TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
GIÁO TRÌNH
(Lưu hành nội bộ)
MỘT SỐ TRÀO LƯU TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI
Tác giả: Th.s Lương Thị Lan Huệ
Năm 2017
1
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI...3
1.1. Hoàn cảnh ra đời của triết học phương Tây hiện đại............................................3
1.2. Đặc điểm cơ bản của triết học phương Tây hiện đại............................................5
1.3. Phương pháp nghiên cứu triết học phương Tây hiện đại......................................7
1.4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu, học tập, nghiên cứu triết học phương Tây hiện
đại...................................................................................................................................7
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ TRÀO LƯU TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI..........9
2.1. Chủ nghĩa thực chứng...........................................................................................9
2.2. Chủ nghĩa thực dụng...........................................................................................16
2.3. Chủ nghĩa hiện sinh............................................................................................30
2.4. Chủ nghĩa Tômat mới.........................................................................................37
2.5. Chủ nghĩa Phờrớt................................................................................................38
vào đó, hai cuộc chiến tranh thế giới đặc biệt là chiến tranh thế giới thứ hai 1939-1945
để lại hậu quả cực kỳ nghiêm trọng, hàng ngàn thành phố bị phá hủy, hàng chục triệu
người chết.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười (Nga) thắng lợi tạo ra những bước
phát triển có lợi cho phong trào công nhân và giải phóng dân tộc. Phe xã hội chủ
nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc trở thành đối trọng với hệ thống các nước đế
quốc. Triết học Mác- Lênin được truyền bá rộng rãi và ngày càng tỏ rõ ưu thế so với
các học thuyết khác và trở thành vũ khí lý luận của giai cấp công nhân. Sự phát triển
của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa,
phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa làm cho chủ
nghĩa tư bản khủng hoảng về tư tưởng. Giữa thế kỷ XX, các cuộc cách mạng khoa
học- kỹ thuật đạt được nhiều kết quả nghiên cứu mới, Thuyết tương đối rộng và hẹp
(1905, 1915), tìm ra điện tử tia phóng xạ, Học thuyết về Gien, Vật lý lượng tử v.v. làm
đảo lộn nhiều tri thức trước đó. Việc ứng dụng kết quả của khoa học đã làm cho loài
người chế tạo được nhiều dạng công cụ lao động mới, đưa năng suất lao động lên cao
chưa từng thấy, đồng thời, loài người cũng chế tạo ra những vũ khí giết người hàng
loạt (bom nguyên tử, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, vũ khí sinh, hoá học v.v.) với
lượng chất nổ trong tay, con người có thể phá huỷ được nhiều lần Trái Đất. Cuộc chạy
4
đua vũ trang, sự phá huỷ môi trường sống luôn đặt loài người trước những thảm hoạ
khủng khiếp và khó lường.
Đến giữa thế kỷ XIX, với việc giai cấp tư sản nhiều nước Châu Âu lần lượt
giành được chính quyền, triết học cận đại cũng hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó
trong cách mạng tư sản. Từ sau đó, triết học này đã dần xa rời truyền thống duy vật và
biện chứng của triết học Anh, Pháp , Đức, trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX. Nó
chuyển hướng sang chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình nên không còn đưa ra được
một thế giới quan tích cực, giàu sức sống như nó đã từng thể hiện trong mấy thế kỷ
đó đã hình thành trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lý. Trào lưu duy khoa học và
trào lưu phi duy lý dường như đối lập nhau, nhưng trên thực tế lại bổ sung nhau, vì
chúng đều cần thiết cho sự ổn định và phát triển của xã hội tư bản, đều là phản ánh
mâu thuẫn trong lòng chủ nghĩa tư bản hiện đại.
Triết học phương Tây hiện đại thực chất là hệ tư tưởng, là thế giới quan của giai
cấp tư sản, nó ra đời và tồn tại gắn liền với chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản.
