GIÁO TRÌNH cơ sở tự NHIÊN xã hội 3 - Pdf 43

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
---------------------

GIÁO TRÌNH
CƠ SỞ TỰ NHIÊN & XÃ HỘI 3
(LƢU HÀNH NỘI BỘ)

Quảng Bình – 01/2016

1


GIÁO TRÌNH CƠ SỞ TỰ NHIÊN& XÃ HỘI 3
PHẦN: LỊCH SỬ ĐỊA PHƢƠNG 15 TIẾT
Chƣơng 1. Khái luận về lịch sử địa phƣơng

(3 tiết)

1.1. Khái niệm và đối tƣợng, nhiệm vụ nghiên cứu LSĐP
1.1.1. Khái niệm lịch sử địa phương và đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu
a)Một số khái niệm liên quan đến lịch sử địa phương
Để hiểu được lịch sử địa phương chúng ta cần nắm các khái niệm liên quan.
+ Khái niệm Lịch sử
Theo từ điển thuật ngữ khái niệm lịch sử phổ thông thì lịch sử có 2 nghĩa:
“1, Lịch sử là quá trình phát sinh phát triển khách quan của tự nhiên và xã hội theo
trình tự thời gian.
2, Lịch sử là Khoa học nghiên cứu quá khứ xã hội loài người trên tất cả các mặt
của đời sống con người”.
+ Khái niệm Lịch sử dân tộc: Là lịch sử của một quốc gia (một nước).
+ Khái niệm Địa phương: Chúng ta có thể hiểu đơn giản rằng: Địa phương là danh

1) Nghiên cứu các đơn vị hành chính, các đơn vị cư trú của con người, là một đơn
vị xã hội dưới quốc gia (thôn, làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố...). Với loại đối tượng
này lịch sử địa phương nghiên cứu toàn diện về tình hình các mặt hoạt động của con
người (kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội...) ở một địa phương cụ thể; có thể là toàn bộ
lịch sử quá tình hình thành và phát triển của địa phương đó từ khi ra đời đến thời điểm
nghiên cứu. Cũng có thể nghiên cứu trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Lịch sử địa
phương được nghiên cứu biên soạn trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc ở những giai
đoạn tương ứng. Trên cơ sở đó rút ra nét đặc thù của địa phương, những gía trị vật chất
và tinh thần, những thành tựu và đóng góp của địa phương đối với cả nước, để minh
hoạ, bổ sung cho lịch sử dân tộc.
Nghiên cứu về đối tượng này, có nhiều thể loại phong phú như:
 Lịch sử đảng bộ và các đàn thể cách mạng của địa phương.
 Lịch lử các phong trào cách mạng địa phương.
 Lịch sử phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục của địa phương.
 Những đóng góp và truyền thống của địa phương trong lịch sử.
 Lịch sử hình thành và phát triển của làng xã, thành phố ...
2) Nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng lịch sử ở một địa phương có liên quan tới
những sự kiện, hiện tượng lịch sử dân tộc.
3) Nghiên cứu các cơ quan, ngành, trường học, các tổ chức quần chúng...
Với các loại đối tượng nói trên lịch sử địa phương có nhiệm vụ nghiên cứu một
cách đầy đủ, có hệ thống, sâu sắc về lịch sử của nó (tuỳ theo phạm vi không gian và
thời gian mà yêu cầu của công việc nghiên cứu xác định).
Khi nghiên cứu một đối tượng cụ thể cần phải dặt nó và nghiên cứu nó trong mối
quan hệ với hoàn cảnh lịch sử chung, chỉ ra được sự tác động, ảnh hưởng của hoàn
cảnh chung đến đối tượng nghiên cứu, từ đó rút ra những đặc diểm của địa phương

1.2. Vị trí, Ý nghĩa của việc học tập lịch sử địa phƣơng ở trƣờng tiểu học.
- LSĐP là một bộ phận hợp thành lịch sử dân tộc do đó học tập LSĐP sẽ góp
phần tích cực bổ sung sử liệu cho kiến thức lịch sử dân tộc, làm cụ thể hoá, cá thể hoá
lịch sử dân tộc và làm phong phú thêm hiểu biết của các em về lịch sử dân tộc. Giúp

