Header Page 1 of 116.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------------------------------
VŨ VĂN HOA
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG
GIÁO VIÊN DẠY TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2010
Footer Page 1 of 116.
Header Page 2 of 116.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------------------------------
VŨ VĂN HOA
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG
GIÁO VIÊN DẠY TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TỈNH QUẢNG NINH
thiện luận văn.
Với tình cảm chân thành, em xin được gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo, chuyên
viên sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh; các đồng chí cán bộ quản lý, giáo
viên dạy tiếng Anh trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh, cùng các bạn
đồng nghiệp và gia đình đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện để em hoàn thành
việc học tập, thu thập và xử lý thông tin phục vụ quá trình nghiên cứu của
mình.
Do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, trong luận văn không tránh khỏi
thiếu sót, em rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của
các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2010
Tác giả
Vũ Văn Hoa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Footer Page 3 of 116.
Header Page 4 of 116.
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BDGV
: Bồi dƣỡng giáo viên
BD
Header Page 5 of 116.
MỤC LỤC
Trang
1
7
Mở đầu
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƢỠNG
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY TIẾNG ANH Ở TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
1.5.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài
Quản lý công tác bồi dƣỡng giáo viên
Giáo dục trung học phổ thông và giáo viên trung học phổ thông
Quản lý hoạt động BD giáo viên dạy tiếng Anh ở trƣờng THPT
7
10
16
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các biện pháp
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Footer Page 5 of 116.
74
77
105
106
109
115
119
Header Page 6 of 116.
Danh môc c¸c b¶ng
Sè hiÖu
Tªn b¶ng
Trang
b¶ng
1
26
Kế hoạch giáo dục Trung học phổ thông
2.1
41
Mức độ hợp lý và tính khả thi của các biện pháp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Footer Page 6 of 116.
Header Page 7 of 116.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để hội nhập thế giới và thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, dạy và học ngoại ngữ trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Ngoại ngữ
được xếp vào một trong những lĩnh vực ưu tiên, một mũi nhọn đột phá trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ trong thời đại ngày nay.
Trong các ngoại ngữ, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất, hầu hết các
giao dịch trên thế giới đều sử dụng tiếng Anh. Vì vậy, rất nhiều quốc gia đưa
tiếng Anh vào trong chương trình giáo dục đào tạo. Kinh nghiệm của các
nước phát triển trên thế giới cũng như trong khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương cho thấy tiếng Anh là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu
trong tiến trình hội nhập và phát triển.
Nhận thức được điều đó, từ nhiều năm nay, Việt Nam đã đưa chương trình
tiếng Anh vào giảng dạy ở tất cả các cơ sở giáo dục, từ phổ thông đến đại học,
sau đại học.
Ngày 30 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 1400/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ
thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020" với mục tiêu chung là; Đổi
mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân,
triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào
+ Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong chương trình giáo dục
thường xuyên với nội dung , chương trình đào tạo phù hợp với các cấp học ,
trình độ đào tạo, góp phần tích cực vào công tác BD, nâng cao trình độ ngoại
ngữ cho nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, viên chức; thực hiện đa dạng hoá
các hình thức học tập, đáp ứng nhu cầu người học. Phấn đấu có 5% số cán
bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước có trình độ ngoại ngữ
bậc 3 trở lên vào năm 2015 và đạt 30% vào năm 2020 [10].
Trong các ngoại ngữ thì tiếng Anh chiếm vị trí quan trọng và đóng vai
trò không thể thiếu được trong việc nâng cao và mở rộng kiến thức, tư duy,
tầm hiểu biết cho các em học sinh. Chính vì vậy, việc dạy và học tiếng Anh
hiện nay đang là vấn đề được học sinh, phụ huynh và cả xã hội quan tâm, đầu
tư. Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, tiếng Anh góp phần
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Footer Page 8 of 116.
Header Page 9 of 116.
hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho việc thực hiện mục
tiêu giáo dục toàn diện ở các trường phổ thông. Nhân tố quan trọng ảnh
hưởng đến hiệu quả dạy và học môn tiếng Anh là đội ngũ giáo viên.
Thời gian qua, việc dạy học tiếng Anh ở các trường THPT đã đạt được
những thành quả nhất định. Tuy nhiên vẫn còn một số bất cập như học sinh chủ
yếu học ngữ pháp để nhằm mục đích thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh đại học, cao
đẳng, khả năng giao tiếp còn kém. Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do
đích hoàn thiện các biện pháp quản lý công tác BDGV dạy tiếng Anh ở
trường THPT tỉnh Quảng Ninh.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy và học tiếng Anh ở các
trường THPT tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động BDGV tiếng Anh ở
trường THPT tỉnh Quảng Ninh.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động BDGV tiếng Anh ở
trường THPT.
