Lời mở đầu
Sự cần thiết phải hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng trong
hoạt động của các ngân hàng thơng mại.
Song song với quá trình phát triển nền kinh tế đất nớc, hệ thống ngân hàng
Việt Nam ngày càng hoàn thiện và phát triển, đóng vai trò Trung ơng thần kinh
của toàn bộ nền kinh tế. Trong hơn 10 năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã
đợc đổi mới toàn diện, từ nội dung hoạt động, cơ cấu tổ chức cho đến hệ thống
pháp luật, đã và đang phục vụ đắc lực cho việc ổn định nền kinh tế vĩ mô và phát
triển đất nớc. Về cơ bản, một hệ thống ngân hàng hai cấp đã đợc thiết lập, các
nguyên tắc nền tảng về hoạt động ngân hàng tiền tệ trong nền kinh tế thị trờng
đã đợc quán triệt. Tuy nhiên, các hoạt động của một ngân hàng hiện đại ở nớc ta
vẫn là mới mẻ, đặc biệt là hoạt động bảo lãnh ngân hàng. Trong khi dó, xu hớng
toàn cầu hoá và mở cửa nền kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, môi trờng tài chính -
tiền tệ còn nhiều bất ổn, cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi ngân hàng phải
không ngừng phát triển và đổi mới theo hớng hoàn thiện các nghiệp vụ sẵn có, tiếp
cận và ứng dụng các dịch vụ mới. Bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ đợc các
ngân hàng thơng mại Việt Nam thực hiện trong những năm gần đây, nó đã góp
phần đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng, thoả mãn nhu cầu của doanh nghiệp
phòng ngừa rủi ro trong giao dịch hợp đồng và tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở
rộng hoạt động quan hệ kinh tế thơng mại. Tuy nhiên, sự phát triển và khởi sắc
của nghiệp vụ bảo lãnh trong thời gian qua vẫn cha thực sự tơng xứng với vai trò
và tiềm năng của nó đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Mặt khác, do đây
là nghiệp vụ còn mới mẻ nên trong quá trình thực hiện xuất hiện rất nhiều vớng
mắc và gây nhiều tổn thất cho ngân hàng.
Nhận thức đợc vấn đề trên, sau một thời gian thực tập tại NHNo&PTNT Hà
Nội tôi quyết định lựa chọn đề tài :
Giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại NHNo&PTNT Hà Nội .
2. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Các nghiệp vụ của một ngân hàng thơng mại đa dạng và phong phú, song do
thời gian và thể lợng kiến thức còn hạn hẹp nên đề tài chỉ dừng lại ở việc nghiên
cứu nghiệp vụ bảo lãnh tại NHNo&PTNT Hà Nội.
quốc gia với mục tiêu phát huy những lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh của mình, đã và
đang thực hiện chính sách kinh tế mở, thúc đẩy hoạt động thơng mại quốc tế phát triển.
Song điều này cũng ẩn chứa nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp do những biến động bất
thờng về chính trị, kinh tế - xã hội trên toàn cầu đã tác động tiêu cực tới hoạt động kinh
doanh. Mặt khác, khi thơng mại mở rộng không biên giới thì rủi ro về thông tin không
cân xứng cho một doanh nghiệp là rất lớn, từ đó rủi ro về đạo đức do bạn hàng không
đáp ứng các hợp đồng đã ký kết là khó tránh khỏi. Hoặc nếu họ có thể tìm hiểu đợc
thông tin thì việc tranh thủ cơ hội kinh doanh và chi phí bỏ ra đã cản trở họ thực hiện,
gây ảnh hởng đến hoạt động thơng mại và giảm hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
Để khắc phục điều này, đòi hỏi phải có một sự đảm bảo cho các giao dịch diễn ra an
toàn, tạo độ tin cậy giữa các đối tác kinh doanh.
Nh vậy, từ bản thân nền kinh tế xuất hiện nhu cầu có một sự đảm bảo trong các giao
dịch, dẫn tới một hình thức giao dịch đảm bảo ra đời với hình thức biểu hiện là sự đảm
bảo của một bên thứ ba, có đủ t cách và năng lực thực hiện nhằm điều hoà quan hệ, tạo
sự tín nhiệm cho đối tác. Đó chính là hoạt động bảo lãnh.