cũng vẫn cần ngắn gọn chỉ trình bày khoàng 10-15 phút với chuơng trình tiểu
học thì nên thiết kế bài giảng có cả kênh chữ và kênh hình, bên cành việc sử
dụng văn kể chuyện có thể sử dụng kết hợp tường thuật, miêu tả, nêu đặc điểm
để biên soạn bài học. Bài học cần lưu ý lựa chọn hình ảnh đẹp, rõ ràng có sức
hấp dẫn. trên lớp có các bài lịch sử địa phương như giới thiệu một sự kiện
LSĐP, giới thiệu một nhân vật LSĐP. Với từng loại bài học chúng ta chọn kết
cấu bài khác nhau.
* Với bài giới thiệu một sự kiện thì cần biên soạn theo bố cục:
- Hoàn cảnh lịch sử diễn ra sự kiện gồm những nét cơ bản điều kiện lịch sử
chi phối, về thời gian không gian diễn ra sự kiện, nguyên nhân dẫn đến sự kiện.
- Diễn biến của sự kiện
- Kết quả
- Ý nghĩa tác động và bài học lịch sử rút ra (hoặc qui luật lịch sử nếu có)
* Với bài giới thiệu nhân vật thì bố cục có thể là:
- Thời gian sinh sống (ngày tháng năm sinh năm mất)
- Hoàn cảnh lịch sử mà nhân vật đó sống và hoạt động
- Sự kiện lịch sử địa phương mà nhân vật đó tham gia
- Một vài nét về tính cách, đạo đức nổi bật của nhân vật
- Công lao của nhân vật đối với quê hương
- Hạn chế (nếu có)
- Bài học lịch sử rút ra với ý nghĩa giáo dục đạo đức cho học sinh. Chú ý kết
hợp hình ảnh, hiện vật lịch sử của nhân vật với nội dung bài học.
+ Loại bài giảng ngoài giờ lên lớp (sau này có thể áp dụng vào giảng dạy các
hoạt động trải nghiệm sáng tạo từ 2018 về sau) thì có một số hình thức như:
1) Tham quan một di tích lịch sử, một công trình văn hóa, một hiện tượng
văn hóa, một làng nghề thủ công truyền thống; hay tham quan nhà truyền thồng,
bảo tàng lịch sử địa phương…Bố cục của một bài tham quan có thể là:
Trước khi đưa học sinh đến tham quan các di tích, nhà truyền thống, bảo
tàng hay làng nghề thì giáo viên phải dành thời gian tham quan trước để thu
thập tại liệu thực địa và tìm kiếm các tài liệu thành văn liên quan, trên cơ sở đó

sinh quan sát, nhận xét, chú ý kết hợp phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan.
Câu hỏi ôn tập chương 1 và 2
1. Anh/ chị hãy làm rõ khái niệm “lịch sử địa phương”
2. Hãy giới thiệu các dối tượng nghiên cứu của lịch sử địa phương
3. Trình bày vị trí ý nghĩa của việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa
phương ở trường Tiểu học. Ở các trường Tiểu học lịch sử địa phương
thường được giảng dạy những nội dung cơ bản nào?
4. Hãy cho biết các hình thức tổ chức dạy học lịch sử địa phương ở trường
tiểu học.
5. Lịch sử địa phương ở chương trình tiểu hoc thường sử dụng những phương
pháp giảng dạy nào?
6


Chƣơng 3. Khái quát lịch sử Quảng Bình từ nguyên thủy đến nay
3.1 Quảng Bình từ thời nguyên thủy đến thế kỷ XI
a) Quảng Bình thời nguyên thủy
Ngay từ xa xưa Quảng Bình đã là một trong những địa bàn sinh sống của
người nguyên thủy. Các thành tựu Khảo cổ học của thế kỷ XX đã cho phép
chúng ta khẳng định là muộn nhất là ở Sơ kỳ thời đại đồ đá mới trên lãnh thổ
Quảng Bình đã có con người sinh sống. “Năm 1926, nhà khảo cổ học người
Pháp Madơlen Côlani đã phát hiện và khai quật nhiều di chỉ ở Quảng Bình. Tiêu
biểu là các di chỉ hang Hùm, hang Khái ở gần Qui Đạt huyện Minh Hóa, bà đã
phát hiện nhiều đống vỏ ốc, tra,i hến có cả xương người, xương thú và các mãnh
gốm có đặc điểm của gốm Mai Pha thuộc công cụ đá đẽo, hòn ghè, rìu thô, chày
nghiền. Bà cho rằng các hiện vật đó cùng chung kĩ thuật chế tác với văn hóa
Hòa Bình. Buổi đầu người nguyên thủy ở Quảng Bình đã sinh sống trong các
hang động, dưới các mái đá cao ráo hoặc ở các cửa hang gần nguồn nước; thức
ăn chủ yếu có được nhờ săn bắt và hái lượm.
Từ miền thượng nguồn sông Gianh dần dần người nguyên thủy đã men

