NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
----------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Thanh Xuân
Họ và tên sinh viên
: Phan Thanh Hương
Lớp
: K14 TTQTC
Khóa
: 14
Khoa
: Ngân hang
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
VietinBank
Ngân hàng Công thương Việt Nam
CN
Chi nhánh
DNVVN
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
L/C
Letter of Credit – Thư tín dụng
TTTM
Tài trợ thương mại
4
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
1. CÁC SƠ ĐỒ
SƠ ĐỒ 1.1: BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
SƠ ĐỒ 1.2: SƠ ĐỒ BẢO LÃNH TRỰC TIẾP
SƠ ĐỒ 1.3: SƠ ĐỒ BẢO LÃNH GIÁN TIẾP
SƠ ĐỒ 1.4: SƠ ĐỒ BẢO LÃNH ĐƯỢC XÁC NHẬN
2. CÁC BẢNG BIỂU
cơ sở vật chất, cải cách công, nông nghiệp, quốc phòng… Giá trị rất lớn của hợp đồng và
thế mạnh tài chính của cac nước Trung Đông đòi hỏi phải có sự đảm bỏa chắc chắn về
phía đối tác tham gia. Những đảm bảo độc lập do các ngân hàng phương Tây lập đã đáp
ứng được các yêu cầu về sự an toàn và thuận tiện cho các nước nhập khẩu. Từ đó đến nay,
6
bảo lãnh được sử dụng rộng rãi và ngày càng phát triển trở thành nghiệp vụ thông dụng
trong dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế.
Nghiệp vụ bảo lãnh được xuất hiện lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1994 cùng
với sự vận hành nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường đầu những năm 90 của thế
kỉ XX. Mặc dù sau gần 20 năm áp dụng, nghiệp vụ bảo lãnh cũng đã có những bước phát
triển song đây vẫn còn là một nghiệp vụ còn khá truyền thống và đơn điệu. Vì vậy, em xin
lựa chọn đề tài: “Giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Thanh Xuân” làm đề tài cho bài chuyên
đề tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thứ nhất, hệ thống hóa các vấn đề về phát triển nghiệp vụ bảo lãnh.
Thứ hai, phân tích thực trạng nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Công Thương Việt Nam- Chi nhánh Thanh Xuân.
Thứ ba, đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị đồng bộ nhằm phát triển nghiệp vụ tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam- Chi nhánh Thanh Xuân.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu về nghiệp vụ bảo lãnh.
Phạm vi nghiên cứu: tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công ThươngViệt NamChi nhánh Thanh Xuân trong giai đoạn từ năm 2012 - 2014.
4. Các phương pháp nghiên cứu đề tài
Chuyên đề sử dụng đồng thời và có sự kết hợp giữaphương pháp phân tích kinh tế,
phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê kinh tế… để hoàn
thành việc nghiên cứu đề tài.
9
hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến
thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên
được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.”
Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam quy định: “Bảo lãnh ngân hàng là một
trong những hình thức cấp tín dụng, được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản
của tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã
cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số
tiền đã trả thay.”
Còn trong điều 2, theo quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo quyết định số
26/2006/QĐ- NHNN ngày 26/06/2006 của Thống đốc NHNN Việt Nam thì: “Bảo lãnh
ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh)với bên có quyền
(bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được
bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam
kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số
tiền đã được hoàn trả.”
Dù được hiểu theo định nghĩa nào thì bản chất của bảo lãnh vẫn bao gồm mối quan
hệ của ba chủ thể tham gia: người bảo lãnh, người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo
lãnh.