Chủ nghĩa tư bản được hình thành và phát triển nhờ nền tảng của cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật. Người ta cho rằng khoa học kỹ thuật là chiếc đũa thần là đòn
bẩy để phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội. Từ chỗ đó, họ tôn sùng khoa học
kỹ thuật dẫn đến chủ nghĩa duy lý. Mặt khác, con người cũng nhận thấy rằng, với sự
phát triển khoa học kỹ thuật, con người mất đi vị trí chúa tể của mình, từ đó sinh ra
chủ nghĩa phi lý đề cao con người chống lại chủ nghĩa duy lý đề cao khoa học kỹ
thuật. Nguyên nhân của sự phân thành hai hệ tư tưởng cơ bản trên là do những mâu
thuẫn kinh tế-xã hội vốn có trong lòng tư bản chủ nghĩa và sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học kỹ thuật.
2. Đặc điểm cơ bản của triết học phương Tây hiện đại
+ Triết học phương tây hiện đại có nhiều trào lưu trường phái, chủ nghĩa khác
nhau, rất đa dạng và phức tạp. Đó là chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực chứng, chủ
nghĩa tômat mới, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa nhân vị, chủ nghĩa cấu trúc, chú giải
6
học…Các trào lưu triết học này xuất hiện kế tiếp nhau và thay nhau giữ vai trò chủ
đạo với những mức độ khác nhau trong đời sống triết học phương tây hiện đại. Từ đầu
thế kỷ XX, nhất là sau chiến tranh thế giới thứ hai, triết học phương tây hiện đại
không ngừng phân hóa thành nhiều trường phái khác nhau. Tuy vậy nội dung của các
trường phái đó chỉ xoay quanh vấn đề chủ yếu là duy khoa học và nhân bản phi lý.
+ Tiếp tục ý đồ vượt lên trên sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
duy tâm, các trào lưu triết học như chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa thực dụng, chú
giải học….cố đi tìm con đường trung gian ở giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
còn triết học Mácxit là thế giới quan của giai cấp vô sản và nhân dân lao động nên
giữa chúng có sự khác biệt. Chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có thể sử dụng triết học
Mácxit làm nền tảng tinh thần xã hội chứ không thể triết học nào khác. Do đó, trong
nghiên cứu triết học chúng ta không được dùng triết học phương Tây để thay thế hoặc
làm suy yếu triết học Mácxit. Nhưng chính sách cải cách mở cửa lại đòi hỏi chúng ta
mở rộng, đi sâu tìm hiểu văn hóa, kinh tế-xã hội các phương Tây thì mặt triết học
cũng cần mở cửa. Chúng ta phải coi việc làm phong phú triết học Mácxit là nhiệm vụ
của nghiên cứu triết học do đó không nên có thái độ bài xích triết học phương Tây.
Gần đây giới nghiên cứu triết học ở nước ta đã khắc phục được thái độ phủ định sạch
trơn tồn tại suốt một thời gian dài. Nguyên nhân là do người ta còn lo ngại mối quan
hệ giữa triết học phương Tây và triết học Mácxit. Họ cho rằng triết học Mácxit đã loại
bỏ chủ nghĩa duy tâm, siêu hình, kế thừa có phê phán chủ nghĩa duy vật và phép biện
chúng trước đó để xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử. Còn triết học phương Tây do nó bài xích chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
nên suy cho cùng quay về chủ nghĩa duy tâm, siêu hình. Từ đó họ cho rằng hai trường
phái này đối lập nhau căn bản (triết học Mác xit cách mạng còn triết học phương Tây
phản tiến bộ). Thời gian qua, ngày càng nhiều người thừa nhận triết học phương Tây
chứa đựng nhiều nhân tố hợp lý.
4. Ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu các trào lưu triết học phương Tây
hiện đại
8
Chúng ta đang bước sang một thiện niên kỷ mới cùng với những cơ hội và
thách thức mới. Loài người đã và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn trong mọi lĩnh
vực đời sống xã hội. Căn nguyên của mọi thành tựu đó suy cho cùng là nhờ vào khoa
học và tư duy duy lý. Nhưng thực tiễn cho thấy cuộc sống con người còn đầy rẫy
những vấn đề. Hóa ra khoa học, tư duy duy lý là cần thiết nhưng nó chưa đủ để đảm
bảo cho con người một cuộc sống hạnh phúc, toàn vẹn. Đứng trước bối cảnh tiến bộ
XIX, ở Anh vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Đại diện của trường phí này ở Pháp
có nhà triết học Côngtơ, ở Anh có nhà triết học MinLơ, Xpenxơ.