4.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học tiếng Anh và quản lý hoạt
động BDGV tiếng Anh ở các trường THPT tỉnh Quảng Ninh.
4.3. Bổ sung và hoàn thiện các biện pháp quản lý hoạt động BDGV
tiếng Anh ở các trường THPT tỉnh Quảng Ninh.
5. Giả thuyết khoa học
Thời gian qua việc quản lý hoạt động BDGV dạy tiếng Anh ở các
trường THPT tỉnh Quảng Ninh đã được quan tâm và đạt được những kết quả
nhất định, song vẫn còn một số hạn chế, bất cập, nếu bổ sung và hoàn thiện
các biện pháp sát với tình hình thực tế, thì có thể nâng cao chất lượng dạy học
bộ môn này ở các trường THPT trong tỉnh.
6. Phạm vi nghiên cứu đề tài
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động BDGV dạy
tiếng Anh ở trường THPT.
6.2. Địa bàn nghiên cứu: tỉnh Quảng Ninh.
6.3. Khách thể điều tra: Các trường THPT có dạy tiếng Anh ở tỉnh
Quảng Ninh.
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Bằng việc xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra theo những nguyên tắc
và nội dung chủ định của chúng tôi. Phương pháp này được sử dụng với mục
đích chủ yếu là thu thập các số liệu về quản lý công tác BDGV dạy tiếng
Anh của cán bộ quản lý các trường THPT, cán bộ quản lý sở GD&ĐT tỉnh
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Footer Page 11 of 116.
Header Page 12 of 116.
Qung Ninh, nhm minh chng c thc trng qun lý cụng tỏc BDGV dy
ting Anh ti cỏc trng THPT tnh Qung Ninh.
7.2.4. Phng phỏp tng kt kinh nghim
Phng phỏp ny c s dng vi mc ớch ỏnh giỏ, tng kt qun lý
cụng tỏc BDGV dy ting Anh ca hiu trng cỏc trng THPT v cỏn b
qun lý giỏo dc tnh Qung Ninh.
7.2.5. Phng phỏp kho nghim
Phng phỏp ny c s dng kim tra tớnh cn thit v tớnh kh
thi ca cỏc bin phỏp qun lý ó xut.
Nhúm 3. S dng toỏn thng kờ x lý s liu thu c t cỏc
phng phỏp trờn.
S dng phng phỏp thng kờ x lý cỏc kt qu iu tra, phõn tớch
kt qu nghiờn cu, ng thi ỏnh giỏ mc tin cy ca phng phỏp
iu tra.
8. Cu trỳc lun vn
Trong suốt các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội ở nước ta, vấn đề BD
cán bộ luôn luôn được chú trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Bồi dưỡng thế
hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Ngay sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945, Người đã quan tâm xây dựng một nền giáo
dục toàn dân, chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên, từng bước đủ về số lượng
và đảm bảo chất lượng để phục vụ sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp cách mạng của
Đảng.
Các Nghị quyết Đại hội Đảng IV, V, đặc biệt là đường lối đổi mới do Đại
hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã tạo đà cho sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có giáo dục. Trong những năm
gần đây, đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn về các lĩnh vực văn hóa – giáo dục,
BDGV. Các tạp chí, tập san, chuyên san, báo Giáo dục thời đại xuất hiện ngày
càng nhiều và càng phong phú về nội dung vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
giáo viên. Tuy vậy, những vấn đề lý luận về BDGV vẫn chưa được thể hiện rõ
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Footer Page 13 of 116.
Header Page 14 of 116.
nét, ít có các công trình nghiên cứu, đây là một vấn đề cần phải được làm sáng tỏ
hơn về lý luận và thực tiễn.
Luật Giáo dục năm 2005 là văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước ta,
quy định sự hoạt động thống nhất, toàn diện trong hệ thống giáo dục quốc dân
Việt Nam, nhằm tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về giáo dục. Đối với các
Header Page 15 of 116.
nâng cao nhận thức của toàn xã hội, vai trò, trách nhiệm của nhà giáo và nhiệm
vụ xây dựng ĐNNG, cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng cao, giỏi về chuyên
môn nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tụy với nghề nghiệp, làm trụ cột thực
hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài [9].