1. 2. Quá trình phát triển của bảo lãnh ngân hàng.
Bảo lãnh ngân hàng là một dạng nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, xuất hiện vào giữa
những năm 60, trong thị trờng nội địa nớc Mỹ. Sau đó vào đầu những năm 70, bảo lãnh
bắt đầu đợc sử dụng trong các giao dịch thơng mại quốc tế. Vào thời gian này, các
quốc gia thịnh vợng mau chóng vì sản xuất dầu hoả ở Trung Đông liên tục kí kết những
hợp đồng kinh tế lớn với các nớc phơng Tây để thực hiện các dự án cải tạo cơ sở hạ
tầng, dự án canh tân công, nông nghiệp, quốc phòng. . . Giá trị rất lớn của các hợp
đồng và thế mạnh về tài chính của các quốc gia Trung Đông đã cho phép họ phải có
một sự bảo đảm chắc chắn về phía đối tác khi tham gia vào các thơng vụ giao dịch.
Những bảo lãnh độc lập do ngân hàng của các nớc phơng Tây phát hành đã thực sự đáp
ứng đợc yêu cầu về sự thuận lợi và an toàn cho các quốc gia nhập khẩu. Kể từ đó đến
nay, với khả năng ứng dụng rộng rãi trong các loại giao dịch, vị trí của bảo lãnh ngân
hàng ngày càng đợc củng cố một cách chắc chắn. Có thể nói rằng, hầu hết các giao
dịch lớn trong phạm vi quốc tế, cũng nh trong nội địa đều có sự hỗ trợ của bảo lãnh
ngân hàng. Doanh số của nghiệp vụ này đã gia tăng một cách đáng kinh ngạc ở hầu hết
và ngời hởng bảo lãnh, mà còn bao hàm những mối quan hệ khác. Đó là :
Quan hệ giữa ngời đợc bảo lãnh và ngời hởng bảo lãnh. Đây là quan hệ gốc, là cơ sở
phát sinh yêu cầu bảo lãnh.
Quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và ngời đợc bảo lãnh. Đó là quan hệ giữa ngân
hàng cấp tín dụng và khách hàng hởng tín dụng.
Cả ba mối quan hệ này cùng tồn tại song song và cùng chấm dứt.
Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng không dùng vốn của ngân hàng,
mà dùng đến uy tín của ngân hàng.
Một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng thờng có ít nhất ba thành phần sau :
Ngời bảo lãnh : là ngời phát hành bảo lãnh.
Ngời đợc bảo lãnh : là ngời yêu cầu bảo lãnh.
Ngời thụ hởng bảo lãnh : là ngời nhận cam kết bảo lãnh.
4. Chức năng chủ yếu của bảo lãnh ngân hàng :
Bảo lãnh ngân hànglà công cụ bảo đảm.
Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh. Bằng việc cam kết chi trả bồi thờng
khi xảy ra các biến cố vi phạm hợp đồng của ngời đợc bảo lãnh, các ngân hàng phát
4
hành bảo lãnh đã tạo ra một sự đảm bảo chắc chắn cho ngời thụ hởng. Chính sự tin t-
ởng này tạo điều kiện cho hợp đồng đợc ký kết một cách suôn sẻ thuận lợi. Đây cũng
chính là điểm khác biệt cơ bản giữa bảo lãnh ngân hàng và tín dụng th thơng mại ( tín
dụng chứng từ ). Do việc thanh toán dựa trên biến cố vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của
ngời đợc bảo lãnh ( chẳng hạn nh : giao hàng không đúng kế hoạch, không đạt chất l-
ợng theo hợp đồng kinh tế đã ký kết, thanh toán tiền hàng không đúng hạn. . . ) nên
trong thực tế tỷ trọng các bảo lãnh đợc yêu cầu thanh toán không cao, thông thờng chỉ
khoảng dới 5% ( chẳng hạn tại Mỹ chỉ có khoảng 1% trong số các bảo lãnh ngân hàng
đợc yêu cầu thực hiện thanh toán ).
