chấp biển, đảo trên Biển Đông ngày càng gay
gắt đã và đang đặt ra những khó khăn, thách thức về bảo vệ CQBĐ của nước ta.
Đặc biệt, hiện nay một số nước trong khu vực đang đẩy mạnh công tác tuyên
truyền về CQBĐ nhằm tạo dư luận quốc tế có lợi để tìm mọi cách chiếm ưu thế
trong giải quyết tranh chấp CQBĐ đối với Việt Nam. Đúng như Đảng ta đã đánh
giá: “Bảo vệ chủ quyền biển, đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn,
nghiêm trọng” [27, tr.288]. Trước tình hình mới, đòi hỏi chúng ta cần phải: “Đẩy
mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm
của… từng người dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc” [28, tr150]. Điều này
cho thấy, ý thức bảo vệ CQBĐ của nhân dân Việt Nam nói chung, ý thức bảo
vệ CQBĐ của nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng có vai trò rất quan
trọng và là vấn đề cơ bản, lâu dài mang tính chiến lược của Đảng ta.
Ý thức bảo vệ CQBĐ là cơ sở, tiền đề quan trọng để nhân dân hành động
đúng đắn, tự giác, tích cực, hiệu quả vào thực hiện nhiệm vụ BVTQ Việt Nam
XHCN. Đó là những tri thức, tình cảm, niềm tin và ý chí quyết tâm của mọi
tầng lớp nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ CQBĐ; đồng thời, là vũ khí tư
tưởng sắc bén, kịp thời đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc,
phá hoại của các thế lực thù địch góp phần hoàn thành hai nhiệm vụ chiến
lược của cách mạng Việt Nam.



Một số vấn đề lí luận bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong
tình hình mới [39]. Tác giả đưa ra quan điểm của Đảng ta về mục tiêu,
nhiệm vụ, phương thức, sức mạnh và lực lượng bảo vệ Tổ quốc XHCN
hiện nay; về nội hàm phát triển mới của ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN, từ
đó chỉ ra các phương thức xây dựng ý thức BVTQ Việt Nam XHCN cho
mọi người dân trong tình hình mới.
Ý thức bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam trong lịch sử và hiện nay
[85]. Tác giả đã luận giải và đưa ra khái niệm khái niệm về ý thức bảo vệ
Tổ quốc XHCN của mọi người dân Việt Nam, từ đó, nêu lên các yêu cầu, chỉ
ra những định hướng và quan điểm chỉ đạo xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc
XHCN. Các giải pháp mà công trình chỉ ra là nâng cao chất lượng giáo dục
chính trị và đẩy mạnh phong trào hành động cách mạng; phát huy truyền
thống yêu nước, đoàn kết gắn bó cộng đồng; tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, hiệu lực quản lý Nhà nước đối với việc xây dựng ý thức bảo vệ Tổ
quốc XHCN trong thời kỳ mới.
Xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho người dân Việt
Nam - định hướng và giải pháp [86]. Trong công trình này tập thể tác giả
đã làm rõ cơ sở khoa học, thực trạng, dự báo các nhân tố tác động và đề
xuất những định hướng và giải pháp xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN cho mọi người dân Việt Nam trong thời kỳ mới. Trong đó các
tác giả đã đưa ra khái niệm về ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đồng thời,
tập thể tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp trong xây dựng ý thức bảo vệ
Tổ quốc cho mọi người dân Việt Nam trong thời kỳ mới.
* Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về bảo vệ chủ quyền biển,
đảo Việt Nam
Chiến lược bảo vệ chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng
biển đảo Việt Nam đến năm 2020 [6], trên cơ sở khảo cứu và luận giải nhiều
vấn đề có tính cấp bách đối với việc quản lý, khai thác và bảo vệ CQBĐ của
Tổ quốc, công trình đã nhấn mạnh đến các vấn đề: thực tiễn tranh chấp chủ
3

trên vùng biển Việt Nam, đồng thời là cơ sở xác thực đấu tranh trước những
luận điệu xuyên tạc về CQBĐ Việt Nam.
4