Bản chất của triết học thực chứng là sự đề cao tri thức khoa học đã được kiểm
chứng. Họ xem nguồn gốc duy nhất của tri thức đích thực là khoa học cụ thể, được
kiểm nghiệm và có hiệu quả thực tiễn. Đồng thời họ cũng phê phán tri thức không đáp
ứng với những tiêu chí khoa học nhưng lại đóng một vai trò quan trọng trong nghiên
cứu khoa học, trong triết học trong văn hóa. Ví dụ, một nhà khoa học công bố đã chế
tạo một loại thuốc chữa lành căn bệnh hiểm nghèo. Chủ nghĩa thực chứng cho rằng
thông tin này chưa đủ căn cứ khoa học vì nó chưa được kiểm chứng.
Thuật ngữ “chủ nghĩa thực chứng” có nghĩa gì ? Comte giải thích: chủ nghĩa
thực chứng - đó là triết học của tri thức khoa học tự nhiên thực chứng nghiệm. Các tri
thức khác đều là giả hiệu, tầm thường. Nhiệm vụ của chủ nghĩa thực chứng là chỉ ra
tri thức nào là tri thức khoa học đích thực, tri thức nào là tri thức giả hiệu, tầm thường.
Tri thức giả hiệu, tầm thường là Siêu hình học truyền thống.
Theo suy nghĩ của Comte tôn giáo truyền thống và chủ nghĩa duy tâm không
còn thích hợp nữa. Giờ đây cách mạng xã hội đã phát huy hết tác dụng của mình, thay
vào đó là nhu cầu cách mạng kỹ thuật, góp phần kiến tạo xã hội mới. Chủ nghĩa duy
tâm giàu sức tưởng tượng và vượt lên trên hiện thực khó mà đáp ứng đòi hỏi bám sát
hiện thực để làm thay đổi chính nó. Trong khi đó chủ nghĩa duy vật và vô thần lại quá
10
cứng nhắc, không tính đến nhu cầu phong phú của đời sống. Comte chống cả ba:
chống chủ nghĩa duy vật thô thiển, chống chủ nghĩa duy tâm tư biện, chống tôn giáo
thần quyền. Comte gọi triết học truyền thống là siêu hình tư biện. Giải pháp khắc phục
nó chỉ có thể là thứ triết học vượt ra khỏi vòng luẩn quẩn của sự đối đầu duy vật - duy
tâm, vô thần - tôn giáo, hay nói thẳng ra là vứt bỏ cả hai sự đối đầu, thay các suy luận
mơ hồ bằng tri thức hữu dụng, dựa trên các thành tựu và các dữ kiện của khoa học cụ
thể. Comte tuyên bố, nếu triết học được xây dựng trên nền tảng khoa học tự nhiên
thực nghiệm, loại trừ siêu hình học cũ, thì chắc chắn nó sẽ tiến bộ hơn so với triết học
nền tảng. Những tri thức này để có ý nghĩa và giá trị khoa học cần được khoa học
kiểm nghiệm. Các nhà triết học thực chứng cho rằng, chỉ có các hiện tượng hoặc sự
kiện, mới là "cái thực chứng", do đó họ không thừa nhận bất cứ cái gì ngoài hiện
tượng, không thừa nhận bản chất của sự vật, họ muốn lẩn tránh vấn đề cơ bản của triết
học, muốn loại trừ vấn đề thế giới quan ra khỏi triết học truyền thống. Auguste Comte
cho rằng, triết học phải lấy các sự vật "thực chứng", "xác thực" làm căn cứ.. Họ xem
tri thức khoa học trước đây là vô bổ, tư biện vì không được kiểm chứng thực tiễn.
Công tơ cho rằng, việc tìm tòi nguyên nhân đầu tiên hay cuối cùng là vô nghĩa và
không thực hiện được. Khoa học nói chung và triết học cần phải bám sát tri thức khoa
học có tính xác thực, tính thực tiễn, tính có ích trong cuộc sống. Triết học thực chứng
giúp con người tìm ra các quy luật logic của trí tuệ con người, thay đổi hệ thống giáo
dục và đào tạo, giúp cho khoa học cụ thể phát triển và cải tạo xã hội.