Sơ đồ 1.1: Bảo lãnh ngân hàng
Ngân hàng
(Bên bảo lãnh)
Hợp đồng bảo lãnh
Cam kết bảo lãnh
cam kết bảo lãnh, bảng cân đối tài sản của ngân hàng không hề bị thay đổi. Do vậy,
nghiệp vụ bảo lãnh được coi là một hoạt động ngoại bảng. Tuy nhiên, trong trường hợp
11
bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng theo các điều khoản được nghi trong cam kết bảo
lãnh, ngân hàng buộc phải sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
đối với bên nhận bảo lãnh. Nếu bên được bảo lãnh chưa hoàn trả ngay cho ngân hàng,
ngân hàng sẽ cấp một khoản tín dụng bắt buộc cho bên được bảo lãnh. Khi đó, nghiệp vụ
bảo lãnh sẽ tác động đến bảng cân đối tài sản của ngân hàng, ảnh hưởng đến khả năng
thanh khoản và các chỉ tiêu tài chính của ngân hàng. Bởi vậy, tuy là một hoạt động ngoại
bảng, bảo lãnh vẫn phải được giám sát và quản lý một cách chặt chẽ như các hình thức
cấp tín dụng khác.
1.1.2.2. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng.
Ngiệp vụ bảo lãnh ngân hàng đang dần thể hiện được tầm quan trọng của minh
không chỉ đối với ngân hàng thương mại- bên bảo lãnh, với các doanh nghiệp mà còn
đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Vai trò đó được thể hiện:
a.
Đối với ngân hàng bảo lãnh
Thứ nhất, nghiệp vụ bảo lãnh là một nghiệp vụ làm tăng doanh thu cho các ngân
hàng thông qua phí bảo lãnh. Phí bảo hành là hoa hồng phần trăm tính trên doanh số bảo
lãnh. Bên cạnh đó, ngân hàng còn sử dụng khoản tiền ký quỹ bảo lãnh để cho vay thu lãi
coi như một nguồn vốn khá ổn định của ngân hàng.
Thứhai, bảo lãnh giúpđa dạng hoá dịch vụ.Nghiệp vụ bảo lãnh với nhiều phương
thức phát hành và mục đích tài trợ khác nhau đã góp phần vào việc thực hiện chiến lược
đa dạng hoá nhằm giảm thiểu rủi ro của ngân hàng. Ngày nay xu hướng của các NHTM
hiện đại là tăng tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động dịch vụ trong tổng thu nhập của ngân
hàng.
Đối với nền kinh tế
Thứ nhất, nghiệp vụ bảo lãnh giúpđáp ứng nhu cầu vay vốn trong nền kinh tế. Với
chức năng tài trợ, bảo lãnh ngân hàng đóng vai trò như một tài sản đảm bảo hiệu quả và
kinh tế hơn so với cầm cố - thế chấp. Nó đặc biệt có ý nghĩa đối với những dự án cần thu
hút vốn từ các TCTD ở nước ngoài. Bên cạnh đó, bảo lãnh ngân hàng còn giúp doanh
nghiệp có được những khoản tín dụng thương mại quan trong phục vụ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh như các khoản tiền ứng trước…
Tứ hai, bảo lãnh giúp thúc đẩy việc ký kết các hợp đồng kinh tế. Với chức năng hạn
chế thông tin không cân xứng, đôn đốc thực hiện hợp đồng và hạn chế tổn thất phát sinh
13
do vi phạm hợp đồng, bảo lãnh góp phần thúc đẩy việc ký kết các hợp đồng kinh tế, đặc
biệt là những giao dịch thương mại quốc tế.
Thứ ba, hoạt động này góp phần định hướng phát triển kinh tế. Giống với các hình
thức cấp tín dụng khác, chính sách phí bảo lãnh và điều kiện bảo lãnh sẽ có tác dụng định
hướng phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn hay làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
chiến lược phát triển của quốc gia.
1.1.3.
Các hình thức bảo lãnh trong NHTM
1.1.3.1. Căn cứ theo phương thức phát hành
a. Bảo lãnh trực tiếp
Bảo lãnh trực tiếp là bảo lãnh mà trong đó ngân hàng phát hành bảo lãnh chịu trách
nhiệm trực tiếp cho bên được bảo lãnh. Người được bảo lãnh sẽ chịu trách nhiệm bồi
hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh.