Lang, Âu Lạc.
c) Quảng Bình từ 179 TCN – 111 TCN
Sau khi nước Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính, từ năm 179 Tr.CN đến năm
111 Tr. CN, vùng đất Quảng Bình có thể nằm trong quận Cửu Chân và bị đặt
dưới ách cai trị của chính quyền độ hộ họ Triệu (nước Nam Việt). Cũng có thể
là vùng đất Quảng Bình nằm ngoài sự cai trị của Nam Việt và thuộc lãnh thổ của
nước Việt Thường Thị (có lãnh thổ là khu vực Trung Bộ). Theo Tiến sỹ Nguyễn
Khắc Thái (2014), Lịch sử Quảng Bình, NXB Chính trị -Hành chính: “khi nhà
nước Văn Lang ra đời và sau đó là sự nối tiếp của nhà nước Âu Lạc thì vùng đất
Quảng Bình xưa có sự quản lý xen kẻ của các nhà nước tối cổ phía bắc, phía
nam đối với cộng đồng cư dân ở đồng bằng, ven biển và hạ lưu các con sông,
còn cư dân trong vùng núi và trước núi thì vẫn theo chế độ tự quản bộ lạc”. Tuy
nhiên nước Việt Thường thị trên thực tế cũng chưa có đủ cơ sở khoa học để
khẳng định là có sự tồn tại thật sự ở khu vực trung bộ Việt Nam hay không vì
phần lớn các cứ liệu đều dựa vào cổ sử Trung Quốc. Mà các tài liệu cổ sử đó
đều chỉ được viết sau sự kiện đã hàng nghìn năm trước và được viết để nhằm để
cao Hoàng đế Trung Hoa và muốn quảng bá ảnh hưởng của Trung Hoa ngay từ
thời nhà Chu đã vượt ra ngoài lãnh thổ của họ hàng vạn dặm, tuy nhiên các tài
liệu này đã ghi chép những thông tin thiếu thực tế rằng “Sứ giả Việt Thường thị
đến chầu Hoàng đề nhà Chu và tặng nhà Chu con rùa hơn 1000 năm tuổi trên
mình khắc chữ khoa đầu…”
d) Quảng Bình dưới cách thống trị của nhà Hán
Sau khi thôn tính nước Nam Việt (111 TCN), Nhà Hán đã sáp nhập Nam
Việt vào Trung Quốc, ngoài Giao chỉ và Cữu Chân, nhà Hán lập thêm quận Nhật
Nam từ Hoành Sơn (Đèo ngang) trở vào Bình Định (có 5 huyện: Tây Quyển, Tỷ
Ảnh,Chu Ngô, Lô Dung, Tượng Lâm vùng đất Quảng Bình nằm trong 2 huyện
Tây Quyển và Tỷ Ảnh. Như thế từ năm 111 TCN cho đến năm 193 Quảng Bình
nằm dưới ách thống trị của nhà Hán. Năm 40 - 42 nhân dân Quảng Bình đã đứng
dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai bà Trưng. Năm 100, nhân dân Nhật Nam
lại đứng lên khởi nghĩa chống bọn quan cai trị tàn bạo tham lam của nhà Hán.

tiêu diệt. Sau khi Lâm Ấp làm chủ vùng này họ đã xây dựng thành lũy, đồn trại
để trấn giữ và có thể cũng đưa người Chăm đến định cư ở nơi đây làm phên dậu.
Bằng chứng là khảo cổ học đã phát hiện nhiều di tích văn hóa Chăm có niên đại
từ thế kỷ III đến thế kỷ IX trên địa bàn Quảng Bình. Trong thời gian này bọn
quan lại của chính quyền phong kiến Trung Hoa trấn trị ở Cửu Đức, Cửu Chân
đã nhiều lần cho quân vượt Hoành Sơn (đèo Ngang) đánh chiếm một phần lãnh
thổ Lâm Ấp khôi phục lại quận Nhật Nam trong những khoảng thời gian ngắn.
Thời nhà Tùy, vào năm 605, Lưu Phương là một viên tướng giỏi cai trị ở Hoan
Châu (Nghệ An- Hà Tĩnh) đã thống suất quân binh vượt Đèo Ngang tiến sang
đánh bại quân Lâm Ấp; đặt lại ách đô hộ của nhà Tùy lên toàn bộ lãnh thổ Lâm
Ấp (có vùng đất Quảng Bình). Sau đó nhân lúc nhà Tùy suy yếu, vua Lâm Ấp là
Phạm Chí đưa quân trở lại đánh bật quan quân nhà Tùy trở về phía bắc Đèo
9


Ngang khôi phục lại nước Lâm Ấp. Từ đó Lâm Ấp tiếp tục củng cố lực lượng
chống trả các cuộc chinh phạt của tướng tá nhà Đường cai trị ở Châu Hoan. Đầu
đời Đường, Lâm Ấp lấy vùng đất gồm Quảng Bình và bắc Quảng Trị lập 3 châu:
Bố Chinh, Địa Lý và Ma Linh. Bố Chinh và Địa lý là vùng đất Quảng Bình còn
Ma Linh là hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh của tỉnh Quảng Trị ngày nay. Vào
thế kỷ IX Lâm Ấp đổi tên nước là Hoàn Vương rồi Chiêm Thành (còn gọi là
Chăm Pa). Năm 905, nhân cơ hội nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ vốn là
một hào trưởng người Việt đã lãnh đạo nhân dân Giao Chỉ, Cửu Chân đứng lên
xóa bỏ chính quyền đô hộ của nhà Đường. Đầu thế kỷ X, chính quyền họ Khúc
và họ Dương bắt tay vào giải quyết những tồn đọng về chính trị, kinh tế và xã
hội của thời Bắc thuộc, củng cố nền độc lập tự chủ ở vùng đất phía bắc dãy
Hoành Sơn tới biên giới Việt - Trung. Các vương triều Ngô, Đinh, Tiền Lê tiếp
tục củng cố nền độc lập, giải quyết nạn cát cứ và từng bước xây dựng nhà nước
phong kiến trung ương tập quyền Đại Cồ Việt. Trong thời gian này, nhờ giành
được độc lập đã khá lâu nên Chiêm Thành đã có sự phát triển mạnh mẽ nhiều