Bảo lãnh ngân hànglà công cụ tài trợ.
Không chỉ là công cụ bảo đảm đối với ngời thụ hởng, bảo lãnh còn là công cụ tài trợ
thực sự về mặt tài chính cho ngời đợc bảo lãnh. Trong rất nhiều trờng hợp, thông qua
bảo lãnh khách hàng ( ngời đợc bảo lãnh ) không phải xuất quỹ, đợc thu hồi vốn nhanh
Lập hồ sơ
và xét duyệt
Kết thúc
BL
Giám sát
và xử lý
Phát hành văn
bản BL
5
Các tài liệu liên quan đến giao dịch đợc yêu cầu bảo lãnh, chẳng hạn nh : phơng án
sản xuất kinh doanh, giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá, hợp đồng thơng mại, dịch vụ.
. .
Các tài liệu liên quan đến bảo đảm cho việc bảo lãnh, chẳng hạn nh : giấy tờ thế
chấp, cầm cố tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba. . .
Xét duyệt :
Dựa vào các tài liệu trên kết hợp với những thông tin bổ sung từ các nguồn khác nh :
phỏng vấn trực tiếp khách hàng ; sách báo, tạp chí ; trung tâm thông tin tín - CIC. . . ,
cán bộ tín dụng sẽ tiến hành phân tích khách hàng. Trong quá trình phân tích, tìm hiểu
về khả năng tài chính, khả năng thực hiện hợp đồng và uy tín của khách hàng, cán bộ
tín dụng chủ yếu nhằm định lợng rủi ro về phía khách hàng (ngời đợc bảo lãnh ) ; từ đó
xem xét có chấp nhận bảo lãnh hay không. Nếu mức độ rủi ro đợc đánh giá ở mức cho
phép thì chấp nhận bảo lãnh còn nếu mức độ rủi ro đợc đánh giá ở mức không cho
phép thì từ chối bảo lãnh.
1. 2. Soạn thảo văn bản bảo lãnh :
Cơ sở soạn thảo văn bản bảo lãnh :
Đây là một công việc đặc biệt quan trọng trong toàn bộ qui trình bảo lãnh. Do yêu
cầu bảo lãnh xuất phát từ hợp đồng, nên các yếu tố trong văn bản bảo lãnh không phải
do ngân hàng tự sáng tạo hoặc đề xuất mà phải đọc xây dựng từ nội dung hợp đồng
giao dịch và giấy đề nghị của khách hàng. Chính vì vậy, hợp đồng giữa ngời đợc bảo
lãnh và ngời hởng bảo lãnh đợc xem nh một hợp đồng cơ sở, hợp đồng gốc. Và việc
nhất với mục đích của bảo lãnh. Hơn nữa, do bảo lãnh đợc thiết lập trong khuôn khổ
một hành vi hợp đồng cụ thể nên nội dung văn bản bảo lãnh phải có phần tham chiếu
đến số hiệu hợp đồng gốc.
Số tiền bảo lãnh.
Số tiền bảo lãnh giới hạn mức thanh toán của ngân hàng bảo lãnh đối với ngời thụ
hởng nên khi xảy ra biến cố vi phạm của ngời đợc bảo lãnh, ngời thụ hởng không có
quyền đòi bồi thờng nhiều hơn số tiền này cho dù giá trị thiệt hại thựctế lớn hơn. Số
tiền bảo lãnh thờng đợc qui định theo mức tối đa và xác định dựa trên bản chất của
giao dịch cũng nh giá trị hợp đồng gốc. Thông thờng số tiền bảo lãnh đợc ghi chính
xác theo giá trị tuyệt đối, tránh trờng hợp ghi theo tỉ lệ phần trăm so với giá trị hợp
đồng gốc ( để đề phòng hợp đồng gốc có thể thay đổi sau khi bảo lãnh đã đợc phát
hành ). Một điểm khác cũng cần lu ý là điều khoản giảm thiểu giá trị bảo lãnh ( nếu
có ) cũng phải đợc đa vào trong văn bản bảo lãnh để tránh sự lạm dụng từ phía ngời thụ
hởng. Chẳng hạn trong bảo lãnh hoàn thanh toán, giá trị bảo lãnh tối đa bằng số tiền
ứng trớc của của ngời đợc bảo lãnh. Nhng giá trị bảo lãnh này sẽ giảm tơng ứng theo
nghĩa vụ đã hoàn thành của ngời đợc bảo lãnh. Khi ngời đợc bảo lãnh hoàn thành toàn
bbọ nghĩa vụ của họ thì giá trị bảo lãnh chỉ còn bằng không.