Chủ nghĩa thực chứng ra đời từ thế kỷ XIX. Cùng với sự phát triển của khoa
học tự nhiên ở thế kỷ XX, nhất là sự ra đời hình học phi Euclite, thuyết tương đối, cơ
học lượng tử, phương thức tư duy truyền thống đã bị tác động rất mạnh. Các phương
pháp toán học, phương pháp logic toán trở thành phương pháp đặc biệt quan trọng
trong khoa học tự nhiên. Tuyệt đối hóa điều đó, một số nhà triết học đã cho rằng,
chính việc nghiên cứu các phương pháp đó mới là nhiệm vụ, nội dung chủ yếu của
triết học. Thậm chí có nhà triết học còn cho rằng, việc toán học hóa, logic học hóa
triết học mới là lối thoát của triết học hiện đại. Trong các nhà triết học chủ trương
logic học hóa triết học có một số người nhấn mạnh việc phân tích ngôn ngữ. Trường
12
phái coi việc phân tích logic ngôn ngữ là nội dung trung tâm của triết học được gọi là
CNTC hoặc triết học phân tích.
Triết học phân tích được hình thành vào đầu thế kỷ XX. Trong số các nhà sáng
lập thì Bertrand Russell và Ludwig Wittgenstein là hai người có ảnh hưởng lớn.
Rớtxơn coi nhiệm vụ phân tích hình thức và phân tích logic là nội dung chủ yếu của
ra. Trong khi đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên lại đưa đến cho họ
niềm hy vọng và chỗ dựa tinh thần mới. Vì vậy, họ chuyển hướng nghiên cứu triết học
từ phương diện thế giới quan sang phương diện phương pháp luận của khoa học. Một
loạt trường phái và phong trào được gọi là chủ nghĩa duy khoa học đã ra đời trong
hoàn cảnh đó. Ngoài bối cảnh xã hội, còn một nguyên nhân nữa xuất phát từ đặc điểm
của khoa học tự nhiên hiện đại. Sự phát triển nhanh chóng của nhiều môn khoa học
mới, sự phân công trong nội bộ khoa học ngày càng tỷ mỷ hơn, sự ứng dụng rộng rãi
toán học và logic toán, việc khoa học ngày càng đi sâu hơn vào kết cấu vật chất, vai
trò của mô hình và kết cấu lý luận tăng lên, v.v.. Tất cả những điều đó đòi hỏi các môn
khoa học thực chứng không những phải nghiên cứu những nội dung cụ thể mà còn
phải nghiên cứu những vấn đề chung của khoa học, đặc biệt là vấn đề phương pháp
luận nhận thức của khoa học. Chủ nghĩa duy khoa học dựa vào yêu cầu mới đó trong
khoa học tự nhiên hiện đại để đưa ra các quan điểm triết học thực chứng của mình.
Chủ nghĩa duy khoa học đã có công đi sâu nghiên cứu và tiếp thu nhiều thành
quả trong toán học và trong các khoa học tự nhiên hiện đại, nêu ra nhiều vấn đề mới
cho triết học, mở ra nhiều hướng mới cho sự phát triển triết học duy vật và phép biện
chứng. Trong đó, có thể nói những nhân tố tích cực, triết học Mác có thể tiếp thu và
sử dụng. Tất nhiên, trào lưu triết học này có một mâu thuẫn, do đó cũng là sai lầm
không thể khắc phục được: do muốn phá vỡ một số công thức của triết học truyền
thống, nên đã cực đoan phủ nhận ý nghĩa thế giới quan của triết học, tức là phủ nhận
bản thân triết học. Mặc dù những nhà triết học sau Popper và Kuhn đã chú ý đến ý
nghĩa thế giới quan của triết học đối với khoa học, nhưng do thiếu quan điểm duy vật
lịch sử nên họ không có cách nào thoát khỏi tính hạn chế đó. Vì vậy chủ nghĩa duy
khoa học không thể mở ra con đường mới đúng đắn cho sự phát triển của triết học.