cướp phá Đại Cồ Việt tại khu vực Nghệ An - Hà Tĩnh. Năm 1044, Chiêm Thành
tiếp tục cho quân ra cướp phá Nghệ An, vua Lý Thái Tông phải ngự giá thân
chinh tiến đánh Chiêm Thành. Quân Chiêm thua trận, Lý Thái Tông bắt được
trên 5 nghìn tù binh và 30 voi chiến. Tướng Chiêm là Quách Gia Bi chém Quốc
vương Xạ Đẩu mang đầu qua hàng. Quân Lý chiếm kinh thành Phật Thệ bắt
thêm nhiều tù binh trong đó có Vương phi Mỵ Ê của Xạ Đẩu.
Năm 1054, Nhà Lý đổi tên nước từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt, từng bước
củng cố và phát triển nhà nước quân chủ phong kiến trung ương tập quyền.
Nhìn chung trong thời gian từ đầu thế kỷ V cho đến năm 1069 vùng đất
Quảng Bình về cơ bản nằm dưới sự quản lý của Lâm Ấp (Chiêm Thành). Tuy
nhiên vùng đất Bố Chinh và Địa Lý là nơi thường xuyên diễn ra các cuộc chiến
tranh tàn khốc giành giật giữa Lâm Ấp với quan quân đô hộ của phong kiến
Trung Hoa rồi sau là với quân đội nhà Tiền Lê và Nhà Lý. Do chiến tranh khối
liệt diễn ra thường xuyên lại bị bọn quan lại phong kiến Trung Hoa và Lâm Ấp
(Chăm pa) cướp bóc, tàn sát nên các làng xóm của người Việt và công xã nông
thôn của người Chăm ở đây đều phải dời đổi. Một số làng xã, thôn xóm bị cướp
bóc tàn hại; số còn lại phải di chuyển sâu về hai phía nam và bắc Đèo Ngang.
Năm 1069, được sự cấu kết và xúi giục của nhà Tống, Chiêm Thành lại
cho quân sang cướp phá Đại Việt ở vùng biên giới phía Nam. Để loại trừ mối
hiểm họa từ Chiêm Thành, vua Lý Thánh Tông đã cùng Lý Thường Kiệt đưa
quân tấn công sang tận kinh đô Phật Thệ của Chiêm Thành. Quân Chiêm đại
bại, vua Chiêm là Chế Củ bị quân nhà Lý bắt sống. Để chuộc mạng Chế Củ phải
cắt đất 3 châu gồm Bố Chinh, Địa Lý và Ma Linh cho Đại Việt.
3.2 Quảng Bình từ 1069 đến 1858
Năm 1069, vùng đất 3 châu: Bố Chinh, Địa lý và Ma Linh được sáp nhập
trở vào Lãnh thổ của nước Đại Việt (Bố Chinh và Địa Lý là đất Quảng Bình;
còn châu Ma Linh là Vĩnh Linh và Gio Linh của tỉnh Quảng Trị ngày nay).
Năm 1074, Chiêm Thành cho quân tiến sang chiếm lại 3 châu. Tháng 8
năm 1075, vua Lý lại sai Lý Thường Kiệt đưa quân vào đánh chiếm lại 3 châu.
Sau khi đẩy lùi quân Chiêm, Lý Thường Kiệt cho vẽ địa đồ hình sông thế núi rồi

huyện Nha Nghi (Lệ Thủy), sau khi ổn định công việc ở lỵ sở, Hoàng Hối
Khanh trở ra Thanh Hóa, Nghệ An đưa 12 dòng họ định cư lập làng. Ngoài ra
Hoàng Hối Khanh còn mộ dân phiêu tán làm nô tỳ vào khai khẩn lập điền trang
Tiểu Phúc Lộc (Ngày nay là khu vực rộng lớn gồm các xã Lộc Thủy, Phong
Thủy, Liên Thủy, Thị trấn Kiến Giang và Trường Thủy)
Nhờ có sự phát triển nhất định về cư dân và xã hội mà trong thế kỷ XIV,
nhà Trần đã nâng Lâm Bình từ cấp châu lên cấp phủ. Năm 1366, Phạm A Song
được phong làm Đại tri phủ Lâm Bình. Năm 1375, nhà Trần đổi phủ Lâm Bình
thành phủ Tân Bình. Năm 1397, nhà Trần đổi phủ Tân Bình làm trấn Tây Bình.
Nhà Hồ lên cầm quyền trong những năm 1400-1407, tiếp tục chủ trương
vận động các quan lại mộ dân nghèo ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ vào khai khẩn
đất hoang lập làng xã ở hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam. Do đó có đợt di dân
thứ ba đến Quảng Bình và một số làng Việt ở khu vực Quảng Ninh, Lệ Thủy
.tiếp tục được thành lập.

12


Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nhà Hồ thất bại, nên từ
1407-1427, nhà Minh đặt cách cai trị lên đất nước ta. Chính quyền đô hộ nhà
Minh đổi Trấn Tây Bình làm phủ Tân Bình.
1

Ngô Sỹ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, NXB Khoa học xã hội, HN, 1998, tr 36

Sau mười năm khởi nghĩa rất kiên cường, anh dũng nghĩa quân Lam Sơn đã
giải phóng được đất nước khỏi ách thống trị của nhà Minh, Lê Lợi lên ngôi vua
(1428) lập ra nhà Hậu Lê (Lê Sơ). Nhà Hậu Lê chia cả nước thành 12 Thừa
tuyên, Quảng Bình nằm trong phủ Tân Bình thuộc Thừa tuyên Thuận Hóa. Đến
giữa thế kỷ XV, về cơ bản khu vực phía nam Quảng Bình gồm Lệ Thủy, Quảng

