Đánh giá kết quả khảo nghiệm vô tính các dòng keo lá tràm (acacia auriculiformis a ) tại trạm bầu bàng (bình dương) và trạm cẩm quỳ (hà nội) - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN KIÊN CƯỜNG

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM VÔ TÍ NH CÁC
DÒNG KEO LÁ TRÀ M ( Acacia auriculiformis A.)
TẠI TRẠM BẦU BÀ NG (BÌNH DƯƠNG)
VÀ TRẠM CẨM QUỲ (HÀ NỘI)

CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. BÙ I VIỆT HẢI

Hà Nô ̣i, 2011


1

MỞ ĐẦU
Hơn nửa thế kỷ qua, diện tích rừng trên toàn thế giới đã suy giảm nhanh
chóng, đặc biệt tốc độ mất rừng ở các nước đang phát triển là đáng báo động. Đối
với Việt Nam, diện tích rừng từ 14 triệu ha năm 1943 xuống còn 10,9 triệu ha năm
2001 [23]. Trữ lượng gỗ giảm sút, tính đa dạng sinh học trong rừng không còn

biệt, với trồng rừng kinh doanh gỗ lớn thì việc đòi hỏi sử dụng nguồn giống có chất
lượng di truyền cao ngày một lớn. Bởi vậy, rất cần các hoạt động nghiên cứu cải
thiện giống cây trồng rừng, từ khảo nghiệm loài, xuất xứ cho đến khảo nghiệm
dòng vô tính để chọn ra được các loài, xuất xứ, các dòng phù hợp với từng vùng
sinh thái và phù hợp với mục tiêu đã đặt ra.
Keo lá tràm (Acacia auriculiformis A.Cunn. ex Benth) là loài cây nhập nội
được các nhà lâm nghiệp tập trung nghiên cứu từ những năm 1980. Kết quả nghiên
cứu đã tìm được một số xuất xứ có triển vọng trên các vùng sinh thái của Việt
Nam. Đồng thời, xác định được đây là loài cây đa mục đích (cây cải tạo đất nhờ
khả năng cố định đạm; cung cấp gỗ mộc, gỗ nguyên liệu giấy, gỗ củi, tanin,...), sinh
trưởng nhanh và cho tỉ lệ sống cao ngay cả trên các môi trường sống có điều kiện
khắc nghiệt.
Từ tất cả các vấn đề nêu trên, đề tài nghiên cứu: “Đánh giá kết quả khảo
nghiệm vô tính các dòng Keo lá tràm (Acacia auriculiformis A.Cunn. ex Benth)
tại trạm Bầu Bàng, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương và trạm Cẩm Quỳ, huyện
Ba Vì, Thành phố Hà Nội” được thực hiện nhằm chọn ra một số dòng Keo lá tràm
có năng suất cao, chất lượng tố t để phục vụ công tác trồng rừng và bổ sung vào bộ
giống cây trồng lâm nghiệp được phép sản xuất kinh doanh của Việt Nam.


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tầm quan trọng của giống cây rừng
Giống cây trồng là một quần thể cây đồng nhất về hình thái và có giá trị kinh
tế nhất định, nhận biết được bằng sự biểu hiện của các đặc tính do kiểu gen qui
định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác thông qua sự biểu
hiện của ít nhất một đặc tính và di truyền được cho đời sau (Pháp lệnh giống cây
trồng lâm nghiê ̣p, 2004). Chọn giống là một trong những khâu quan trọng nhất của