Các điều kiện thanh toán.
Phần này qui định các chứng từ cần thiết phải xuất trình, làm cơ sở cho việc thực
hiện cam kết thanh toán của ngân hàng bảo lãnh. Khi các điều kiện này đợc thoả mãn
thì ngân hàng bảo lãnh có nghĩa vụ phải chi trả và ngời thụ hởng đợc quyền nhận bồi
thờng. Việc qui định các loại chứng từ xuất trình để thanh toán tuỳ thuộc vào việc lựa
chọn điều kiện thanh toán của bảo lãnh mà cơ sở của nó là sự thoả thuận giữa ngời thụ
hởng và ngời đợc bảo lãnh cũng nh vị thế của từng bên trong hợp đồng chính, ngân
hàng hoàn toàn không can thiệp vào. Tuy nhiên, để ngân hàng có thể thực hiện tốt vai
trò kiểm tra trớc khi thanh toán của mình, các chứng từ thanh toán cần phải đợc qui
định cụ thể, chi tiết và rõ ràng.
Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh.
Đây là khoảng thời gian mà ngân hàng phát hành với t cách là ngời bảo đảm, chịu
trách nhiệm thực hiện cam kết thanh toán bất cứ khi nào điều kiện thanh toán dợc thoả
thể dao động từ 10% - 100% số tiền bảo lãnh.
Tiến hành thủ tục nhận bảo đảm ( thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh. . . ).
Ghi giá trị bảo lãnh vào sổ theo dõi ( ngoại bảng ).
1. 4. Giám sát và xử lý :
Tuỳ từng loại bảo lãnh cụ thể khác nhau mà cán bộ thực hiện bảo lãnh có thể thực
hiện một số công việc sau :
Theo dõi việc phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh
Theo dõi giải ngân, thực hiện nhận nợ
Hạch toán số d bảo lãnh
Theo dõi thực hiện hợp đồng bảo lãnh :
+ Theo dõi tình tài chính và sản xuất kinh doanh của khách hàng.
+ Thu phí bảo lãnh.
+ Kiểm tra tài sản bảo đảm cho bảo lãnh.
+ Đôn đốc thực hiện nghĩa vụ đợc bảo lãnh.
+ Xử lý khi phải trả nợ thay.
+ Xử lý các vớng mắc khác ( nếu có ).
1. 5. Kết thúc bảo lãnh.
Tất toán bảo lãnh
Giải toả tài sản đảm bảo bảo lãnh
Đánh giá kết quả, rút kinh nghiệp
Lu trữ hồ sơ
2. Các hình thức bảo lãnh ngân hàng :
8
Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau thì có các hình thức bảo lãnh ngân hàng
khác nhau.
Căn cứ vào bản chất của bảo lãnh, gồm hai loại : bảo lãnh đồng nghĩa vụ và bảo lãnh
độc lập.