Ngày 22 tháng 10 năm 2009, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số
30/2009/TT/BGDĐT về việc ban hành Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên
THCS, giáo viên THPT. Văn bản này quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên
trung học bao gồm các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, quy trình đánh giá xếp loại giáo viên trung học. Quy
định này áp dụng đối với mọi loại hình giáo viên trung học tại các cơ sở giáo dục
phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Từ những vấn đề nêu trên, chúng ta thấy giáo viên là người tham gia
quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường. Vì thế, BD, phát triển đội ngũ
giáo viên được nhiều tác giả quan tâm. BDGV dạy tiếng Anh ở trường THPT
sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển của giáo dục, phục vụ công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước.
Ở Quảng Ninh đã xây dựng “Kế hoạch phát triển Giáo dục - Đào tạo
tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2005 - 2010 và định hướng đến năm 2020”, Ủy
ban Nhân dân tỉnh đã phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai
đoạn 2006 - 2010”. Vấn đề BDGV dạy tiếng Anh ở trường THPT chưa được
bàn sâu, chưa có chiến lược dài hơi đối với công tác này.
Trong thời gian qua để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
đã có một số công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục nhưng các đề
tài này chủ yếu nghiên cứu về tổ chức quản lý quá trình GD&ĐT, về thực trạng
và các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học ngoại ngữ tại các đại học, dạy học
tiếng Anh tại các trường THCS, trung tâm ngoại ngữ, các trung tâm giáo dục
7].
+ Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [24, tr. 8].
+ Quản lý là bảo đảm sự hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự
biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống tới trạng thái
mới thích ứng với hoàn cảnh mới [24, tr. 8].
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Footer Page 16 of 116.
Header Page 17 of 116.
Theo Fredenck, W.Taylor, tác giả của học thuật quản lý theo khoa học
thì: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó
hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất".
Theo thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol thì: “Quản lý hành
chính là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, phối hợp và kiểm tra".
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý như đã nêu ở trên,
nhưng chúng ta có thể nhận thấy điểm chung của quản lý mà các khái niệm đã
đề cập là:
- Quản lý bao giờ cũng có mục tiêu. Hoạt động quản lý được thực hiện
với một tổ chức hay một nhóm xã hội. Đây là điểrn hội tụ cho những hoạt
động cùng nhau của nhiều người.
- Quản lý là thực hiện những tác động hướng đích từ chủ thể đến đối
Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ
thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp
các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu
phát triển của xã hội hiện nay [24].
Vậy quản lý giáo dục thực chất là quản lý quá trình hoạt động của
người dạy, người học và quản lý các tổ chức sư phạm ở các cơ sở khác nhau
trong việc thực hiện các kế hoạch và chương trình GD&ĐT nhằm đạt được
các mục tiêu giáo dục đề ra.
Quản lý giáo dục là nhân tố cơ bản thực hiện chức năng quản lý nhà
nước đối với hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống luôn ổn định, phát
triển và đạt mục tiêu đã định [30].
Như chúng ta đã đề cập ở trên, khái niệm "quản lý giáo dục” là một
khái niệm có nội hàm rộng hẹp khác nhau, tùy theo cách ta tiếp cận khái niệm
“giáo dục" từ góc độ nào. Được hiểu theo nghĩa rộng nhất thì quản lý giáo
dục là quản lý mọi hoạt động trong xã hội, tác động một cách có mục đích và
có kế hoạch vào toàn bộ các lực lượng giáo dục, nhằm tổ chức và phối hợp
hoạt động của chúng, sử dụng một cách đúng đắn các nguồn lực và phương
tiện, thực hiện có hiệu quả chỉ tiêu phát triển về số lượng và chất lượng của
sự nghiệp giáo dục theo phương hướng của mục tiêu giáo dục [1, tr. 38].
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Footer Page 18 of 116.
nhà trường thực hiện suốt năm học.
Trên cơ sở hoạch định các mục tiêu một cách cụ thể, quản lý nhà trường
phải cụ thể hóa cho từng mục tiêu. Những nội dung này là sức sống cho mục
tiêu, là điều kiện để mục tiêu trở thành hiện thực.
Tóm lại, quản lý trường học là quản lý giáo dục được thực hiện trong
phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, thực hiện nhiệm vụ
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Footer Page 20 of 116.
Header Page 21 of 116.
giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội. Hiện nay các nhà quản lý trường
học quan tâm nhiều đến các thành tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ
chức quản lý và kết quả; đó là các thành tố trung tâm của quá trình sư phạm,
nếu quản lý và tác động hợp quy luật sẽ đảm bảo cho một chất lượng tốt trong
nhà trường.
Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế của hệ thống giáo dục.
Đương nhiên quản lý nhà trường có liên quan hữu cơ với quản lý giáo dục.