Bảo lãnh trực tiếp thông thường có ba bên tham gia: ngân hàng phát hành bảo lãnh,
Người được bảo lãnh đề nghị ngân hàng mình phát hành bảo lãnh cho người
thụ hưởng.
(3)
Ngân hàng bảo lãnh phát hành bảo lãnh cho ngân hàng thông báo.
(4)
Ngân hàng thông báo thông báo cho người thụ hưởng về bảo lãnh của ngân
hàng phục vụ người mua.
(5)
Trường hợp ngân hàng bảo lãnh phát hành bảo lãnh trực tiếp đến người thụ
hưởng không thông qua ngân hàng thông báo.
b. Bảo lãnh gián tiếp
Bảo lãnh gián tiếp hay còn gọi là bảo lãnh đối ứng là loại bảo lãnhtrong đó ngân
hàng bảo lãnh đã phát hành bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân hàng trung gian phục vụ
cho người được bảo lãnh dựa trên một bảo lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng. Người được
bảo lãnh không chịu trách nhiệm bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành mà chính
15
ngân hàng trung gian chịu trách nhiệm bồi hoàn.Bảo lãnh gián tiếp thường được dùng
trong trường hợp người thụ hưởng yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnh là ngân hàng mà
người được bảo lãnh không có quan hệ với ngân hàng của người thụ hưởng.
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp
16
(6) Ngân hàng thứ hai có thể phát hành bảo lãnh trực tiếp đến người thụ hưởng,
không thông qua ngân hàng thông báo.
Như vậy trong bảo lãnh gián tiếp có ít nhất bốn bên tham gia: Ngân hàng phát hành
bảo lãnh, ngân hàng chỉ thị, người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh. Một số
trường hợp có thể có một ngân hàng giữ vai trò thông báo như trong bảo lãnh trực tiếp.
Bảo lãnh gián tiếp xảy ra khi ngân hàng phục vụ người mua không có quan hệ đại lý
với ngân hàng phục vụ người bán. Vì vậy, ngân hàng phục vụ người bán không chấp nhận
bảo lãnh của ngân hàng phục vụ người mua. Vì vậy, trên cơ sở đề nghị của người được
bảo lãnh, ngân hàng phục vụ người mua phải đề nghị một ngân hàng khác (ngân hàng thứ
hai) thay mặt mình phát hành bảo lãnh theo mẫu hoặc những điều khoản nhất định. Ngân
hàng thứ nhất xem xét phát hành bảo lãnh đối ứng cho ngân hàng thứ hai cũng tương tự
như xem xét phát hành bảo lãnh trực tiếp. Những cam kết thoả thuận của người được bảo
lãnh đối với ngân hàng thứ nhất cũng tương tự như trường hợp ngân hàng thứ nhất phát
hành bảo lãnh trực tiếp (ngân hàng thứ nhất và ngân hàng thứ hai phải có quan hệ đại lý
với nhau).
c. Xác nhận bảo lãnh
Bảo lãnh được xác nhận là việc xác nhận của một ngân hàng đối với một bảo lãnh
do một ngân hàng khác phát hành để xác nhận lại tính bảo đảm của bảo lãnh. Bảo lãnh
được xác nhận thường phát sinh trong trường hợp người thụ hưởng muốn một ngân hàng
khác trong nước xácnhận bảo lãnh do một ngân hàng nước ngoài phát hành.
Như vậy, người thụ hưởng có thể xuất trình những chứng từ theo yêu cầu của bảo
lãnh đến ngân hàng xác nhận và nhận thanh toán nếu người được bảo lãnh không thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình.
Trong bảo lãnh này ngoài ngân hàng phát hành, người thụ hưởng, người được bảo
lãnh còn có thêm ngân hàng xác nhận bảo lãnh, được người thụ hưởng bảo lãnh do không
17
trực tiếp. Sau khi đã thực hiện thanh toán, ngân hàng chính sẽ đòi từ các ngân hàng thành
viên số tiền đã chia theo tỷ lệ.