nghiệm xuất xứ nhằm chọn ra được những xuất xứ tốt nhất, đáp ứng được các yêu
cầu của nhà chọn giống. Khảo nghiệm là cơ sở cho chọn lọc cây trội, gây tạo giống
mới. Theo Willan (1988) thì việc chọn xuất xứ trong các loài có biến dị lớn có thể
cho tăng thu 15 – 30%. Từ các xuất xứ tốt nhất, tiến hành chọn lọc cây trội, thu
quả, hạt và các vật liệu sinh dưỡng tiến hành khảo nghiệm giống, dòng vô tính
nhằm chọn ra các giống,dòng sinh trưởng phát triển tốt, có khả năng chống chịu tốt
với điều kiện ngoại cảnh và khả năng nhân giống cao, thích ứng tốt với các vùng
sinh thái khác nhau, sau đó xây dựng vườn giống tạo vật liệu giống bằng hạt, bằng
hom hoặc nuôi cấy mô nhằm cung cấp giống tốt phục vụ cho công tác trồng rừng
[15].
Nói tóm lại, khảo nghiệm loài và xuất xứ có ý nghĩa quyết định đến sự thành
bại trong sản xuất lâm nghiệp. Thông qua khảo nghiệm loài và xuất xứ, chúng ta
mới chọn được một cách chắc chắn xuất xứ thích hợp nhất để sử dụng cho một
chương trình trồng rừng trên một số vùng sinh thái khác nhau, đặc biệt là đối với
loài cây nhập nội như Keo lá tràm. Khảo nghiệm loài và xuất xứ chính là sự lợi
dụng các biến dị di truyền sẵn có trong tự nhiên một cách có cơ sở khoa học, thông
qua việc thực nghiệm gây trồng trên những lập địa mới. Đây là phương pháp chọn
giống nhanh nhất và hiệu quả nhất [9]; [12].


5

Khảo nghiệm loài
(chọn loài)

Khảo nghiệm xuất
xứ (chọn xuất xứ)

Chọn lọc
cây trội

trong giai đoạn vườn ươm và sau 1 năm trồng thì cải thiện giống chỉ chiếm 15%
năng suất, đến năm thứ 3 cải thiện giống làm tăng 50% và đến năm thứ 6 cải thiện
giống quyết định đến 60% năng suất. Với loài cây mọc nhanh, các phương thức
làm đất có tác dụng tích cực trong năm thứ nhất, tỷ lệ ảnh hưởng tới năng suất là
20%, các năm tiếp theo yếu tố làm đất không còn ý nghĩa. Đối với bón phân cho
cây thì mức độ tác dụng cũng giảm dần theo sự tăng của tuổi cây, giai đoạn vườn
ươm phân bón chiếm 60% năng suất, sau một năm trồng thì trị số này giảm còn
35% và tiếp tục giảm dần còn 25% ở năm thứ 3 (dẫn từ Lê Đình Khả, 1998) [11].
1.2. Giới thiệu chung về cây Keo lá tràm
Keo lá tràm hay còn gọi là Tràm bông vàng có tên khoa học là Acacia
auriculiformis A. Cunn. ex. Benth, thuộc họ phụ Trinh nữ (Mimosoideae), họ Đậu
(Leguminosae), bộ Leguminosales. Đây là loài cây có phân bố tự nhiên ở Australia,
và nhiều vùng của Papua New Guinea, kéo dài tới Irian Yaya và quần đảo Kali của
Indonesia. Phạm vi phân bố nằm giữa vĩ độ 5 và 170 Nam, nhưng chủ yếu ở các vĩ
độ 8 – 160 Nam, độ cao tyệt đối từ 0 đến 500 m nhưng chủ yếu phân bố từ 5 đến
100 m, đặc biệt cũng thấy Keo lá tràm xuất hiện ở những vùng núi cao tới 1100 m
như ở Zimbabue, tuy nhiên sinh trưởng kém và hình thân rất xấu, chủ yếu ở dạng
cây bụi [35]. Keo lá tràm có khả năng thích nghi cao và sinh trưởng nhanh nên đã
được trồng rộng rãi ở nhiều nước như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Srilanka, Thái
Lan, Philipine, Trung Quốc và Việt Nam.
Cây Keo lá tràm là loài cây gỗ có kích thước trung bình, cây sinh trưởng
nhanh, đơn thân, đoạn thân dưới cành thẳng sau đó cong về phía trên, thường cao