14
+ Chủ nghĩa thực chứng đã kế thừa và phát triển chủ nghĩa hiện tượng của
Hium. Họ không chỉ đòi hỏi, triết học được giới hạn trong phạm vi hiện tượng (kinh
Âu trong hoàn cảnh khi mà cuộc đấu tranh giành chính quyền của tư sản đã kết thúc
thắng lợi và các nước tư bản chủ yếu trên thế giới đang đứng trước thềm của cuộc cải
cách công nghiệp.
Sau hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, có thể tóm tắt các quan điểm của
chủ nghĩa thực chứng cũ vào các ý chính sau:
+ Nhận thức cần phải được giải phóng khỏi bất kỳ sự phân tích mang tính triết
học nào (cả sự phân tích dưới góc độ thế giới quan)
+ Mọi triết học, kể cả triết học truyền thống đều là triết học siêu hình, giáo điều
kinh viện cần phải được thủ tiêu và thay thế, hoặc bằng những khoa học trực tiếp bởi
vì khoa học chính là triết học hoặc bằng học thuyết về mối quan hệ qua lại giữa các
khoa học về ngôn ngữ của chúng. Triết học cần tiếp tục con đường trung lập với tư
cách là phương tiện hữu hiệu đề cao sự đối lập giữa duy vật và duy tâm.
Chủ nghĩa thực chứng mới
Theo các nhà thực chứng mới, triết học không nên nghiên cứu những vấn đề
như bản chất của sự vật, các quy luật chung của thế giới mà đi tìm phương pháp khoa
học có hiệu quả nhất, đáng tin cậy nhất cho nhận thức của con người và đó chính là
mô hình các khoa học thực chứng.
+Đưa ra một số cơ sở cho sự chuyển đổi đối tượng nghiên cứu của triết học,
chống lại triết học tư biện của Heghen, phát triển và ứng dụng rộng rãi toán học và
logic học như là phương pháp quan trọng của khoa học tự nhiên. Sự phát triển của
khoa học tự nhiên tạo ra các kết quả mới: hình học ơcơlit, thuyết tương đối, cơ học
lượng tử…đã tạo ra những đảo lộn về nhận thức triết học.
Các nhà triết học phân tích-chủ nghĩa thực chứng mới coi việc phân tích logic
ngôn ngữ là nội dung trọng tâm của triết học.
Chủ nghĩa thực chứng logic lại tuyệt đối hóa vai trò của logic, ký hiệu logic
toán học trong sự phát triển nhận thức. Họ có luận điểm xuất phát thống nhất là
nguyên tắc thực chứng bằng thực nghiệm và loại trừ siêu hình.
16
Đến cuối thế kỷ XIX, W. James và một số nhà triết học trong câu lạc bộ siêu
hình học tiếp tục phát triển và hoàn thiện những tư tưởng của C. S Peirce trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội và ý thức xã hội.
Chủ nghĩa thực dụng là một trường phái triết học phương Tây hiện đại đề cao
kinh nghiệm và hiệu quả, ra đời vào cuối thế kỷ XIX ở nước Mỹ. Giữa các đại biểu chủ
yếu của chủ nghĩa thực dụng có nhiều điểm khác nhau, nhưng nói chung, triết học của
họ đều giới hạn trong phạm vi kinh nghiệm, coi tri thức là công cụ để thích ứng với
hoàn cảnh, coi chân lý là cái “có ích”. Chủ nghĩa thực dụng thể hiện một cách nổi bật
phương thức tư duy và phương thức hành động vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận của xã
hội Mỹ. Vì vậy, nó trở thành một trong những trường phái triết học có ảnh hưởng lớn
nhất ở nước Mỹ từ đầu thế kỷ XX đến nay.
Chủ nghĩa thực dụng, với tư cách là mọt trường phái triết học, đã ra đời trong các
năm 1871 – 1874, khi câu lạc bộ siêu hình ở trường Đại học Cambridge (bang
Masachuset) được thành lập. Đó là một hội học thuật do một số giáo viên của trường
lập ra. Người sáng lập ra chủ nghĩa thực dụng là Piêcxơ và một số người khác trong đó
có Giêmxơ.