Một số bài báo của các tác giả như: Vũ Đình Tấn, “Đẩy mạnh tuyên truyền
về biển, đảo góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc” [72]; Phạm Thị Nhung, “Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của
Việt Nam” [62]; Nguyễn Thúy Hoàn, “Ý chí toàn dân” [37]: các tác giả đã đề
cập đến vị trí, vai trò công tác tuyên truyền biển, đảo; họ đã đánh giá kết quả
đạt được, chỉ ra hạn chế và rút ra ý nghĩa của công tác tuyên truyền biển, đảo
của quân và dân thời gian qua. Mặt khác, chỉ ra yêu cầu, đề xuất đồng bộ
nhiều giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh công tác tuyên truyền bảo vệ
CQBĐ trong thời gian tới.
Trần Thiết, “Huy động sức mạnh tổng hợp quốc gia xây dựng thế trận
quốc phòng - an ninh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Tổ quốc” [74];
Bùi Thị Như Ngọc, “Tăng cường đại đoàn kết toàn dân trong bảo vệ chủ
quyền biển, đảo nước ta hiện nay” [63]; Văn Danh, “Nhiệm vụ và giải pháp
thúc đẩy phát triển kinh tế biển của nước ta” [20];... ở góc độ khác nhau,
nhưng các bài báo đã nói lên tầm quan trọng của CQBĐ Việt Nam trong công
cuộc đổi mới phát triển đất nước hiện nay; thông qua đánh giá vai trò to lớn của
biển, đảo các tác giả bước đầu đã đề xuất một số giải pháp tập trung mọi nguồn
lực phát triển kinh tế biển, gắn với tăng cường xây dựng thế trận QP, AN bảo vệ
vững chắc CQBĐ của Tổ quốc.
Trong những năm vừa qua, nhiều công trình khoa học quan trọng bàn về
biển, đảo nói chung, về bảo vệ CQBĐ nói riêng được trình bày khá phong
phú, đa dạng như: đề tài, luận án, luận văn, sách, các bài báo,… dưới góc độ
phản ánh khác nhau, bước đầu đã xác lập được cơ sở khoa học khẳng định
chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên vùng biển, đảo
Việt Nam; các công trình cũng làm rõ một số vấn đề về chủ trương, chính

Ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Ý thức bảo vệ CQBĐ của nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ở các xã,
phường ven biển và đảo của thành phố Vũng Tàu, huyện Long Điền, Đất
Đỏ, Xuyên Mộc. Các số liệu được sử dụng từ năm 2011 đến nay.
6


5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc XHCN; đường lối, quan điểm của Đảng về
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân gắn với thế
trận an ninh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN.
* Cơ sở thực tiễn
Đề tài nghiên cứu ý thức, trách nhiệm, hành động bảo vệ CQBĐ của
nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thời gian qua. Những tài liệu, tư liệu, số liệu
nghiên cứu, khảo sát thực tế về bảo vệ CQBĐ của các cấp ủy, chính quyền ở
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của
khoa học xã hội và nhân văn, trong đó tập trung là các phương pháp: Kết hợp
lôgic và lịch sử; điều tra xã hội học; phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và
phương pháp chuyên gia… để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài đặt ra.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho
cấp ủy, chính quyền địa phương tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xây dựng ý thức bảo
vệ CQBĐ cho nhân dân trên địa bàn Tỉnh hiện nay.

vệ các vùng biển, đảo và quần đảo theo luật pháp của Việt Nam và tuân theo luật
pháp quốc tế. Biển, đảo là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.
Điều 3 Luật biển Việt Nam khẳng định: “Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy,
lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc
chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác
định theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với Công ước của
Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982”. Điều 19 cũng khẳng định: “Đảo, quần
đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ
Việt Nam” [70, tr.6].
8


Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam có các quyền cơ bản đối với CQBĐ
là: Chủ quyền là quyền làm chủ tuyệt đối của quốc gia độc lập đối với lãnh thổ
của mình. Chủ quyền của quốc gia ven biển là quyền tối cao của quốc gia được
thực hiện trong phạm vi nội thủy và lãnh hải của quốc gia đó.
Quyền chủ quyền là các quyền của quốc gia ven biển được hưởng trên cơ
sở chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa của mình, cũng như đối với những hoạt động nhằm thăm dò
và khai thác vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó vì mục đích
kinh tế, bao gồm cả việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu, gió...
Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển trong việc
đưa ra các quyết định, quy phạm và giám sát việc thực hiện chúng, như: cấp
phép, giải quyết và xử lý đối với một số loại hình hoạt động, các đảo nhân tạo,
thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân
tạo các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và gìn giữ môi
trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia đó [4].
* Bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
Theo Từ điển tiếng Việt, “Bảo vệ là chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm

quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ
tài nguyên và môi trường biển” [70, tr.2]. Trong đó, LLVT là nòng cốt, nhân
dân lao động trên vùng biển, đảo là lực lượng tại chỗ rất quan trọng bảo vệ
CQBĐ của Tổ quốc.
* Ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nhân dân Việt Nam
Theo Từ điển tiếng Việt, “Nhân dân là đông đảo những người dân, thuộc
mọi tầng lớp, đang sống trong một khu vực nhất định” [79, tr.913]. Nhân dân
Việt Nam là lực lượng của dân tộc ta trong hành trình giữ nước, giữ biển từ xa
xưa. Vùng biển, đảo nước ta là lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian
sinh tồn, do nhân dân ta làm chủ. Đó là điều đã được khẳng định trong suốt
chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Sinh thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng bằng là nhà, mà biển là cửa. Giữ nhà mà không
10


giữ cửa có được không? Kẻ gian tế nó sẽ vào chỗ nào trước? Nó vào ở cửa
trước. Vì vậy ta phải giáo dục cho đồng bào biết bảo vệ bờ biển,... Cho nên một
nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là phải bảo vệ bờ biển. Đồng bào
miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc” [58, tr. 311].
Từ xa xưa, việc vươn ra biển, làm giàu từ biển là bổn phận của mỗi người
dân Việt Nam. Thắng giặc trên sông biển bảo vệ đất nước; khai thác các nguồn
lợi của biển phục vụ đời sống đã trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Sự xuất hiện tàu, thuyền của nhân dân trên vùng biển Việt Nam là những “cột
mốc sống”, khẳng định CQBĐ thiêng liêng của Tổ quốc. Các tổ, đội đánh bắt hải
sản như những “làng”, “bản” trên biển là cột mốc chủ quyền Việt Nam theo
Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Nhân dân vừa là những
người lao động cần cù, vừa là lực lượng cảnh giới, phát hiện, thông báo cho các
cơ quan chức năng về tình hình trên biển và tham gia tìm kiếm cứu nạn, góp
phần ngăn chặn tàu, thuyền nước ngoài xâm phạm CQBĐ của Tổ quốc.
Khi có tình huống phức tạp xảy ra, nhân dân là lực lượng hỗ trợ, phối hợp

tiềm thức, vô thức… Xét theo chiều ngang, còn rất nhiều cách hiểu về kết cấu
của nó. Ví như: Có cách hiểu kết cấu của ý thức gồm “tri thức, tình cảm, lòng
tin, ý chí…” [77, tr.38]; cách khác lại hiểu kết cấu của nó gồm: “tri thức, tình
cảm, niềm tin, lý trí, ý chí…” [38, tr.204]; có người lại hiểu kết cấu của ý thức
gồm: “tri thức, niềm tin và ý chí…” [66, tr.29]; người khác lại hiểu kết cấu của
nó bao gồm cả tri thức, tình cảm, niềm tin, thái độ, nhu cầu, ý chí, quyết tâm…
Để định hướng cho quá trình nghiên cứu đúng góc độ chuyên ngành, đề tài
tiếp cận kết cấu của ý thức bao gồm: Tri thức, tình cảm, niềm tin và ý chí. Trong
đó, tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi; tình cảm, niềm tin vừa được hiểu theo nghĩa
rộng, bao hàm cả niềm tin, tình cảm và cả nghĩa hẹp là bản thân niềm tin. Còn ý
chí được hiểu theo nghĩa là ý chí quyết tâm.
Tri thức chính là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới. Để cải
tạo tự nhiên và xã hội, con người phải có tri thức về sự vật, hiện tượng. Nếu
không có tri thức thì con người hoạt động không có hiệu quả; không có tri thức,
không dựa vào tri thức thì ý thức là hiện tượng trừu tượng trống rỗng, không
giúp gì cho con người trong hoạt động thực tiễn. Trí thức khi được con người và
12