7

từ 10 – 20 m, ở những nơi có điều kiện thuận lợi cây cao đến 30 m, đường kính đạt
80 cm. Cây khi còn non có vỏ nhẵn, khi lớn vỏ có màu xám hoặc nâu, độ dày vỏ từ
3 đến 10 mm, nứt dọc nhỏ, khi già vỏ bong thành mảng. Tán lá dày, rậm và rộng, lá
thường xanh, có nhiều cành nhánh. Loài cây này có lá kép lông chim trong thời kỳ

loài với các loài cây Bạch đàn, Phi lao, Sao đen, Dầu,…mà còn trồng rừng thuần
loài đều sinh trưởng tốt.
Keo lá tràm có khả năng tái sinh bằng hạt rất mạnh. Hạt chín rụng xuống đất
khi gặp điều kiện thuận lợi hạt có thể nảy mầm ngay. Kết quả điều tra tái sinh rừng
trồng từ tuổi 6 đến tuổi 10 tại Lâm trường Trị An – Đồng Nai cho thấy tổng số hạt
giống nằm dưới tán rừng khoảng 14.000 – 16.000 hạt/ha, trong khi đó lượng hạt
còn sót lại nằm trong đất từ năm trước khoảng 4.000 – 12.500 hạt/ha và lượng cây
con tái sinh đạt 11.500 đến 24.000 cây/ha [5].
Keo lá tràm là loài cây sinh trưởng khá nhanh. Ở Việt Nam, trên các lập địa
tốt như ở Minh Đức (Bình Phước) với đất xám tầng dày đạt năng suất 34 – 35
m3ha-1năm-1 ở tuổi 6. Tại Ba Vì (Hà Nội) sau một năm cây cao từ 2,2 – 2,5 m với
đường kính 2,7 – 3,3 cm, sau hai năm có thể cao 5 – 6 m với đường kính 4,5 – 5,6
cm. Ở huyện Trảng Bom (Đồng Nai) cây Keo lá tràm trồng phân tán sau 30 năm
cao 20 – 22 m, đường kính 40 – 60 cm, cá biệt có cây đường kính đạt tới 80 cm
[10].
Keo lá tràm là cây xanh quanh năm, tán lá dày, rễ có nốt sần chứa vi sinh vật
cộng sinh Rhizobium và Bradyrhizobium có khả năng tổng hợp Nitơ khí quyển và
cố định đạm, cây có thể sống được trên đất đai nghèo kiệt nên nhiều nơi đã sử dụng
Keo lá tràm như là một loài cây tiên phong cải tạo đất, chống xói mòn và làm cây
xanh đô thị [7].
Kết quả khảo nghiệm xuất xứ trong nhiều năm qua ở nước ta cho thấy trong
hàng chục xuất xứ Keo lá tràm chỉ có một số ít là có sinh trưởng nhanh rõ rệt. Nòi
địa phương Keo lá tràm tuy có khả năng chịu đựng khá tốt đối với hoàn cảnh khắc
nghiệt nhưng sinh trưởng kém hơn nhiều các xuất xứ khác, lại có nhiều cành nhánh
[18]. Vì vậy, việc chọn những cá thể ưu trội có sinh trưởng nhanh, chất lượng thân
cây đẹp và khảo nghiệm dòng vô tính để xác định tính ổn định di truyền của chúng


9


rừng giống 17 ha bằng hạt của 79 cây trội; trong hai năm 1991 - 1992 đã trồng
92,92 ha rừng giống gồm nhiều xuất xứ. Từ năm 1993 – 1997, công ty đã xây dựng