Trang



Thôn

Trang

64

24

20

69

0

0

Huyện Lệ Thủy

28

0

2

32


tăng lên 1 nhưng số trang lại giảm đến mức triệt tiêu. Huyện Khang Lộc số làng
giảm 5 mà số thôn tăng lên 7. Sự thay đổi nhỏ này chỉ có thể là một số làng đã
tụt xuống cấp thôn mà gần như không có sự thành lập thêm các làng mới. Nhìn
lại lịch sử quá trình di dân khai canh lập làng thì năm 1558, khi Nguyễn Hoàng
vào trấn thủ xứ Thuận Hóa đã có đợt di dân thứ năm của cư dân từ Thanh Hóa,
Nghệ Tĩnh vào phía nam dãy Hoành Sơn để khai canh lập làng mới. Tuy nhiên
qua số liệu trong bảng nói trên chứng tỏ vùng Quảng Bình hầu như số làng xã
mới thành lập là không đáng kể. Như vậy chúng ta có cơ sở để kết luận rằng:
đến đầu thế kỷ XVI, về cơ bản hầu hết những nơi đất đai thuận tiện cho con
người sinh cơ lập nghiệp ở Quảng Bình đều đã được khai khẩn; hệ thống làng xã
ở đây đã được thành lập đi vào ổn định và phát triển.
Như vậy, tính từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX, phần lớn các làng xã ở
Quảng Bình đã có quá trình hình thành và phát triển liên tục trên 300 năm. Độ
dài thời gian đó là đủ để các làng xã ở Quảng Bình phát triển trên tất cả các lĩnh
vực về xã hội, kinh tế, văn hóa và giáo dục. Với bề dày thời gian ra đời và phát
triển đó đủ cho cộng đồng cư dân nơi đây hình thành nên những sắc thái đặc
trưng, những truyền thống văn hóa của con người và từng làng xã ở Quảng
Bình. Những truyền thống văn hóa đó tính đến thế kỷ XIX thì đã định hình và
trở thành nền tảng vững chắc cho làng xã ở Quảng Bình thời hiện nay kế thừa và
phát triển.
Năm 1604, Nguyễn Hoàng đổi phủ Tiên Bình thành phủ Quảng Bình, tên
gọi Quảng Bình chính thức xuất hiện từ đó.
Sau một thời gian xây dựng lực lượng về mọi mặt, từ Nguyễn Hoàng đến
khi Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp cha, họ Nguyễn đã xây dựng vùng đất
Thuận Hóa và Quảng Nam thành giang sơn riêng. Nguyễn Phúc Nguyên lại may
mắn gặp và chọn được danh sỹ Đào Duy Từ làm tham mưu nên đã trả lại sắc
phong cho vua Lê - Chúa Trịnh từ chối việc nộp thuế cho triều đình. Mâu thuẫn
Trịnh - Nguyễn trở nên hết sức gay gắt đã dẫn đến cuộc nội chiến giữa 2 thế lực
phong kiến này kéo dài 47 năm (1627 - 1672) với 7 trận lớn thì có 6 trận diễn ra
trên đất Quảng Bình.

Có thể nói cuộc chiến tranh tàn khốc đó đã gây nên những hậu quả nặng nề
kéo dài nhiều thế kỷ; ngay đến tận đầu thế kỷ XIX, khi đến làm quan ở Quảng
Bình mà Nguyễn Du vẫn cảm nhận rất rõ về sự khốc liệt của chiến tranh từ thế
kỷ XVII, điều này được ông mô tả qua bài thơ “Độ Linh Giang”
Cuối bãi bình sa nước lẫn trời
Mênh mông bến cũ bóng thu rơi
Bến liền mặt biển xa tầm mắt
Cõi vạch lòng sông đã mấy đời
Lũy cổ ba quân tầng lá rụng
Bãi hoang trăm trận đống xương vùi.
Nhà thơ Tùng Thiện vương Miên Thẫm khi qua vùng này cũng phải thốt lên:
“Lũy nát sau chiến chinh
Xuân tàn kèn thêm buồn
Xương khô tàn cỏ biếc
Rêu xanh lấp giáo thương
Núi Ngưu cây che lối
15


Đảo Yến sóng dữ vờn…
Từ nửa sau thế kỷ XVIII, chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong lâm vào
khủng hoảng; năm 1771, cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn bùng phát đã từng
bước đẩy chính quyền chúa Nguyễn vào con đường suy vong. Năm 1773, nghĩa
quân Tây Sơn đánh chiếm được Quy Nhơn rồi lần lượt chiếm Bình Định, Quảng
Nam. Nhân cơ hội đó, chúa Trịnh đã cử tướng Hoàng Ngũ Phúc thống lĩnh 3
vạn quân tiến công Thuận Hóa. Quân Trịnh đánh chiếm Bố Chính, Động Hải
(Quảng Bình), Dinh Cát (Quảng Trị), rồi tiến vào hạ thành Phú Xuân. Chính
quyền họ Nguyễn ở đây sụp đổ. Nhân dân Tân Bình - Thuận Hóa vốn đã chịu
ách áp bức nặng nề của họ Nguyễn giờ lại bị quàng lên ách áp bức của họ Trịnh
còn nặng nề hơn. Do đó trong những năm họ Trịnh cai trị khu vực này nhân dân