cộng đồng tiếp thu, lĩnh hội, gắn với chủ thể trở thành nhận thức, nói cách khác,
nhận thức là tri thức gắn với chủ thể nhất định, là tri thức của chủ thể.
Tình cảm, niềm tin là những thái độ cảm xúc ổn định của con người đối
với những sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, phản ánh ý nghĩa
của chúng trong mối liên hệ với nhu cầu và động cơ của họ. Tình cảm, niềm
tin là biểu hiện sự hòa quyện của nhận thức trở thành động lực tinh thần của
mỗi người vượt qua mọi khó khăn, thách thức, giúp con người quyết định
mục đích hành động chính xác, có quyết tâm cao và vững vàng trong mọi
thử thách của cuộc sống.
Ý chí quyết tâm là điểm hội tụ của tri thức và tình cảm, niềm tin hướng
vào hoạt động của con người. Ý chí là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở

Lôn hay còn gọi là Côn Đảo. Diện tích của Tỉnh gồm 2.123,71 km 2, hải đảo là
76,71 km2, có hệ thống đường bộ, đường sông, sân bay và cảng biển đã kết nối
toàn diện với các tỉnh trong nước và quốc tế, rất thuận lợi cho việc phát triển KT
- XH và củng cố QP, AN, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc [Phụ lục 1].
Trong những năm đổi mới cuộc sống của nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu ngày
càng ổn đinh, chất lượng được nâng lên. Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
VI đánh giá: tổng sản phẩm nội địa bình quân hàng năm đều tăng, thu nhập bình
quân đầu người đạt 5.233 USD/người/năm, là một trong những địa phương có thu
nhập cao trong cả nước [Phụ lục 5]. Năm 2015 dân số tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có
1.082,439 người; là địa phương có 20 dân tộc sinh sống, dân tộc Kinh chiếm 98%,
các dân tộc khác chiến 2% (khoảng 26.676 người). Chiếm số đông sau người
Kinh là người Hoa (11.648 người), người Châu Ro (8.867 người). Ngoài ra còn có
các dân tộc Tày, Thái, Nùng, Mường, Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Ngái, Mông, Cơ
Ho, Bru, Vân Kiều, Lô Lô, E Đê, Rơ Mâm, Chăm, Khme.
Với một cộng đồng dân cư đa tôn giáo, chiếm 56,47% dân số toàn tỉnh. Đa
số nhân dân theo các tôn giáo lớn như: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành,
Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Bà Hai,… Hầu hết nhân
dân nơi đây có tín ngưỡng tâm linh, thờ cúng ông bà tổ tiên, cư dân vùng biển
còn có “tục lệ thờ Cá Ông, theo đạo Ông Trần với tư tưởng nho giáo yêu nước
14


làm điều nhân nghĩa, cứu giúp người khốn khó hoạn nạn, căm ghét điều ác” [32,
tr.19]. Nhìn chung nhân dân đoàn kết, phấn khởi, tin tưởng vào cuộc sống mới.
Nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sinh sống trên địa bàn có vị thế đặc biệt
quan trọng về QP, AN, có nhiều đơn vị LLVT đóng quân: Trường Trung cấp
Biên phòng 2, Hải đoàn Biên phòng 18, Vùng 2 Hải quân, Vùng Cảnh sát biển
3, Trung đoàn tên lửa 261; ngoài ra, còn có LLVT địa phương và các lực lượng
chức năng khác. Từ cấp tỉnh đến các huyện, xã có dân quân, tự vệ rộng khắp,
trên vùng biển, đảo của Tỉnh và hàng chục vạn ngư dân với hàng ngàn tàu