Nhưng như ta biết, quản lý giáo dục bao gồm hai cấp độ: Quản lý cấp vĩ mô
và quản lý cấp vi mô. Quản lý cấp vĩ mô là quản lý hệ thống giáo dục quốc
dân (trong các cấp từ Trung ương đến địa phương, còn quản lý vi mô là quản
lý hoạt động giáo dục trong nhà trường). Như vậy quản lý hoạt động giáo dục
trong nhà trường chính là nội dung quan trọng của quản lý nhà trường.
Trên cơ sở đó, ta hiểu quản lý nhà trường là hệ thống những tác động
Từ quan niệm trên, ta thấy:
+ Chủ thể BD là những người đã được đào tạo và có trình độ chuyên
môn nhất định.
+ BD thực chất là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng để nâng cao trình
độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó nhằm đáp ứng yêu cầu mới
của chuyên môn nghiệp vụ.
+ Mục đích BD nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để
người lao động có cơ hội củng cố, mở mang nâng cao hệ thống kiến thức, kỹ
năng chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
công việc đang làm.
BD thực chất là bổ sung, bồi đắp những thiếu hụt về tri thức, cập nhật
cái mới trên cơ sở “nuôi dưỡng” những cái đã có để mở mang, làm cho chúng
phát triển thêm, có giá trị làm tăng hệ thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp
vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả lao động. Chính vì thế BD còn
được gọi là đào tạo lại.
Theo xu hướng phát triển giáo dục là: “Giáo dục thường xuyên, học
tập suốt đời” thì việc đào tạo, BD và đào tạo lại là quá trình thống nhất. BD
và đào tạo là sự tiếp nối quá trình đào tạo. BD và đào tạo lại tạo ra tiền đề về
tiêu chuẩn cho quá trình đào tạo chính quy ở bậc cao hơn về trình độ chuyên
môn trong lĩnh vực cụ thể.
1.3. Qu¶n lý công tác båi d-ìng gi¸o viªn
1.3.1. Bồi dƣỡng giáo viên
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Footer Page 22 of 116.
17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Footer Page 23 of 116.
Header Page 24 of 116.
ngoài mục tiêu là nâng cao trình độ hiện có của mỗi giáo viên, nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Tùy đối tượng, hoàn cảnh và
yêu cầu đặt ra mà công tác BDGV nhằm thực hiện các mục tiêu sau:
+ BD để chuẩn hóa trình độ được đào tạo (BD chuẩn hóa).
+ BD để cập nhật kiến thức (BD thường xuyên).
+ BD để dạy theo chương trình và SGK mới (BD thay sách).
+ BD để tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn sau chuẩn về đào tạo.
+ BDGV nhằm bổ sung những thiếu hụt về tri thức trên cơ sở nuôi
dưỡng những tri thức cũ còn phù hợp với yêu cầu mới, điều chỉnh, sửa đổi
những tri thức đã bị lạc hậu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn để tiếp tục
công tác tốt hơn.
1.3.1.2. Nhiệm vụ bồi dƣỡng giáo viên
Nhiệm vụ BDGV là:
+ Không ngừng nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ giáo viên
đáp ứng những yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục trong tình hình mới.
+ BD giúp cho giáo viên có được thói quen tự học, tự nghiên cứu,
thực hành và vận dụng các phương pháp dạy học mới để nâng cao chất lượng
và hiệu quả giáo dục.
1.3.1.3. Nội dung, đối tƣợng, phƣơng pháp bồi dƣỡng giáo viên
1.3.1.4. Hình thức bồi dƣỡng giáo viên
Thường có ba hình thức BDGV phổ biến là:
+ BD tại chỗ: Tức là tổ chức BD ngay tại trường mà giáo viên đang
công tác.
+ BD tập trung: BD theo khóa hay theo từng đợt tại cơ sở đào tạo hay
cơ sở BDGV hoặc theo cụm trường.
+ BD từ xa: Thông qua các phương tiện, công nghệ thông tin để hỗ trợ
BD tại chỗ.
Quan trọng nhất vẫn là phương thức tự BD. Vấn đề tự học, tự đào tạo
đang được coi là phương châm giáo dục “Học thường xuyên, học suốt đời”,
“Học, học nữa, học mãi” xây dựng một “Xã hội học tập”. BD là loại hình của
hoạt động dạy học, yếu tố nội lực trong dạy học là tự học, yếu tố nội lực trong
BD là tự BD. Công tác BD có đạt hiệu quả hay không chủ yếu do giáo viên
quyết định, nó phụ thuộc vào ý thức tự BD của giáo viên. Tuy nhiên, nếu chỉ
tự BD thôi thì chưa đủ mà phải biết kết hợp cùng giúp đỡ nhau học tập, học
theo nhóm để học lẫn nhau, học từ học sinh thông qua thông tin phản hồi.
19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Footer Page 25 of 116.