Bảo lãnh đồng nghĩa vụ ( còn đợc gọi là bảo lãnh bổ sung ) là một loại bảo lãnh
mang tính truyền thống xét theo nguồn goóc ra đời của nó. Đặc trng của loại bảo lãnh
này là nghĩa vụ của ngân hàng phát hành bị chi phối bởi qui tắc đồng phạm vi, hay nói
mua hàng hay ngời hởng dịch vụ đã ứng trớc tiền hàng cho ngời bán hay ngời cung cấp
dịch vụ. Bằng việc cam kết sẽ trả lại số tiền đã ứng trớc cho ngời mua ( khi ngời bán
không thực hiện hợp đồng ), ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra sự tin tởng cho ng-
ời mua hàng và đồng thời cũng giúp ngời cung ứng thoát khỏi những khó khăn tạm thời
về ngân quĩ. Giá trị của bảo lãnh hoàn thanh toán thờng tơng đơng toàn bộ số tiền đã
ứng trớc ( kể cả tiền lãi và phạt nếu có ). Tuy nhiên, cần lu ý để tránh sự lạm dụng của
ngời thụ hởng, văn bản bảo lãnh hoàn thanh toán phải qui định rằng bảo lãnh chỉ có
9
hiệu lực khi điều kiện tiền đề ( có liên quan đến hành vi ứng trớc tiền của ngời thụ h-
ởng ) đã đợc thoả mãn. Bảo lãnh vay nợ là một dạng bảo lãnh hoàn thanh toán đợc sử
dụng khá phổ biến trong và ngoài nớc.
Bảo lãnh trả chậm.
Loại bảo lãnh này đợc sử dụng trong các hợp đồng mua bán thiết bị hàng hoá trả
chậm và còn gọi là bảo lãnh thanh toán. Quan hệ giữa ngời bán và ngời mua ở đây thực
chất là quan hệ tín dụng thơng mại, theo đó ngời mua chấp nhận trả tiền hàng hoá theo
kỳ hạn nợ cụ thể. Để bảo vệ mình trớc rủi ro không thanh toán đầy đủ và đúng hạn của
ngời mua, ngời bán có thể yêu cầu một bảo lãnh trả chậm của ngân hàng.
Đây một trong những loại bảo lãnh rất phổ biến ở các nớc đang phát triển.
Bảo lãnh dự thầu.
Mục đích của bảo lãnh ngân hàng loại này nhằm bù đắp những thiệt hại về thời
gian và chi phí cho ngời tổ chức đâú thầu do những vi phạm của bên đối tác liên quan (
ngời tham gia dự thầu ) chẳng hạn nh : rút đơn dự thầu, không ký tiếp hợp đồng sau khi
trúng thầu, bổ sung thêm các điều kiện khi ký hợp đồng so với bản dự thầu. . . Bảo lãnh
dự thầu thực chất là phơng tiện thay thế cho việc ký quĩ của ngời tham gia dự thầu, nên
giá trị của bảo lãnh này đợc qui định theo mức ký quĩ chuẩn do ngời tổ chức đáu thầu
đa ra. Bảo lãnh dự thầu theo bản tính tự nhiên của nó sẽ tự động mất hiệu lực trong tr-
ờng hợp ngời đợc bảo lãnh không đợc trúng thầu.
Căn cứ vào phơng thức phát hành bảo lãnh, bảo lãnh ngân hàng có thể phân biệt
thành các loại sau :
Bảo lãnh trực tiếp.
cầu thanh toán cho ngân hàng phát hành. Yêu cầu thanh toán có thể là một trong hai
dạng sau :
+ Văn bản yêu cầu thanh toán.
+ Văn bản yêu cầu thanh toán kèm với tờ trình về sự vi phạm hợp đồng của ngời đợc
bảo lãnh.
Các văn bản trên đều do ngời thụ hởng đơn phơng lập, không cần có sự xác nhận
của ngời đợc bảo lãnh hoặc của bên thứ ba nào khác.
Có thể nói bảo lãnh theo yêu cầu thể hiện tính độc lập rất cao, theo đó ngân hàng
phát hành không có quyền viện dẫn bất cứ lý do nào liên quan đến hợp đồng gốc ddể
trì hoãn việc thanh toán. Loại bảo lãnh này tạo cho ngời hởng thụ những thuận lợi rất
lớn bởi khả năng bảo đảm chắc chắn và tính thanh khoản kịp thời. Về phía ngân hàng
phát hành, việc kiểm tra chứng từ trớc khi thanh toán khá đơn giản, không đòi hỏi
những thủ tục và thao nghiệp vụ phức tạp. Tuy nhiên, do việc lập yêu cầu thanh toán
hoàn toàn dựa trên nhận định chủ quan của ngời thụ hởng nên có thể gây ra những bất
lợi đối với ngời đợc bảo lãnh.