vệ vững chắc CQBĐ thân yêu. Những đặc điểm nổi bật này là cơ sở quan trọng để
nhân dân địa phương hình thành, phát triển ý thức bảo vệ CQBĐ hiện nay.
* Quan niệm ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Từ những luận giải về bảo vệ CQBĐ, ý thức bảo vệ CQBĐ Việt Nam, về
nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có thể quan niệm: Ý thức bảo vệ chủ quyền
biển, đảo của nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là một dạng đặc thù của ý
thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nhân dân Việt Nam; là tổng hòa tri thức,
tình cảm, niềm tin và ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nhân
dân địa phương được thể hiện trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ý thức bảo vệ CQBĐ của nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là một biểu
hiện trong ý thức bảo vệ CQBĐ của nhân dân Việt Nam, thể hiện ở một đối
tượng cụ thể là nhân dân địa phương trên một địa bàn được xác định là ở tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu. Ý thức bảo vệ CQBĐ của nhân dân Việt Nam là cái chung, ý
thức bảo vệ CQBĐ của nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là cái riêng. Khi xem
xét ý thức bảo vệ CQBĐ của nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cần phải xét đến
các yếu tố quyết định, chi phối, tác động và ảnh hưởng đến nó, trước hết là các
loại ý thức chung nói trên.
Ý thức bảo vệ CQBĐ của nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là một tổ hợp
các thành tố, các bộ phận cấu thành rất phong phú, đa dạng tạo nên một chỉnh thể.
Các biểu hiện của nó được thể hiện cả dưới dạng ý thức lý luận (những tư tưởng,
quan điểm về BVTQ và bảo vệ CQBĐ đã được hệ thống hoá, khái quát hoá) lẫn ý
16


thức thông thường. Việc phân định các biểu hiện của ý thức này chỉ có tính chất
tương đối, bởi trên thực tiễn luôn diễn ra sự giao thoa, chuyển hoá lẫn nhau giữa
chúng. Vì thế, những nội dung cụ thể biểu hiện về ý thức bảo vệ CQBĐ của nhân
dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sau đây đều phản ánh cả hai dạng ý thức trên.
Tri thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nhân dân tỉnh Bà

ngoài. Hiểu rõ những diễn biến phức tạp, tranh chấp chủ quyền trên biển, đảo tiếp
tục xảy ra, một số nước đẩy mạnh các hoạt động quân sự trên biển, đảo với quy
mô, cường độ ngày càng tăng; phô trương, gia tăng sức mạnh quân sự làm ảnh
hưởng đến môi trường hòa bình, đe doạ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển, đảo
nước ta. Nhất là tham vọng “độc chiếm Biển Đông” của các quốc gia láng giềng,
công khai yêu sách chủ quyền phi pháp. Nhận biết âm mưu của các thế lực thù
địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp kích động “tự diễn biến, tự
chuyển hóa” trong nội bộ để chống phá nước ta trên hướng biển, đảo.
Sự hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ bảo vệ CQBĐ, quyền lợi không tách
rời với nghĩa vụ; Nhà nước, chính quyền địa phương bảo đảm các quyền của
nhân dân; nhân dân phải làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước và chính quyền địa
phương; quyền và nghĩa vụ của nhân dân do Hiến pháp và hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật của Nhà nước quy định.
Sự hiểu biết về phương pháp, cách thức bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của
công dân. Cụ thể, thực hiện nghiêm Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển
năm 1982 và các hiệp định phân định vùng biển giữa Việt Nam các nước; nắm
vững các quy định của Đảng và Nhà nước, của địa phương về mục tiêu, nhiệm
vụ, nội dung, nguyên tắc, phương thức, lực lượng bảo vệ CQBĐ của nước ta.
Nhân dân được bảo đảm các quyền lợi vật chất và tinh thần theo quy định của
Nhà nước và địa phương, được dân chủ tham gia đầy đủ mọi mặt hoạt động xã
hội; được đối xử một cách công bằng, bình đẳng trước pháp luật trong tham gia
bảo vệ CQBĐ của Tổ quốc.
Tình cảm, niềm tin của nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với nhiệm vụ
bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Đây là một trong những biểu hiện cơ bản trong ý thức bảo vệ CQBĐ của
nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tình cảm, niền tin là kết quả trực tiếp của tình
18