10

được 35,63 ha vườn giống thế hệ 1. Sau đó, công ty đã trồng được 42,45 ha vườn
giống thế hệ 2 từ năm 2000 – 2005. Công ty cũng đã thiết lập 2 ha vườn giống sản
xuất hạt lai cho Keo tai tượng và Keo lá tràm năm 1996, với 139 gia đình từ PNG
và Queensland của Keo lá tràm đã được khảo nghiệm hậu thế. Hạt sẽ được thu hái
và chọn cây lai tại vườn ươm. Đây là hướng chọn giống lai tự nhiên đơn giản và dễ
thực hiện [21].
Tại Malaysia, các nghiên cứu và phát triển mở rộng rừng trồng mạnh nhất so
với các nước trong vùng Đông Nam Á. Tại đây, cây Keo lá tràm được dẫn giống
trồng thử nghiệm từ những năm 1930, đến những năm 1970 thì Keo lá tràm đã trở
thành loài cây trồng rừng kinh tế chính, hàng loạt các khảo nghiệm xuất xứ trên 4
địa điểm có điều kiện lập địa khác nhau về độ ẩm đất, độ sâu tầng đất, lượng mùn
và cỏ dại. Theo kết quả tại Sabah, sau 10 - 13 năm chiều cao cây đạt 20 - 25m và
đường kính 20 - 30cm, tăng trưởng bình quân ở đây là 44 m3ha-1năm-1, đồng thời
kết luận sinh trưởng của Keo lá tràm tốt hơn các xuất xứ địa phương. Tính đến cuối
năm 1990, diện tích rừng trồng Keo lá tràm ở Sabah vào khoảng 14.000 ha [32].
Tại Thái Lan, năm 1985 khảo nghiệm giống đã được tiến hành cho 12 loài
từ 23 lô hạt trên 6 địa điểm khảo nghiệm đã thu được kết quả sau 3 năm tuổi sinh
trưởng giữa các loài và xuất xứ khác nhau là sai khác có ý nghĩa, trong đó các loài
Keo lá tràm, Keo lá liềm và Keo đa thân có xuất xứ từ Papua New Guinea được
đánh giá là tốt ở tất cả các lập địa. Keo lá tràm xuất xứ tốt nhất là Balamuk (PNG)
đạt chiều cao nơi có lập địa tốt nhất là 12,3 m và đường kính là 12 cm, đồng thời
Keo lá tràm cho tỷ lệ sống cao nhất kế đến là Keo đa thân và Keo lá liềm. Tác giả
cũng chỉ ra rằng khi sử dụng các loài Keo để trồng rừng thì việc xác định điều kiện
lập địa, loài và xuất xứ thích hợp để đảm bảo sinh trưởng và sản lượng là công tác

và 1,5; vườn giống dòng vô tính và vườn giống lai với sản lượng hàng năm trên
1000 kg hạt giống (dẫn từ Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [21].
Tổng hợp các nghiên cứu về sinh trưởng của các xuất xứ, tác giả Kamis
Awang nhận định rằng: sinh trưởng của cây rừng trong các khảo nghiệm xuất xứ là
kết quả của sự tương tác giữa điều kiện lập địa và nguồn gốc xuất xứ. Với các xuất


12

xứ có nguồn gốc từ Papua New Guinea có sinh trưởng tốt nhất cả về đường kính,
chiều cao và dạng thân, kế đến là xuất xứ từ Claudie River của Úc, sinh trưởng thấp
hơn là các xuất xứ vùng Cairns của Queensland nước Úc và hai xuất xứ Ceram và
Irian Jaya của Indonesia (trić h theo Lê Đin
̀ h Khả, 2003 [16].
Nghiên cứu về đa dạng di truyền đã giúp các nhà khoa học rút ngắn quy
trình chọn giống, tạo ra những giống mới có năng suất cao và chất lượng tốt hơn.
Nghiên cứu để so sánh mức độ đa dạng di truyền ở các quần thụ tự nhiên và ở vườn
giống cho thấy chỉ có 56% biến dị di truyền của các quần thể tự nhiên có mặt trong
rừng giống mà thôi [21]. Như vậy, cần phải có một chương trình cải thiện giống
phù hợp nhằm nâng cao chất lượng di truyền của các nguồn giống.
1.4. Các nghiên cứu về lĩnh vực cải thiện giống ở Việt Nam
Công tác chọn giống Keo đã được tiến hành từ những năm 1980, một loạt
các loài Keo đã được nhập khẩu phục vụ các khảo nghiệm loài, xuất xứ và được
tiến hành trên nhiều vùng sinh thái. Nguồn hạt giống chủ yếu do các dự án và tổ
chức quốc tế tài trợ như các dự án của FAO, PAM, SIDA, SAREC, CSIRO… Đây
đều là các lô hạt giống chuẩn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, có số lượng cây mẹ đủ
lớn để bảo đảm mức độ đa dạng di truyền cao của nguồn giống cung cấp cho trồng
rừng sau này, trong đó Keo lá tràm đã được gây trồng trên diện rộng trong cả nước
và cho kết quả khả quan ở nhiều vùng sinh thái.
1.4.1. Các kết quả về khảo nghiệm xuất xứ