nền thống nhất đất nước.
Cuối năm 1788, nhân có sự cầu cứu của tên vua Lê Chiêu Thống hèn mạt,
nhà Thanh đã điều động 30 vạn quân do Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sỹ Nghị
chỉ huy tiến sang xâm lược nước ta. Trước thế giặc mạnh, các tướng của Tây
Sơn ở Thăng Long đã lui quân về phòng giữ ở Tam Điệp - Biện Sơn rồi cho
người cấp báo với Nguyễn Huệ ở Phú Xuân. Nhận được tin cấp báo, Nguyễn
Huệ lập tức làm lễ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung rồi đưa quân
ra bắc đánh duổi quân xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
Mãn Thanh nhân dân Quảng Bình đã tham gia, đóng góp tích cực. Trên đường
hành quân từ Phú Xuân ra Quang Trung vừa tuyển thêm quân, thanh niên trai
tráng Quảng Bình từ 16 tuổi trở lên đã hăng hái hưởng ứng cuộc tuyển binh của
vua Quang Trung. Các cứ điểm phòng thủ như Lũy Thầy, Lưu Đồn, Động Hải,
Dinh Ngói,... được củng cố. Nhân dân Quảng Bình đã đưa các loại thuyền mảng
giúp quân Tây Sơn hành quân thần tốc vượt sông ở nơi đây. Nhân dân Cảnh
Dương mang thuyền bè vận chuyển vũ khí và binh sỹ cho Quang Trung tiến ra
Bắc đánh giặc. Nhiều tướng sỹ người Quảng Bình đã chiến đấu dũng cảm lập
được công to trong cuộc kháng chiến này nên sau đó được vua Quang Trung
phong thưởng như Thượng thư Nguyễn Thế Trực ở Lộc An (An Thủy, Lệ
Thủy), Nguyễn Viết Tuấn ở Cổ Hiền (Hiền Ninh Quảng Ninh)…
Câu hỏi: Anh/ Chị hãy giới thiệu khái quát quá trình hình thành làng Việt trên đất Quảng
Bìh từ thế kỷ X- XVI.

17


3.3 Quảng Bình thời Pháp thuộc và chống Pháp thuộc (1858 - 1945)
3.3.1 Quảng Bình những năm 1858 -1884
Năm 1858, Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, nhân dân
Quảng Bình đã hăng hái cùng với nhân dân cả nước hướng về mặt trận Đà nẵng,
nhân dân Quảng Bình đã thành lập một số đội dân dũng, nghĩa dũng xung phong


thành Huế ra Tân Sở (Quảng Trị). Tại Tân Sở, Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa
vua Hàm Nghi ban Dụ Cần vương kêu gọi văn thân, sỹ phu, binh lính và nhân
dân đứng lên phò vua cứu nước. Vì đường Thiên Lý đã bị quân Pháp chặn, thấy
căn cứ Tân Sở tuy ở vùng rừng núi nhưng dân cư thưa thớt khó lòng giữ được
trước thế lực của Pháp nên Tôn Thất Thuyết phải đưa vua Hàm Nghi qua Lào để
ra Hà Tĩnh. Sau nhiều lần thay đổi, đến tháng 10 năm 1885, Tôn Thất Thuyết đã
quyết định chọn miền thượng du Tuyên Hóa (Quảng Bình) làm đại bản doanh để
lãnh đạo phong trào Cần vương cả nước. Lúc bấy giời khắp nơi trong tỉnh
Quảng Bình các văn than, sỹ phu có lòng yêu nước đã đứng ra chiêu mộ nhân
dân tập hợp trai tráng hưởng ứng dụ Cần vương.
Lúc bấygiờ, khắp nơi trong tỉnh từ miền xuôi đến miền núi, từ trung du
đến đồng bằng ven biển, lực lượng Cần vương chống Pháp của nhân dân Quảng
Bình ra đời. Tiêu biểu cho các văn thân sỹ phu như: Đề đốc Lê Trực và Cao
Thượng Chí tập hợp lực lượng ở Thanh Thủy, Xuân Mai; Lãnh binh Mai Lượng
mộ trai tráng ở vùng Nam Quảng Trạch; Đoàn Chí Tuân tuyển mộ trai tráng ở
Hòa Ninh. Ông tú Di Luân Trần Văn Định mộ binh ở khu vực lưu vực sông
Roòn lập căn cứ ở khu vực Hoành Sơn. Lê Mô Khởi mộ binh lập căn cứ ở Trại
Nái (Bố Trạch). Nguyễn Phạm Tuân tập hợp trai tráng ở khu vực Động Hải kéo
ra Tuyên Hóa; các vị Đề Én, Đề Chít, Lê Hy, Hoàng Phúc mộ trai tráng ở các
làng Võ Xá, Cổ Hiền… Bằng nhiều hình thức như riêng lẻ hoặc kết thành những
đội quân, họ đã trực tiếp tìm đến chỗ vua Hàm Nghi chiến đấu, có làng tổ chức
đội quân hưởng ứng tại chỗ như Hòa Ninh, Lệ Sơn,… Sau một thời gian nhiều
căn cứ chống Pháp ra đời có căn cứ nghĩa quân lên tới hàng trăm người như căn
cứ Vạn Xuân, căn cứ Thanh Thủy, Cao Mại…Đặc biệt ở Quảng Bình đã hình
thành 2 hệ thống căn cứ liên hoàn đó là hệ thống căn cứ phía bắc gồm địa bàn
các huyện Quảng Trạch - Tuyên Hóa (gồm cà Minh Hóa ngày nay) vừa có đại
bản doanh của vua Hàm Nghi cùng với lực lượng Nguyễn Phạm Tuân, Lê Trực,
Mai Lượng. Hệ thống căn cứ phía Nam gồm địa bàn miền tây nam 2 huyện
Quảng Ninh và Lệ Thủy với các căn cứ Kim Sen, Lèn Bạc - Vạn Xuân, do