18
Sơ đồ 1.5: đồng bảo lãnh
NH1
NH2
(3)
Ngân hàng phát hành
(4b)
Ngân hàng thông báo
NH3
(4b)
(4a)
(2)
Ngườiđựoc bảo lãnh
(1)
Người thụ hưởng bảo lãnh
Trong đó:
Bảo lãnh dự thầu thực chất là phương tiện thay thế cho việc ký quỹ của người tham
gia dự thầu, nên giá trị của bảo lãnh này được quy định theo mức ký quỹ chuẩn do người
tổ chức đấu thầu đưa ra. Thông thườnggiá trị bảo lãnh dự thầu là từ 1% đến 5% giá trị của
hợp đồng thầu.
c. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là cam kết của ngân hàng phát hành về việc chi trả tổn
thất thay cho khách hàng nếu khách không thực hiện đầy đủ hợp đồng như đã cam kết,
20
gây tổn thất cho bên thứ ba. Loại bảo lãnh này rất thường được sử dụng để cung cấp cho
người thụ hưởng một bảo đảm về việc thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh. Bảo
lãnh này thông thường được sử dụng kèm với phương thức thanh toán khác, giá trị hợp
đồng bảo lãnh này tuỳ theo giá trị hợp đồng và tuỳ tính chất của mỗi thương vụ. Tuy
nhiên, giá trị bảo lãnh thường từ khoảng 5% đến 10% giá trị hợp đồng.
d. Bảo lãnh thanh toán
Bảo lãnh thanh toán là cam kết của ngân hàng phát hành về việc thanh toán tiền
đúng hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàng không
thanh toán đủ. Bảo lãnh thanh toán hoàn toàn có thể được sử dụng như một phương tiện
bảo đảm trong hợp đồng mua bán, hợp đồng thuế mua tài chính, hợp đồng đại lý, hợp
đồng xây dựng...Đối với loại bảo lãnh này, về mục đích giống như tín dụng thư thương
mại thông thường là bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, nó hoàn toàn khác về
bản chất và phương thức truy đòi tiền, trong bảo lãnh thanh toán, trách nhiệm thanh toán
của ngân hàng phát hành là trách nhiệm thứ yếu, nghĩa là, ngân hàng chỉ chịu thanh toán
khi người được bảo lãnh không thanh toán và vi phạm hợp đồng. Còn thư tín dụng thương
mại, trách nhiệm thanh toán của ngân hàng là đầu tiên, đại diện cho người mua thanh toán
tiền cho người bán khi người bán đã thực hiện đúng hợp đồng thương mại, mọi phát sinh
từ hợp đồng thương mại đều ảnh hưởng tới quyết định thanh toán của ngân hàng.
1.2. PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
1.2.1. Khái niệm phát triển nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng
thấp cùng một mức phí phù hợp trong hoàn cảnh cạnh tranh khắc nghiệt giữa các ngân
hàng sẽ càng hấp dẫn khách hàng. Chất lượng dịch vụ sẽ được phản ánh đầy đủ khi khách
hàng sử dụng dịch vụ và phản hồi kết quả điều tra từ phía khách hàng.
Bên cạnh đó, xét trên góc độ tổng thể của nền kinh tế, hoạt động bảo lãnh sẽ đáp
ứng được nhu cầu phát triển kinh tế nếu chiến lược phát triển hoạt động bảo lãnh của
ngân hàng phù hợp với chiến lược phát triển chung của toàn xã hội. Chỉ tiêu mức độ đáp
ứng nhu cầu của nền kinh tế được phân tích dựa trên cơ cấu của hoạt động bảo lãnh so với
cơ cấu của nền kinh tế. Nếu những hoạt động bảo lãnh của ngân hàng phục vụ những
22
ngành nghề, những hoạt động kinh doanh được ưu tiên phát triển thì chắc chắn hoạt động
bảo lãnh góp không nhỏ cho nền kinh tế.