yêu đối với Tổ quốc Việt Nam XHCN. Có tình cảm, tình yêu biển, đảo, yêu quê



một cách có hệ thống, khoa học, đầy đủ, kịp thời, chính xác và được định hướng rõ
ràng trong quá trình hoạt động thực tiễn của nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc của nhân dân tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu
Đây là biểu hiện tập trung và là đỉnh cao trong ý thức bảo vệ CQBĐ của
nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là sự chuyển hoá trực tiếp và là kết quả tất
nhiên của quá trình tích luỹ tri thức, xây dựng tình cảm, niềm tin bảo vệ CQBĐ
với những biểu hiện cụ thể là:
Xác định rõ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của
Tổ quốc; kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài
phán quốc gia của Việt Nam, phát triển kinh tế biển, quản lý và bảo vệ biển, đảo.
Trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng luôn nêu cao tinh thần cảnh giác
cách mạng và ý chí quyết tâm khắc phục mọi nguy hiểm, khó khăn, gian khổ, kể
cả nơi ngư trường xa xôi “đầu sóng, ngọn gió”; vượt qua những ảnh hưởng tiêu
cực, những cám dỗ của mặt trái nền kinh tế thị trường; những thiếu thốn về vật
chất, tinh thần; luôn sẵn sàng phục vụ, cống hiến và bám trụ ngư trường truyền
thống trên vùng biển của Tổ quốc.
Đó là lập trường kiên định, bản lĩnh vững vàng, dũng cảm trong đấu tranh,
trung thực, thật thà trong lao động của mọi người dân. Nêu cao tinh thần lao
động tập thể XHCN, chủ động, nhiệt tình, sáng tạo với tâm thế luôn sẵn sàng
huy động nhân lực, phương tiện tàu thuyền bảo vệ CQBĐ. Tinh thần dám nghĩ,
dám làm, đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau cùng vươn khơi, bám biển. Tự
kiểm soát cảm xúc, tâm trạng không để bị ảnh hưởng, lôi kéo, lây nhiễm bởi
những hành vi, lối sống tiêu cực, các tư tưởng phản động, cực đoan đang xâm
nhập, lây lan vào bản thân và nghề nghiệp…
Xác định rõ mục đích và quyết tâm khắc phục khó khăn, gian khổ thực
hiện tốt nghĩa vụ, trách nhiệm công dân. Họ luôn phấn đấu vươn lên trong
lao động, sản xuất, luôn hăng hái đi đầu cùng các lưc lượng tham gia bảo

Ý thức bảo vệ CQBĐ của nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu không tự nhiên sinh
ra, mà được hình thành và phát triển trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, với
21


lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, dũng cảm, kiên cường, bất khuất và ý chí tự
lực, tự cường, năng động sáng tạo vươn lên làm chủ cuộc sống. Cụ thể là:
Thứ nhất, ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nhân dân Bà Rịa - Vũng
Tàu được nuôi dưỡng, hình thành bằng sự kế thừa truyền thống, văn hóa giữ
nước, giữ biển của nhân dân Việt Nam và địa phương.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ý thức hình thành từ quá trình
lao động của con người trong tiến trình lịch sử của chính họ. Trên quê hương
cách mạng, lòng khao khát độc lập, tự do đã hun đúc cho nhân dân Bà Rịa Vũng Tàu lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất.
Họ đã sớm giác ngộ và tuyệt đối tin tưởng, trung thành với sự nghiệp cách mạng
của Đảng, được thử thách, tôi luyện trong chiến tranh ác liệt đúc kết thành truyền
thống, văn hóa giữ nước, giữ biển từ xa xưa.
Có thể nói, đây là vấn đề có tính quy luật thể hiện một trong những vấn đề
căn bản của ý thức xã hội là sự phản ánh và sự phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Khi
tồn tại xã hội ở đây chính là truyền thống, văn hóa giữ nước, giữ biển của nhân
dân địa phương có sự vận động, biến đổi thì ý thức bảo vệ CQBĐ của họ cũng
có sự vận động, biến đổi theo và thể hiện trên vấn đề cơ bản sau:
Truyền thống, văn hóa giữ nước, giữ biển ở địa phương được bảo tồn, phát
huy giá trị thì ý thức bảo vệ CQBĐ của nhân dân ngày càng củng cố, vun đắp
đầy đủ, sâu sắc đạt đến trình độ lý tính và ổn định vững chắc hơn. Ngược lại, nếu
truyền thống, văn hóa giữ nước, giữ biển bị lãng quên, thiếu định hướng, những
biểu hiện đời sống văn hóa của nhân dân không được thích ứng, phai nhạt, thậm
chí lệch chuẩn thì ý thức bảo vệ CQBĐ của nhân dân sẽ không được nuôi dưỡng
đúng đắn, đầy đủ, mới dừng lại ở trình độ cảm tính, thiếu tính ổn định vững
chắc; thậm chí có thể có sự nhận thức sai lệch.
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hình thành và phát triển gắn liền với thành qủa