Bảo lãnh kèm chứng từ.
Đây là loại bảo lãnh mà điều kiện phải có chứng từ xác nhận của bên thứ ba ( th-
ờng là một bên độc lập có đủ t cách chuyên môn để xác nhận ). Chứng từ có thể đợc
xuất trình theo một trong hai cách sau đây :
+ Ngời thụ hởng xuất trình các chứng từ xác nhận hành vi vi phạm nghĩa vụ từ phía ng-
ời đợc bảo lãnh. Những chứng từ này do bên thứ ba có t cách độc lập phát hành.
+ Ngời thụ hởng xuất trình yêu cầu thanh toán, ngoài ra không cần phải xuất trình bất
kỳ loại chứng từ nào khác. Tuy nhiên, quyền thanh toán của ngời này sẽ bị đình lại nếu
ngời đợc bảo lãnh cung cấp các chứng từ của bên thứ ba độc lập xác nhận việc hoàn
thành hợp đồng.
Bảo lãnh kèm chứng từ bảo vệ quyền lợi của ngời đợc bảo lãnh tốt hơn so với bảo
lãnh theo yêu cầu, nhng nh vậy có nghĩa là u quyền của ngời thụ hởng sẽ bị giảm đi.
Đứng về phía ngân hàng phát hành thì loại bảo lãnh này đòi hỏi trách nhiệm kiểm tra
chứng từ trớc khi thanh toán khá phức tạp, bởi vì chúng rất đa dạng và không theo một
tiêu chuẩn thống nhất nào.
hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trong trờng hợp khách hàng vi phạm các
cam kết với bên nhận bảo lãnh và phải hoàn trả số tiền đã ứng trớc nhng không hoàn
trả hoặc hoàn trả không đủ số tiền ứng trớc cho bên nhận bảo lãnh thì TCTD sẽ hoàn
trả số tiền ứng trớc cho bên nhận bảo lãnh.
+ Bảo lãnh đối ứng : là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho một TCTD
khác về việc đề nghị bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh cho các nghĩa vụ của khách hàng
của bên phát hành bảo lãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh. Trờng hợp, khách hàng vi
phạm các cam kết với bêb nhận bảo lãnh, bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo
lãnh thì bên phát hành bảo lãnh đối ứng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối ứng cho
bên bảo lãnh.
III - Những rủi ro trong nghiệp vụ bảo lãnh của NHTM.
1. Rủi ro đối với ngời thụ hởng bảo lãnh.
Trên lý thuyết, ngân hàng đợc chọn làm ngân hàng bảo lãnh phải là một ngân hàng
mạnh về tài chính, có chính sách tài trợ mạnh mẽ, trình độ nghiệp vụ của cán bộ cao,
năng lực quản lý điều hành của ban lãnh đạo tốt, có uy tín lớn trên thị trờng. . . Đáp
ứng đợc điều này cũng có nghĩa là bên đợc bảo lãnh tìm đợc cho mình chỗ dựa vững
chắc, đồng thời ngời thụ hởng bảo lãnh sẽ có sự bảo đảm lớn về khả năng nhận đợc bồi
hoàn nếu bên đợc bảo lãnh vi phạm hợp đồng đã ký kết.
Song trên thực tế không phải lúc nào bên đợc bảo lãnh cũng nh ngời thụ hởng bảo
lãnh tìm đợc cho mình một ngân hàng bảo lãnh nh ý. Chính vì vậy mà ngời thụ hởng bị
chi phối bởi khả năng tài chính của ngân hàng bảo lãnh. Chẳng hạn nh cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ sẽ kéo dài theo sự sụp đổ của ngân hàng bảo lãnh và hâụ quả là
12
ngời thụ hởng bảo lãnh phải chịu rủi ro. Ngoài yếu tố trên, các nguyên nhân bất khả
kháng cũng có thể gây rủi ro cho ngời thụ hởng nh : thiên tai, sự bất ổn về chính trị. . .