nghiệm đã chọn được 3 xuất xứ Keo lá tràm có triển vọng là Morehead River
(Australia), Mai kusa (PNG) và Noogoo Swamp (NT). Kết quả khảo nghiệm cho
thấy ở các tỉnh miền Bắc các xuất xứ Mibini (PNG), Coen River (Qld), Manton
(NT) và Kings Plains (Qld) là có triển vọng; trong khi đó tại Mang Giang (Gia Lai)
xuất xứ Coen River (Qld) và Kings Plains (Qld) có sinh trưởng nhanh hơn so với
hai xuất xứ còn lại [13] ; [21].
Năm 1994, khảo nghiệm các xuất xứ Keo lá tràm được tiến hành theo dự án
ACIAR 9310. Khảo nghiệm được tiến hành tại Cẩm Quỳ (Ba Vì), Đông Hà (Quảng
Trị) và Sông Mây (Đồng Nai). Kết quả chọn được xuất xứ Morehead (PNG) có
sinh trưởng tốt tại Sông Mây và Đông Hà, Goomadeer (Qld) sinh trưởng tốt tại
Cẩm Quỳ và Đông Hà, trong khi đó xuất xứ Coen River (Qld) sinh trưởng tốt ở cả


14

ba nơi. Riêng nòi địa phương Đồng Nai thuộc nhóm sinh trưởng trung bình và kém
ở cả ba nơi khảo nghiệm. Kết quả khảo nghiệm cũng cho thấy rằng trong các lô hạt
của xuất xứ Coen River thì lô hạt số 16142 là có sinh trưởng và hình dáng thân cây
đẹp nhất. Điều này chứng tỏ rằng các quần thể khác nhau và lô hạt khác nhau của
cùng một địa phương vẫn có sinh trưởng rất khác nhau [15].
Giai đoa ̣n 1996-1999, dự án FORTIP (Regional Project on Forest Tree
Impovement) về cải thiện giống cây rừng do Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng
hợp tác với CSIRO của Australia đã trồng 8 ha vườn giống Keo lá tràm tại Ba Vì
(Hà Nội) và Chơn Thành (Bình Phước) từ hạt giống được thu ở các cây trội đã
được chọn lọc tại Papua New Guinea (PNG), các bang của Australia và từ Thái
Lan. Các vùng lấy giống là những xuất xứ đã được khảo nghiệm trước đây tại Việt
Nam và Thái Lan được đánh giá là những xuất xứ tốt nhất. Sau 3 năm tiến hành
đánh giá sinh trưởng giữ lại những gia đình tốt đồng thời tỉa bỏ những cá thể và
những gia đình xấu để chuyển thành vườn giống lấy hạt cung cấp giống trồng rừng
ở Việt Nam [29]. Đánh giá sinh trưởng sau 4 năm cho thấy các xuất xứ có triển