Nguyên tắc căn bản trong phương pháp luận của chủ nghĩa thực dụng là lấy hiệu
quả, công dụng làm tiêu chuẩn. So với các trường phái triết học phương Tây khác, chủ
nghĩa thực dụng đã phản ánh trực tiếp lợi ích và nhu cầu thực tế của giai cấp tư sản, nên
nó đã gây ảnh hưởng tương đối rộng lớn ở xã hội phương Tây. Một đặc điểm làm cho
chủ nghĩa thực dụng khác với triết học truyền thống là nó đã đi vào triết học từ phương
pháp. Người đại biểu chủ yếu của nó đã có lúc đã quy triết học chỉ còn là vấn đề
phương pháp, tuyên bố chủ nghĩa thực dụng không phải là lý luận triết học có hệ thống
mà chỉ là lý luận về phương pháp.
Sau những năm 40 của thế kỷ XX, địa vị chủ đạo của chủ nghĩa thực dụng trong
triết học Mỹ đã được thay thế bằng các trường phái triết học mới nổi lên ở châu Âu và
được truyền bá vào nước Mỹ.
nhằm phủ định thế giới bên ngoài và quy luật khách quan, về thực chất là đi theo con
20
đường kinh nghiệm luận duy tâm của Béccơli, song, về hình thức có những điểm khác
biệt sau:
- Dùng quan điểm tâm lý học hoặc sinh học để giải thích kinh nghiệm. Kinh
nghiệm không phải là tri thức, không phải là sự phản ánh của bộ óc con người đối với
thế giới khách quan, mà là hoạt động tâm lý nào đó thích ứng với hoàn cảnh.
- Cường điệu tính năng động chủ quan của kinh nghiệm. Dewey J. nhận định
rằng, hoạt động thích ứng với hoàn cảnh của con người khác với động vật thích ứng
một cách tiêu cực đối với thiên nhiên. Con người dựa vào ý chí và trí tuệ của mình làm
cho hoàn cảnh phát sinh sự thay đổi có lợi cho đời sống con người. Cho nên kinh
nghiệm được hình thành ở con người là do tác động lẫn nhau của con người và hoàn
cảnh.
Chủ nghĩa thực dụng, khi cường điệu tính năng động của kinh nghiệm đã thủ tiêu
cơ sở khách quan của kinh nghiệm. Họ nhận định rằng đối tượng của kinh nghiệm là do
ý chí sáng tạo ra, bản thân kinh nghiệm là cái ở vào trạng thái hỗn độn. Trong hoạt động
kinh nghiệm con người tập trung sự chú ý của mình vào những kinh nghiệm thích hợp
với mục đích, hứng thú, nguyện vọng của mình, hơn nữa làm cho những bộ phận kinh
nghiệm đó được cố định, gán cho nó cái địa vị độc lập của “khách thể”. Cho nên, khách
thể, đối tượng chỉ là một bộ phận mà ý chí tách ra từ trong kinh nghiệm, còn chủ thể
của kinh nghiệm chẳng qua chỉ là ý chí, mục đích, hứng thú, tâm tình, v.v.. chi phối
hoạt động kinh nghiệm trong kinh nghiệm mà thôi.
Như vậy, chủ nghĩa thực dụng đã tuyệt đối hoá tác dụng của ý chí con người nên
rơi vào chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy ý chí.
Quan niệm về chân lý của chủ nghĩa thực dụng: Lý luận về chân lý của chủ nghĩa
thực dụng có quan hệ mật thiết với kinh nghiệm luận của nó. Lý luận này cho rằng tư
duy của con người chỉ là một cách thức của kinh nghiệm, là hành vi thích ứng và chức
năng phản ứng của con người. Nó không đưa lại một hình ảnh chủ quan của thế giới
người.
22
Có thể khẳng định: Chủ nghĩa thực dụng đứng trên quan điểm duy tâm, đặt thế
giới phụ thuộc vào sự tồn tại của chủ thể, vào thực thể có ý thức. Chủ nghĩa thực dụng
đã làm hạn chế khoa học và nhận thức của con người. Nó là hệ tư tưởng của giai cấp
tư sản, là công cụ nhận thức và phương tiện xâm lăng của chủ nghĩa tư bản, chúng ta
cần phải đấu tranh, xóa bỏ ảnh hưởng của nó.