1.2.2.2.
Các chỉ tiêu định lượng
a. Hình thức bảo lãnh
Căn cứ vào tiêu chí khác nhau, nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng có thể được chia thành
nhiều loại, mỗi loại bảo lãnh khác nhau lại có mục đích sử dụng khác nhau. Danh mục
bảo lãnh cung cấp cho khách hàng phản ánh mức độ đa dạng về sản phẩm này của một
ngân hàng thương mại. Điều này cũng thể hiện sự quan tâm trong việc phát triển nghiệp
vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại đó. Đối với ngân hàng chủ trương đẩy mạnh
nghiệp vụ này, danh mục sản phẩm bảo lãnh sẽ ngày càng phong phú, đáp ứng ngày càng
tốt hơn nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.
b. Số món bảo lãnh phát hành
Số món bảo lãnh phát hành là tổng số cam kết bảo lãnh mà ngân hàng phải chịu
trách nhiệm bảo lãnh cho khách hàng phát sinh trong kì (thường là một năm). Số món bảo
lãnh phát hành tăng qua các năm thể hiện hoạt động bảo lãnh phát triển và được mở rộng
đồng nghĩa với chất lượng được nâng cao.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGHIỆP VỤ
BẢO LÃNH NGÂN HÀNG.
1.3.1.
-
Nhân tố khách quan
Môi trường chính tri, xã hội: chính trị, xã hội mất ổn định như khủng hoảng, chiến tranh,
bạo động, đình công… đều làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh
24
nghiệp từ đó ảnh hưởng đến hoạt động của cả hệ thống ngân hàng, ngân hàng cũng không
thể thực hiện được các nghĩa vụ đã cam kết của mình với khách hàng và ảnh hưởng đến
doanh số bỏa lãnh, số món bảo lãnh cũng như chất lượng của từng món bảo lãnh tại ngân
hàng.
-
Môi trường pháp lí: Tính chặt chẽ, thống nhất của pháp luật trong việc ban hành các văn
bản, quy chế bảo lãnh ngân hàng sẽ giúp các bên nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ của
mình từ đó tránh các tranh chấp phát sinh ảnh hưởng đến chất lượng bảo lãnh ngân hàng.
-
Sự linh hoạt trong việc thay đổi các chương trình đầu tư, chính sách xuất nhập khẩu, tỷ
giá, lãi suất, chính sách tiền tệ… sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của các bên tham gia bảo lãnh có thể làm ảnh cho người được bảo lãnh không thể thực
hiện được nghĩa vụ của mình.
Người thụ hưởng bảo lãnh cần trung thực trong việc yêu cầu ngân hàng thanh toán
các khoản bảo lãnh cũng ảnh hưởng đến chất lượng bảo lãnh.
1.3.2. Nhân tố chủ quan
- Chiến lược phát triển kinh doanh của ngân hàng
Trong việc kinh doanh không chỉ ngân hàng mà bất cứdoanh nghiệp nào cũng phải
luôn nghiên cứu và đưa ra những chiến lược phát triển, kinh doanh trong ngắn hạn và dài
hạn, để đảm bảo ngân hàng luôn thực hiện đúng hướng các mục tiêu mà ngân hàng hướng
tới. Chính việc hoạch định chính sách phát triển và kinh doanh, đặc biệt là chính sách phát
triển bảo lãnh là cơ sở để các ngân hàng đưa ra các giải pháp để thực hiện các mục tiêu
đó, do vậy một chương trình chiến lược phát triển, kinh doanh nói chung và phát triển bảo
lãnh nói riêng tốt hay tồi đều ảnh hưởng đến hiệu quả cũng như khả năng mở rộng bảo
lãnh. Nếu đó là một kế hoạch phát triển chưa nhằm vào mục tiêu mở rộng bảo lãnh thì
trong quá trình kinh doanh của ngân hàng bảo lãnh không được chú trọng mở rộng, tuy