Cũng qua các nghiên cứu của TTNCGCR thấy rằng, từ chọn lọc cây trội và
khảo nghiệm dòng vô tính có thể cho ̣n tạo ra một số dòng có năng suất cao, chất
lượng thân cây tốt hơn giống địa phương hiện có cũng như giống đại trà của những
xuất xứ tốt nhất khi nhập nội. Tuy vậy, đối với Keo lá tràm những nghiên cứu này
mới được tiến hành trong 4 - 5 năm đầu ở Ba Vì (Hà Nội) và Sông Mây (Đồng
Nai). Do đó việc xây dựng và đánh giá các khảo nghiệm dòng vô tính ở một số nơi
khác là cần thiết. Xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, để tiếp tục chọn lọc được
những dòng Keo lá tràm có năng suất cao, đề tài này góp phần hoàn thiện công
trình đó.
Tóm lại:
Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy các loài
Keo Acacia nói chung và loài Keo lá tràm (A. auriculiformis) nói riêng đã và đang
là những cây trồng rất được quan tâm hiện nay, điều đó thể hiện qua nhiều công
trình nghiên cứu từ công tác chọn giống cải thiện giống cho đến các biện pháp kỹ


16

thuật thâm canh rừng trồng các loài cây này. Một trong những hướng đi mang lại
hiệu quả tốt nhất cho mục tiêu nâng cao sản lượng rừng là : hướng trọng tâm vào
công tác chọn tạo giống có năng suất cao, nhằm tạo ra rừng trồng năng suất ngày
càng cao thì công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới càng trở nên cần thiết. Chính
vì vậy, công tác chọn tạo giống cần phải thường xuyên và liên tục nhằm cung cấp
nguồn giống chất lượng tốt cho trồng rừng. Xuất phát từ những quan điểm đó mà
nghiên cứu này được tiến hành nhằm góp phần nâng cao năng suất và chất lượng
rừng trồng.


17


gồm 3 kg phân chuồng và 200g phân NPK. Tất cả các vật liệu thí nghiệm được
thiết kế bởi Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng - Viện KHLN Việt Nam.
Bảng 2.1: Các dòng Keo lá tràm được dùng tại các khảo nghiệm
STT

Tại Bầu Bàng

Tại Cẩm Quỳ

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21

BVT-28
BVT-83
BVT-84
BVT-85
E
K
L
C
Hat–UC (ĐC)
Hat-BV (ĐC)

159
156
155
147
133
98
92
84
63
62
61
60
57
44
43
26
25
18
8

0

- Phía Bắc giáp xã Tân Hưng
- Phía Nam giáp Nông trường Chiến
Thắng
- Phía Tây giáp giáp xã Lai Uyên
- Phía Đông giáp xã Lai Hưng

Tọa độ địa lý: 21007’ vĩ độ Bắc và
1050 26’ kinh độ Đông.
- Phía Bắc giáp Suối Hai
- Phía Nam giáp xã Tản Lĩnh
- Phía Tây giáp Ba Trại
- Phía Đông giáp Đầm Long

Địa hình
Đại diện cho loại đất phù sa cổ, địa hình
bằng phẳng, độ cao 50 m so với mực
nước biển.

Thuộc vùng trung du, độ cao bình
quân 150m, gồm những đồi bát úp,
khá đồng nhất, độ dốc trung bình 70 100.


20

Khí hậu - Thủy văn
Thuộc vùng Đông Nam Bộ là khu vực Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có
nhiệt đới điển hình với 2 mùa khô, mưa hai mùa khá rõ rệt là mùa khô và mùa


Bảng 2.3: Đă ̣c điể m khí hâ ̣u của vùng trồ ng khảo nghiê ̣m
Địa
điểm
nghiên
cứu

Vi ̃ độ

Kinh
đô ̣

Lươ ̣ng
mưa
(mm)

Tháng
mưa
>100
mm

Lươ ̣ng
bố c
hơi
(mm)

960

Ba Vì


40,2
39

Nguồ n:Trạm KTTV Sở Sao–Bình Dương và Ba Vì–Hà Nội

5,3
23.4


21

Bảng 2.4: Tính chất hoá học và vật lý của đất ở các khu vực nghiên cứu
Chất dễ tiêu

Cation trao đổi

Thành phần

Độ

Tên

(mg/100g)
(1đl/100mg)
cơ giới
pH
Mùn
Đạm
sâu
0,02KCL (%) (%)


20-40 3,87 0,63 0,06

3,15 3,00 1,41 1,21 2,92 21,8 32,9 45,3

Bàng
40-60 3,87 0,40 0,04 1,50

1,70 1,62 1,21 2,84 21,8 26,8 41,5

(Nguồn: theo Lê Đình Khả, 2003 [16]; Đỗ Đình Sâm, 1994 [22].)