Đặc điểm triết học cơ bản của chủ nghĩa thực dụng:
Ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa thực dụng Mỹ coi nhiệm vụ của triết học là
định ra nhận thức luận và phương pháp luận khoa học không có liên quan tới thế giới
quan và lấy cớ là chống lại " siêu hình", " nhị nguyên luận" để né tránh các vấn đề cơ
bản của triết học, họ muốn đi theo đường lối trung lập trong triết học, điều này được
thể hiện cụ thể như sau:
Nguyên tắc căn bản trong phương pháp luận của chủ nghĩa thực dụng là lấy
hiệu quả công dụng làm tiêu chuẩn. So với các trường phái triết học phương tây khác,
chủ nghĩa thực dụng đã phản ánh trực tiếp hơn lợi ích và nhu cầu thực tế của giai cấp
tư sản, nên nó đã ảnh hưởng rộng lớn trong đời sống của xã hội phương tây. Nét nổi
bật của chủ nghĩa thực dụng là không đi sâu tìm hiểu về siêu hình học tức là bản
nguyên của thế giới mà chủ yếu bàn về phương pháp. Chính W. James đã có lúc cho
rằng chủ nghĩa thực dụng không phải là lý luận về triết học có hệ thống mà chỉ là lý
luận về phương pháp. Điều này được thể hiện ở chỗ chủ nghĩa thực dụng dựa trên ba
nguyên tắc căn bản:
Một là, ý tưởng của ta chỉ có giá trị khi được thử nghiệm thực sự trong hoạt
động của con người.
Hai là, kinh nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người với nhau và giữa
con người với thiên nhiên.
Ba là, trong đời sống, con người sẽ phải đối phó với nhiều vấn đề khác với
của ta phong phú hơn, hiểu biết về sự vật sâu sắc hơn và làm việc có hiệu quả hơn.
Trường hợp nếu cách giải quyết vấn đề của ta không có hiệu quả, ta phải xem lại toàn
bộ tiến trình, xem thử có chỗ nào bỏ sót hay không rồi lại tiếp tục. Cứ thế đến lúc nào
24
đạt hiệu quả thì thôi. Điều cần ghi nhớ là phương thức này chỉ được coi là toàn diện
khi bước thứ 5 được thực hiện.
Phương thức tư duy toàn diện nhấn mạnh đến việc thực hành. Thiếu giai đoạn
thực hành những kiến thức ta thu thập được từ trước trong các bước 2,3,4 chỉ là lý
thuyết suông.
Sơ bộ và vắn tắt có thể gọi chủ nghĩa thực dụng là triết lý chỉ chấp nhận những
giá trị thực tiễn làm tiêu chuẩn cho chân lý, chỉ có gì dẫn đến thành công của “tôi”
mới là chân lý đáng tin cậy.
Một số luận điểm cơ bản:
- Về siêu hình hoc:
+ Chủ nghĩa thực dụng quan tâm đến lý giải về siêu hình học tức trả lời câu hỏi
đằng sau thực tại là cái gì, điều gì hay cái gì thực sự có thật, thực sự hiện hữu, bản
chất của cái hiện hữu là gì. Chủ nghĩa thực dụng đã bác bỏ quan niệm của Platon cho
rằng tư tưởng của con người xuất phát từ một khái niệm bất biến thuộc về một cõi siêu
hình nào đó không lệ thuộc vào kinh nghiệm của con người. Những người theo chủ
nghĩa thực dụng cho rằng tư tưởng là công cụ của con người gồm có giả thuyết, ước
đoán và những kế hoạch nhằm giải quyết vấn nạn của con người. Mọi tư tưởng đều
xuất phát từ xã hội, liên quan tới các sinh hoạt của con người. Thay vì đi tìm câu trả
lời trong siêu hình học những người theo chủ nghĩa thực dụng chú trọng vào sự tương
tác giữa con người với nhau, giữa con người với môi trường để sinh sống và phát
triển. Chính sự tương tác này tạo ra các vấn nạn mà con người cần giải quyết để sinh
tồn. Quan tâm chủ yếu của người thực dụng là tìm ra một phương pháp giải quyết
trong đời sống thực.