2. Rủi ro đối với bên đợc bảo lãnh.
Do tính chất cũng vai trò của bảo lãnh nên bên đợc bảo lãnh bị ràng buộc trong
việc thực hiện các hợp đồng đã ký kết với ngời thụ hởng bảo lãnh. Bên đợc bảo lãnh
luôn chịu sức ép phải đền bù về mặt tài chính nếu sự vi phạm của mình đợc chứng
minh trong suốt thời gian có hiệu lực của bảo lãnh. Chính vì vậy mà ngời thụ hởng bảo
có liên quan mật thiết, tác động, ảnh hởng lẫn nhau. Do đó, một quyết định hay một
hành động sai trong bớc này sẽ dẫn đến quyết định hay hành động sai trong bớc tiếp
theo.
Do vậy, trong thời gian th bảo lãnh còn hiệu lực ngân hàng cần phải theo dõi, kiểm
tra tình hình thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết của khách hàng. Nếu không ngân hàng
sẽ không có những biện pháp thích hợp để can thiệp và xử lý khi cần thiết. Công nghệ
ngân hàng và thông tin cũng là một yếu tố hết sức quan trọng trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Nếu thiếu thông tin, cán bộ ngân hàng không đủ cơ sở để đánh
13
giá tình hình sản xuất kinh doanh hiện tại cũng nh tơng lai của doanh nghiệp, khả năng
thực hiện đã cam kết với ngân hàng, không dự đoán đợc những biến động có thể xảy
ra. Do đó, có thể đa ra những quyết định và kế hoạch chính xác, kịp thời nhằm hạn chế
rủi ro trong hoạt động bảo lãnh.
IV - ý nghĩa của bảo lãnh ngân hàng.
1. Đối với ngân hàng.
Mặc dù mới xuất hiện ở Việt Nam song nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng từ khi ra
đời đã khẳng định đợc vị trí quan trọng của mình qua việc nâng cao hiệu quả các hợp
đồng kinh tế và lành mạnh hoá môi thơng mại. Điều này đợc chứng minh bởi những lợi
ích thiết thực mà bảo lãnh ngân hàng mang lại cho ngân hàng, cho doanh nghiệp và
cho cả nền kinh tế. Trớc hết là đối với ngân hàng :
+ Việc thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh mang lại cho ngân hàng một nguồn thu nhập đó
chính là phí bảo lãnh mà ngânhàng thu từ khách hàng của mình. Phí bảo lãnh đợc tính
theo công thức :
Phí bảo lãnh = Tỷ lệ phí (%) * giá trị bảo lãnh * thời gian bảo lãnh
Phí bảo lãnh chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng dịch vụ các ngân hàng hiện đại. Một u
điểm trong bảo lãnh là ngân hàng không phải xuất vốn ra ngay, do vậy cha phải sử
dụng vốn của mình, không phải trả chi phí huy động và không phải mất chi phí cơ hội
cho mục đích kinh doanh khác.
+ Luật pháp bắt buộc muốn bảo lãnh phải có ký quĩ bảo lãnh, khoản này gửi vào tài
khoản phong toả tại ngân hàng bảo lãnh suốt thời gian bảo lãnh, cho nên đối với ngân
công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn và ngành kinh tế phát triển thông qua
các chính sách của ngân hàng nh : mở rộng bảo lãnh vay vốn nớc ngoài, hạn mức bảo
lãnh. . . để khuyến khích các ngành này phát triển. Ngợc lại, với những ngành cần hạn
chế, ngân hàng có những chính sách bảo lãnh khắt khe, từ đó góp phần cân đối nền
kinh tế. Hoạt động bảo lãnh còn giúp mở rộng thơng mại, thúc đẩy cạnh tranh và phát
triển kinh tế.