nhân dân cũng phụ thuộc rất nhiều vào truyền thống quê hương, chất lượng môi
trường văn hóa - xã hội nơi sinh thành. Những người dân sinh ra từ những miền
quê giàu truyền thống văn hoá, giàu lòng yêu nước, nhiệt tình cách mạng, kinh
tế, xã hội phát triển, đời sống chính trị, xã hội ổn định, phát triển, dân trí cao…
thì ý thức chính trị, ý thức pháp luật và ý thức bảo vệ CQBĐ thường tốt hơn.
23


Ngược lại, những người dân lớn lên từ những nơi thiếu bề dày văn hoá, những
khu dân cư, đô thị, những vùng kinh tế mới được thành lập, vùng sâu, vùng xa,
nơi biên giới, hải đảo kinh tế, văn hoá, xã hội kém phát triển, chính trị, xã hội
thiếu ổn định… thì ý thức bảo vệ CQBĐ của họ thường kém hơn.
Những nơi mà cấp ủy, chính quyền và Hội đồng Giáo dục QP, AN làm tốt
công tác giáo dục truyền thống, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giải quyết tốt
quyền và nghĩa vụ của nhân dân với Tổ quốc; nhân dân địa phương sống trong
môi trường lao động tập thể tổ chức chặt chẽ, được giáo dục, rèn luyện những
kiến thức cơ bản về pháp luật, các quyền và nghĩa vụ công dân… thì họ thường
có ý thức công dân, ý thức chính trị và ý thức bảo vệ CQBĐ tốt hơn. Ngược lại,
những nơi chưa làm tốt những vấn đề trên thì nhận thức, trách nhiệm của nhân
dân và cả ý thức chấp hành pháp luật lẫn ý thức bảo vệ CQBĐ của họ ở đó
thường kém hơn…
Con đường hình thành, phát triển ý thức bảo vệ CQBĐ của nhân dân tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu phụ thuộc vào sự kế thừa truyền thống, văn hóa giữ nước,
giữ biển. Để phát huy những nhân tố tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực
làm cho ý thức bảo vệ CQBĐ của họ hình thành, phát triển đúng đắn thì biện
pháp vừa cơ bản và vừa cấp bách hiện nay là hệ thống chính trị địa phương phải
đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, làm cho nhiệm vụ bảo vệ CQBĐ ngày
càng được thể hiện rõ nét hơn trên mọi mặt đời sống của nhân dân.
Thứ hai, ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được hình thành, củng cố và phát triển qua thực tiễn bảo vệ chủ
quyền biển, đảo của Tổ quốc.

vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình, họ sẽ không thể có cách
ứng xử đúng đắn và phù hợp. Hơn nữa, họ sẽ không thể có niềm tin vững chắc
và ý chí quyết tâm cao để thực hiện bổn phận và trách nhiệm cá nhân với Tổ
quốc, làm tròn nghĩa vụ thiêng liêng và cao quý của người công dân.
Nói tóm lại, tính chất quyết định của hoạt động thực tiễn, nhất là việc thực
hiện bảo vệ CQBĐ đối với việc hình thành và phát triển ý thức bảo vệ CQBĐ
của nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu luôn diễn ra và gắn liền với mọi diễn biến
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status