THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Phát triển năng lực tư duy học sinh thông qua một số dạng
bài tập sinh lí thực vật.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: giáo dục, giảng dạy môn sinh học.
3. Tác giả:
Họ và tên:
Giới tính: Nữ
Ngày tháng/năm sinh:
Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ sinh học
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- HS khối 11 với số HS/lớp theo chuẩn của Bộ giáo dục.
- Máy tính, máy in màu, máy chiếu và các phương tiện khác.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: tháng 9/2014.
HỌ TÊN TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN
ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
1
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Một trong những định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đó
là chuyển từ chương trình định hướng nội dung dạy học sang chương trình định
Các bài tập trên có thể được áp dụng rộng rãi trên mọi đối tượng HS lớp
11, trong mọi giờ dạy và học phần sinh lí thực vật, trong kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của HS. Sáng kiến còn có thể sử dụng làm tài liệu ôn thi học sinh
giỏi cho HS lớp 11 và 12. Các dạng bài tập trong sáng kiến kích thích khả năng
tư duy, khả năng vận dụng thực tiễn của HS.
- Lợi ích thiết thực của sáng kiến:
Sáng kiến là một sản phẩm mới trong dạy - học phần sinh lí thực vật đáp
ứng yêu cầu giáo dục giai đoạn 2011 - 2020. Sáng kiến nhằm đổi mới hình thức
học tập, góp phần tạo hứng thú của HS trong học tập bộ môn. Khắc phục quan
điểm lệch lạc “học để thi” thành “học để ứng dụng cuộc sống”.
4. Kết quả đạt được của sáng kiến
Qua thực tiễn, sáng kiến đã chứng tỏ dạy học và kiểm tra đánh giá bằng
các dạng bài tập phát triển năng lực tư duy đã giúp HS làm chủ được kiến thức,
rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống thực tiễn.
Sáng kiến đã và đang dần dần lôi cuốn các em HS lại gần hơn với sinh học.
5. Những đề xuất để mở rộng sáng kiến
- Dạy học và xây dựng được các bài tập theo định hướng phát triển năng lực tư
duy, đòi hỏi người giáo viên sinh học cần phải không ngừng nâng cao trình độ
chuyên môn, bồi dưỡng lí luận về phương pháp dạy học và tâm huyết với nghề;
các em HS cần có thái độ học tập đúng đắn các môn học.
- Để thiết kế các dạng bài tập áp dụng trong mọi khâu của quá trình dạy học, GV
có thể sử dụng các đoạn phim, tranh ảnh, sơ đồ, … nên cần sự hỗ trợ bởi các
phương tiện nghe, nhìn, chiếu, bảng phụ….
- Tăng cường thời gian dành cho dạy - học bài tập sinh lí thực vật.
3
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
vật ở lớp 11 càng khan hiếm. Trong khi đó, kiến thức sinh lí thực vật có ứng
dụng rất nhiều vào thực tiễn cuộc sống và bảo vệ môi trường sống.
Qua thực tế tìm hiểu, tôi nhận thấy đa số học sinh thích làm bài tập thay
cho những câu hỏi tẻ nhạt; thích quan sát tranh ảnh và hình vẽ hơn là đọc và viết
lách; đa số HS đều tò mò, thích khám phá những tình huống thực tiễn, những thí
nghiệm ... Vậy tại sao chúng ta không chế biến những bài tập sinh lí thực vật
đơn điệu thành những bài tập thú vị phù hợp với tâm sinh lí của HS. Chúng ta
thử tưởng tượng, người đầu bếp họ làm gì để khách hàng nào cũng ăn hết khẩu
phần ăn của mình? Tôi đã trả lời câu hỏi đó và tôi đã chọn, tôi cần đổi mới
phương pháp dạy học của mình bằng việc “kéo sinh học lại gần với Toán học và
các con số”, “kéo sinh học lại gần hội họa và mỹ thuật”. Từ đó, tôi đã cải tiến
những bài tập định tính nhàm chán của sinh lí thực vật thành những bài tập
đầy hình ảnh tư duy, mang đậm tính thực tiễn và với những con số mà các em
yêu thích ... với mong muốn tạo hứng thú học tập cho các em; Đồng thời, định
hướng phát triển năng lực tư duy, kích thích khả năng sáng tạo, khả năng tự học
của các em HS.