bắt sống tên Án sát và nhiều binh lính. Tháng 4 năm 1886, tại đuồi Mỹ Lộc (Lệ
Thủy), nghĩa quân Cần Vương do Hoàng Phúc chỉ huy đã đánh bại cuộc tấn
công của 500 lính ngụy và lính Pháp…Bước sang năm 1887, địch tăng cường
thêm lực lượng đẩy mạnh hoạt động càn quét vừa kết hợp với mua chuộc, dụ dỗ
ở Quảng Bình đã gây cho nghĩa quân nhiều tổn thất. Một số tướng lĩnh, quan lại,
binh lính bắt đầu có sự dao động. Một số nghĩa quân bị mua chuộc đã dẫn đường
cho quân Pháp tấn công san phẳng một số căn cứ của nghĩa quân: tháng 4 năm
1887, địch tấn công vào Cổ Liêm phá hủy căn cứ và lực lượng của Thượng
tướng Nguyễn Phạm Tuân. Tháng 12 năm 1887, địch tiến đánh căn cứ Trại Nái
(Bố Trạch) của Lê Mô Khởi, càn quyét căn cứ của Lê Trực ở Thanh Thủy, …
Đến những tháng cuối năm 1888, tuy địch chưa bắt được vua Hàm Nghi
song lực lượng nghĩa quân cũng đã bị tổn thất khá lớn. Trong hoàn cảnh khó
khăn đó đã có một số quan lại cận thần của vua dao động ra đầu thú giặc. Đặc
biệt là Nguyễn Văn Mỹ. Để bảo toàn mạng sống tên Mỹ đã hiến kế cho Pháp bắt
vua Hàm Nghi. Y cho biết vua Hàm Nghi được đội quân của Trương Quang
Ngọc bảo vệ và chỉ cách mua chuộc Trương Quang Ngọc để Y bắt vua nộp cho
chúng. Ngày 01 tháng 11 năm 1888, vua Hàm Nghi bị Trương Quang Ngọc bắt
nộp cho Pháp, nhiều lãnh tụ phong trào Cần vương ở Quảng Bình thoái chí: Tôn
Thất Đạm tự tử, số khác giải tán lực lượng ra đầu thú rồi lui về quê ẩn dật như
Lê Trực, Cao Thượng Chí, …Về cơ bản sau khi vua Hàm Nghi bị Pháp bắt
20


phong trào Cần vương ở Quảng Bình tạm lắng xuống. Tuy nhiên một bộ phận
tướng lĩnh và nghĩa quân đã đưa lực lượng ra Nghệ Tĩnh để tiếp tục kháng chiến
hay ở lại núi rừng chờ thời cơ để tiếp tục khởi nghĩa như Đoàn Chí Tuân, Lê Mô
Khởi. Tuy nghĩa quân chiến đấu vô cùng anh dũng song tính đến cuối năm 1896
về cơ bản phong trào Cần vương đã bị thực dân Pháp dập tắt. Năm 1896, với
việc dập tắt phong trào Cần vương, thực dân Pháp về cơ bản đã hoàn thành việc
bình định nước ta. Năm 1897, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương gồm 4 xứ

việc truyền bá tư tưởng tiến bộ thông qua thơ văn Phan Bội Châu, hay sách báo
của Đông kinh nghĩa thục, phổ biến chữ Quốc ngữ. Năm 1925, trí thức học sinh
đã tham gia đấu tranh đòi thực dân Pháp phải thả chí sỹ yêu nước Phan Bội
Châu. Năm 1926, nhân sỹ, học sinh và một số công chức làm lễ truy điệu nhà
chí sỹ Phan Chu Trinh. Một số học sinh Quảng Bình vào học trường Quốc học ở
Huế đã tiếp xúc với cụ Phan Bội Châu và được cụ bồi dưỡng tinh thần yêu nước
tiêu biểu là Võ Nguyên Giáp.
Trong thời gian này Pháp mở thêm nhiều đường giao thông quan trọng qua
Quảng Bình như đường quốc lộ 12 qua Lào, đường sắt Bắc Nam do đó đội ngũ
công nhân ở Quảng Bình có sự gia tăng làm xuất hiện công nhân đường sắt, tập
trung ở các ga Đồng Hới, Tân Ấp, Kẻ Rẫy, Mỹ Đức…Ngoài ra một số thanh
niên không có ruộng đất đi làm phu đồn điền ở các nơi một thời gian khi trở về
quê cũng mang theo những tin tức về phong trào đấu tranh. Phong trào đấu tranh
22