Đặc biệt riêng đối với nền kinh tế Việt Nam, với đặc điểm vừa chuyển từ cơ chế
bao cấp sang cơ chế thị trờng, nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng đã góp phần tích cực
trong việc phát triển kinh tế sản xuất hàng hoá ở nớc ta. Bảo lãnh hỗ trợ cho các doanh
nghiệp trong nớc có khả năng đứng vững trong cơ chế thị trờng, hoạt động có hiệu quả
và vơn lên sánh vai với các doanh nghiệp khác trên Thế giới.
Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng ngày càng mở rộng và phát triển, nó đã chứng minh
sự cần thiết cũng nh vai trò và tác dụng hữu hiệu không chỉ với từng doanh nghiệp mà
còn với cả nền kinh tế của một nớc và nền kinh tế thế giới. bảo lãnh đã trở thành một
trợ thủ đắc lực của nhà kinh doanh. Để phục vụ một cách tốt nhất và đáp ứng nhu cầu
kinh doanh, ngân hàng luôn tìm cách đổi mới và hoàn thiện công tác bảo lãnh. Nghiên
cứu về công tác bảo lãnh sẽ giúp chúng ta đánh giá thực trạng này ở Việt Nam, từ đó
có các biện pháp cải tiến hoạt động bảo lãnh cho thích hợp.
15
Chơng II - Thực trạng hoạt động bảo lãnh
tại NHNo & PTNT Hà Nội
I - Giới thiệu khái quát về quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT Hà
Nội.
1. Một số nét về NHNo&PTNT Hà Nội.
1. 1. Quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT Hà Nội :
+ NHNo&PTNT Việt Nam đợc thành lập theo quyết định số 21 ngày 27/6/1988
của Thống đốc NHNN. Cùng thời gian này, chi nhánh NHNo Hà Nội đợc thành lập,
nhận bàn giao từ NHCT bốn quận nội thành và 12 chi nhánh ngân hàng huyện là :
Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm, Mê Linh, Sóc Sơn, Hoài Đức, Đan Phợng,
Thạch Thất, Phúc Thọ, Sơn Tây, Ba Vì.
nghiệp, thơng nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải và dịch vụ. . .
+ Thực hiện cho vay vốn với các dự án lớn của Chính phủ, Tổng công ty 90, 91. . .
và cho vay ủy thác thông qua các công ty tài chính.
+ Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu ( và mở L/C thanh toán xuất nhập khẩu)
16
+ Cho vay đời sống tiêu dùng : mua nhà mới, sửa chữa cải tạo nâng cấp nhà cửa,
phơng tiện sinh hoạt, ôtô, xe máy, tivi, máy giặt. . .
+ Cho vay cầm cố các chứng chỉ có giá.
+ Cho vay tất cả các đối tợng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đa ngành nghề mà luật
pháp không cấm kinh doanh.
Dịch vụ ngân hàng :
+ Thực hiện thanh toán, chuyển tiền nhanh trong nớc qua mạng điện tử và thanh
toán quốc tế trực tiếp trên mạng SWIFT.
+ Chiết khấu chứng từ có giá.
+ Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh.
+ Thực hiện các dịch vụ đại lý cho các tổ chức kinh tế xã hội.
1. 3. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của chi nhánh NHNo&PTNT Hà Nội :
Tại trụ sở chính ( số 77 Lạc Trung ) có các phòng nghiệp vụ sau :
+ Phòng Kế toán - Ngân quĩ + Phòng Kiểm soát
+ Phòng Kinh doanh + Phòng Tổ chức cán bộ
+ Phòng Kế hoạch + Phòng Marketing
+ Phòng Thanh toán quốc tế + Phòng Vi tính
2. Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng N
o
&PTNT Hà Nội.
Theo định hớng hoạt động kinh doanh đợc NHNo&PTNT Việt Nam xác định là : "
Kiên trì thực hiện đờng lối công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ;
triệt để đi theo cơ chế thị trờng ; thực hiện cung cầu vốn trên từng địa bàn với lãi suát
thực dơng, đảm bảo đủ chi phí cho hoạt động và có lãi, từng bớc cải thiện đời sống của
cán bộ công nhân viên ". Dới sự chỉ đạo tập trung, kiên quyết của các cấp lãnh đạo, các