Với những lí do trên, tôi đã mạnh dạn xây dựng các dạng bài tập sinh lí
thực vật nhằm phát triển năng lực tư duy cho HS qua đề tài: “Phát triển năng
lực tư duy học sinh qua một số dạng bài tập phần sinh lí thực vật”
1.2. Phạm vi và đối tượng áp dụng
- Đối tượng áp dụng chủ yếu: HS lớp 11 (từ HS trung bình, khá đến đối tượng
HS giỏi). Ngoài ra, sáng kiến còn làm tài liệu tham khảo cho HS lớp 12, và GV
tham gia giảng dạy.
- Phạm vi áp dụng: Dạy - học kiến thức sinh lí thực vật trong chương trình sinh
học 11.
1.3. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến
- Sáng kiến là một trong những tài liệu đầu tiên xây dựng và phân loại được các
dạng bài tập sinh lí thực vật theo định hướng phát triển năng lực; chỉ ra cách vận
dụng bài tập trong thực tiễn giảng dạy.
5
năng lượng trong tế bào.
6
- Trình bày được vai trò của nước ở thực vật: đảm bảo hình dạng nhất định của
tế bào và tham gia vào các quá trình sinh lí của cây. Thực vật phân bố trong tự
nhiên lệ thuộc vào sự có mặt của nước.
- Trình bày được cơ chế trao đổi nước ở thực vật gồm 3 quá trình liên tiếp: Hấp
thụ nước, vận chuyển nước và thoát hơi nước; ý nghĩa của thoát hơi nước với
đời sống của thực vật.
- Nêu được sự cân bằng nước cần được duy trì bằng tưới tiêu hợp lí mới đảm
bảo cho sinh trưởng của cây trồng.
- Trình bày được sự trao đổi nước ở thực vật phụ thuộc vào điều kiện môi
trường.
b. Trao đổi khoáng và nitơ ở thực vật
- Nêu được vai trò của chất khoáng ở thực vật.
- Phân biệt được các nguyên tố khoáng đại lượng và vi lượng.
- Phân biệt được 2 cơ chế trao đổi các chất khoáng (thụ động và chủ động) ở
thực vật.
- Nêu được 3 con đường hấp thụ nguyên tố khoáng: qua không bào, qua tế bào
chất, qua thành tế bào và gian bào.
- Trình bày được sự hấp thụ và vận chuyển nguyên tố khoáng phụ thuộc vào đặc
điểm của hệ rễ, cấu trúc của đất và điều kiện môi trường.
- Trình bày vai trò của nitơ, sự đồng hoá nitơ khoáng và nitơ tự do (N 2) trong khí
quyển.
- Giải thích được sự bón phân hợp lí tạo năng suất cao của cây trồng.
c. Quá trình quang hợp ở thực vật
- Trình bày được vai trò của quá trình quang hợp.
- Nêu được lá cây là cơ quan chứa các lục lạp mang hệ sắc tố quang hợp.
- Trình bày được quá trình quang hợp ở thực vật C3 (thực vật ôn đới) bao gồm pha
- Nêu được các kiểu hướng động.
- Nêu được cảm ứng là sự vận động sinh trưởng hoặc không sinh trưởng do sự
biến đổi của điều kiện môi trường.
- Phân biệt được ứng động sinh trưởng với ứng động không sinh trưởng. Cho
ví dụ cụ thể.
- Nêu được vai trò của cảm ứng đối với thực vật.
8
Chương 3. Sinh trưởng và phát triển
- Phân biệt được sinh trưởng với phát triển và mối liên quan giữa chúng.