của công nhân tiêu biểu là các cuộc đấu tranh của công nhân đường sắt ở ga
Thuận Lý đòi Trưởng ga phải phát lương đúng ngày.
Từ các phong trào đấu tranh đó quần chúng ở Quảng bình được các tổ
chức yếu nước chú ý giác ngộ Trong thời gian này có Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên và Tân Việt cách mạng đảng hoạt động đã phát triển cơ sở tại Quảng
Bình. Năm 1928, cơ sở của hội Việt Nam thanh niên cách mạng được thành lập
ở ga Thuận Lý do Đồng chí Đô phụ rách với 21 hội viên. Tại Lệ Thủy có một số
thanh niên vào học tập ở Huế tham gia Tân Việt, cơ sở của Tân Việt cũng được
xây dựng ở Đồng Hới, Mỹ Đức. Thông qua hoạt động của các tổ chức này sách
báo tiến bộ được phổ biến trong tầng lớp trí thức, học sinh, viên chức và công
nhân ở Quảng Bình
Câu hỏi ôn tập: Đầu thế kỷ XX, nhân dân Quảng Bình đã tham gia những phong trào yêu
nước nào?


công. Ở các thị xã, thị trấn, phong trào của học sinh, trí thức, dân nghèo thành
thị, công nhân viên chức những người buôn bán nhỏ phát triển rầm rộ. Các tổ
chức như Hội Ái hữu, hội truyền bá chữ Quốc ngữ ở Đồng Hới, Ba Đồn lần lượt
xuất hiện. Sách báo cách mạng được truyền bá rộng rãi
Trong thời gian này các hình thức đấu tranh hợp pháp, công khai cũng
được tổ chức như phong trào Đông Dương đại hội hay phong trào đón tiếp toàn
quyền Gôđa để đưa yêu sách đòi tự do dân chủ, phong trào đấu tranh nghị
trường (vận động để đưa các đại biểu của đảng giới thiệu tham gia vào các cơ
quan như Viện Dân biểu Trung Kỳ) cũng dấy lên sôi nổi. Qua các phong trào,
cán bộ Đảng trưởng thành, Đảng tập hợp, giác ngộ được đông đảo quần chúng
và tập dượt cho họ đấu tranh. Đây là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng để tăng
cường sự gắn bó giữa đảng với quần chúng, tạo cơ sở, tiền đề cho cuộc vận động
giải phóng dân tộc ở giai đoạn sau.
Câu hỏi: Anh / Chị hãy cho trình bày quá trình ra đời và hoạt động của các tổ chức Đảng
Cộng sản ở Quảng Bình từ 1930 - 1939

3.3.5 Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh và khởi nghĩa giành chính quyền ở
Quảng Bình từ 1939-1945
a) Phong trào CM ở Quảng Bình từ 1939 đến trước Tổng khởi nghĩa
Năm 1938, Chính phủ Mặt trận Bình dân ở Pháp đổ; Bọn phản động
thực dân ở đông Dương nhân cơ hội đó đã ra sức khủng bố phong trào cách
mạng; nhiều đảng viên hoạt động tích cực ở Quảng Bình đã bị địch bắt giam mà
không cần xét xử. Lúc này mối liện hệ giữa các tổ chức Đảng ở Quảng Bình với
Xứ ủy Trung kỳ bị gián đoạn, phong trào cách mạng trong tỉnh gặp nhiều khó
khăn. Năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, trước tình hình đó bọn
thực dân phản động càng tăng cường đàn áp khủng bố, nhiều cán bộ đảng viên
và một số tổ chức Đảng ở Lệ Thủy, Quảng Trạch bị lộ. Phủ ủy Quảng Trạch đã
quyết định cho những đảng viên bị lộ tạm lánh sang Thái Lan hoạt động. Nhũng
Đảng viên chưa bị phát hiện phải tạm thời nằm yên hoặc hạn chế bớt hoạt động.
Tháng 3 năm 1942, Tỉnh ủy Quảng Trị phái đồng chí Bùi Trung Lập ra

thị của Trung ương Đảng soi sáng phong trào kháng Nhật cứu nước ở Quảng
Bình hình thành và phát triển nhanh chóng. Sự phát triển của phong trào đòi hỏi
Quảng Bình phải nhanh chóng có cơ quan chỉ đạo thống nhất nên ngày
27/7/1945, Hội nghị cán bộ Đảng toàn tỉnh được triệu tập tại chùa làng An Xá
(Lệ Thủy). Tham gia Hội nghị có 13 đại biểu đại diện các tổ chức cơ sở Đảng
các huyện lỵ toàn tỉnh về dự họp. Hội nghị đã thảo luận Nghị quyết, chỉ thị của
Trung ương và Xứ ủy Trung Kỳ; đồng thời bầu Ban Vận động Thống nhất Đảng
gồm 3 đồng chí do đồng chí Đoàn Khuê làm Trưởng ban. Ngày 28/7/1945, Hội
nghị thành lập Mặt trận Việt Minh tỉnh được triệu tập tại Trại sản xuất An Sinh
(Trường Thủy - Lệ Thủy). Hội nghị đã đề ra chương trình hành động 8 điểm,
bầu Ban Chấp hành Việt Minh tỉnh gồm 7 đồng chí1 và ra tờ báo Vì nước.
“Sau những hội nghị lịch sử trên, phong trào cách mạng của Quảng Bình
có bước phát triển nhảy vọt và trưởng thành nhanh chóng. Các cơ quan Việt
Minh phủ, huyện, thị củng được thành lập và củng cố, bên cạnh sự ra đời của
25


Trích đoạn Nhân vật lịch sử, văn hóa ở Quảng Bình
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status