2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Phương pháp kế thừa tài liệu
Kế thừa tài liệu của đề tài “Nghiên cứu cải thiê ̣n giố ng nhằ m tăng năng
suấ t, chấ t lượng cho một số loài cây trồ ng rừng chủ lực” giai đoạn 2005-2010 do
TS. Hà Huy Thinh
̣ làm chủ nhiệm.
Đề tài này là một phần của các thí nghiệm khảo nghiệm giống ở cây Keo lá
tràm của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (TTNCGCR) thuộc Viện khoa học
Lâm nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của đề tài được thừa kế từ một phần
thiết kế của TTNCGCR. Tác giả đồng thời là người thực hiện tất cả các khâu của
thiết kế này.


22

2.5.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Các thí nghiệm khảo nghiệm giống tại 2 địa điểm được tiến hành như trình
bày trong bảng 2.5.

trồng thành 1 hàng.

- Số dòng: 30

- Số dòng: 25

- Ô thí nghiệm:

- Ô thí nghiệm:

3 mét
Hàng1: X X X X X X X X X X
3 mét
Hàng2: X X X X X X X X X X
Cây số 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

Hàng: X X X X X X X X X X
3 mét
Cây số 1 2

3 4 5 6 7 8 9 10


23

2.5.3. Phương pháp chọn lọc cây trội
Chọn lọc cây trội theo quy phạm xây dựng rừng giống và vườn giống (QPN
15-93), quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng giống chuyển hoá (QPN 16-93).
Cây trội cần có độ vượt so với số trung bình của lâm phần từ 1,5 đến 3 lần
độ lệch chuẩn (Bộ Lâm nghiệp, 1994) [1].


thước dây với sai số 0,1 cm, sau đó quy đổi ra đường kính, đơn vi ̣cm.
- Chiều cao vút ngọn: Đo bằng sào đo cao có chia mét. Đo từ mặt đất đến
đỉnh sinh trưởng cao nhất với sai số là 20 cm. Khi chiều cao cây lớn hơn 10 mét
dùng thước Blume-Leiss với sai số 50 cm.
+ Thu thập các chỉ tiêu chất lượng
Đánh giá về chất lượng cây theo phương pháp cho điểm của Lê Đình Khả và
Dương Mộng Hùng (1998) [12].
Một số chỉ tiêu chất lượng được thu thập như: độ thẳng thân, độ nhỏ cành,
mức đô ̣ sâu bê ̣nh ; Thang điể m được thể hiện ở bảng 2.6
Bảng 2.6: Các tiêu chí cho điểm về chất lượng cây Keo lá tràm
Độ thẳng thân (Đtt)

Điểm

Cây rất cong (75% - 100% đoạn thân bị cong)

1

Cây cong vừa (25% - 50% đoạn thân bị cong)

2

Cây cong nhẹ (< 25% đoạn thân bị cong)

3

Cây hơi cong (rất ít thấy cong)

4


Sâu bệnh (Sb)

Điểm

Cây bị bệnh rất nặng (75% - 100% thân và tán bị bệnh)

1

Cây bị bệnh nặng (50% - 75% thân và tán bị bệnh)

2

Cây bị bệnh trung bình (25% - 50% thân và tán bị bệnh)

3

Cây bị bệnh nhẹ (< 25% thân và tán bị bệnh)

4

Cây không bị bệnh (toàn bộ thân và tán không bị bệnh)

5



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status