- Phân biệt được sinh trưởng sơ cấp và sinh trưởng thứ cấp.
- Trình bày được ảnh hưởng của điều kiện môi trường tới sự sinh trưởng và
phát triển ở thực vật.
- Trình bày được các chất điều hoà sinh trưởng (phitôhoocmôn) có vai trò điều
tiết sự sinh trưởng, phát triển.
- Nêu được ứng dụng chất điều hoà sinh trưởng trong sản xuất nông nghiệp.
- Nhận biết sự ra hoa là giai đoạn quan trọng của quá trình phát triển ở thực vật
Hạt kín.
- Nêu được quang chu kì là sự phụ thuộc của sự ra hoa vào tương quan độ dài
ngày và đêm.
- Biết được phitôcrôm là sắc tố tiếp nhận kích thích chu kì quang có tác động
đến sự ra hoa.
Chương 4. Sinh sản ở thực vật
- Nêu được khái niệm sinh sản vô tính là sự sinh sản không có sự hợp nhất các
giao tử đực và giao tử cái (không có sự tái tổ hợp di truyền), con cái giống nhau
và giống bố mẹ.
- Phân biệt được các kiểu sinh sản vô tính; sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính.
- Nhận biết được sinh sản hữu tính ở thực vật có hoa.
2.1.2. Về kĩ năng
- Củng cố cho học sinh quan điểm duy vật biện chứng về thế giới sống, bồi
dưỡng cho học sinh lòng yêu thiên nhiên và bảo vệ thiên nhiên, đặc biệt là bảo
vệ rừng, bảo vệ các loài sinh vật quí.
- Rèn luyện cho học sinh tư duy biện chứng, tư duy hệ thống.
2.2. Phát triển năng lực trong dạy học sinh học
Ngoài những mục tiêu trên, trong dạy học còn cần chú ý tới việc phát
triển năng lực học sinh. Năng lực là khả năng thực hiện một hoạt động có ý
nghĩa. Khi thực hiện hoạt động này, con người cần phải vận dụng kiến thức,
kinh nghiệm sẵn có, sử dụng các kĩ năng của bản thân một cách chủ động và có
10
trách nhiệm. Trên cơ sở đó, dạy học thay vì chỉ hướng tới mục tiêu hình thành
kiến thức, kĩ năng, thái độ ở HS theo chuẩn kiến thức kĩ năng, thì cần phải
hướng tới mục tiêu phát triển khả năng thực hiện hành động của người học - dạy
học phát triển năng lực.
Dạy học theo hướng phát triển năng lực đang là vấn đề được nhiều quốc
gia quan tâm không chỉ ở Việt Nam. Vậy người học cần phát triển những nhóm
năng lực nào? Các nhà khoa học Việt Nam đã đề xuất định hướng năng lực của
chương trình giáo dục THPT giai đoạn 2011 - 2020 như sau:
- Năng lực tự học.
- Năng lực sáng tạo, tự chủ.
- Năng lực giải quyết vấn đề.
- Năng lực tự quản lí bản thân.
- Năng lực giao tiếp.
- Năng lực hợp tác
- Năng lực tính toán, ứng dụng con số.
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ.
- Năng lực công nghệ thông tin - truyền thông.
Ngoài những năng lực trên, đối với bộ môn sinh học cấp THPT nói chung và
quả; sử dụng nông sản sao cho an toàn …. Ở những vùng nông thôn, sau khi
hoàn thành bậc học THPT, một số em còn trực tiếp tham gia lao động sản xuất
nông nghiệp ở địa phương. Nếu nắm vững kiến thức sinh lí thực vật, các em sẽ
có nhiều thuận lợi trong việc tăng năng suất cho vườn rau, vườn cây ăn quả …
của gia đình mình.
Từ thực trạng trên, tôi luôn trăn trở, làm thế nào để các em có thể yêu thích
bộ môn sinh học, biết ứng dụng sinh học vào thực tiễn cuộc sống để sinh học là
môn học thật sự ý nghĩa với các em. Vì vậy, tôi đã chủ động cải tiến nội dung
sách giáo khoa thành các bài tập chứa đựng kiến thức gắn liền với thực tiễn, đổi
mới phương pháp dạy học phù hợp nhằm lôi cuốn các em HS yêu thích môn
sinh học. Một trong những khâu quan trọng trong cải tiến phương pháp dạy học
đó là xây dựng hệ thống bài tập phù hợp, gắn liền với thực tiễn và mang tính tư
duy cao.
12
4. Các giải pháp thực hiện
4.1. Các dạng bài tập sinh lí thực vật phát triển năng lực tư duy
Qua giảng dạy và tham khảo các đề thi học sinh giỏi, sách báo … tôi nhận
thấy rằng, có nhiều bài tập sinh lí thực vật lạ gây cho các em HS cảm giác lo sợ
và hoang mang khi học cũng như khi tham gia các kì thi. Các em thấy khó khăn
khi học tập môn sinh học nói chung và phần sinh lí thực vật nói riêng. Một trong
các nguyên nhân mà bản thân tôi được biết, đó là các bài tập sinh lí thực vật thì
nhiều mà không chia thành các dạng cơ bản; Bài tập sinh lí thực vật chủ yếu là
các câu hỏi trực tiếp mang tính ghi nhớ lại các sự kiện, quá trình sinh học, có rất
ít bài tập mang tính tư duy. Trong khi đó, kiến thức sinh lí thực vật thì rất gần
với thực tiễn.
Vì vậy, để tăng cường hứng thú học tập của học sinh và giúp HS ôn tập
đạt kết quả cao phần sinh lí thực vật, đáp ứng mục tiêu theo chuẩn kiến thức kĩ
năng và mục tiêu phát triển năng lực tư duy, tôi mạnh dạn dựa trên mục đích yêu
vận dụng kiến thức về tính hướng sáng, tác dụng của auxin đối với tính hướng
sáng để giải quyết bài tập. HS được thay đổi cách tiếp cận với kiến thức, vận
dụng nhiều giác quan trong học tập, kích thích khả năng tư duy của HS.
Cụ thể:
a. HS quan sát và phát triển tư duy từ kiến thức về tính hướng sáng: Ngọn cây có
tính hướng sáng dương và auxin kích thích sự phân chia tế bào, các em chọn
được đáp án B.
b. Qua quan sát hình ảnh ở phần a và kiến thức đã học về sự tác động của auxin
đối với tính hướng sáng, HS trình bày được cơ chế tác động của auxin như sau:
- Auxin chủ động di chuyển về phía ít ánh sáng làm cho phần thân ở phía ít ánh
sáng có nồng độ auxin cao.
- Khi nồng độ auxin cao gây kích thích sự kéo dài của tế bào làm cho phần thân
phía ít ánh sáng kéo dài nhanh hơn phần thân phía có nhiều ánh sáng.
- Kết quả làm cho thân uốn cong về phía có ánh sáng.
Ví dụ 2:
Cho sơ đồ thí nghiệm như hình vẽ:
14
a. Sơ đồ thí nghiệm trên nhằm mục đích gì?
b. Mô tả các bước tiến hành thí nghiệm. Từ đó, giải thích và rút ra kết luận.
Hướng dẫn cách tư duy
- Học sinh vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết bài tập:
Trong hóa học: nước vôi trong có công thức Ca(OH)2 có thể phản ứng với
CO2 tạo CaCO3 kết tủa.
Ca(OH)2 + CO2 CaCO3 + H2O
Trong sinh học: Hạt nảy mầm diễn ra quá trình hô hấp.
Từ đó, xác định được thí nghiệm trên nhằm mục đích chứng minh: trong
hô hấp có sự tạo thành CO2.
- HS tiếp tục quan sát hình vẽ để mô tả thí nghiệm:
4.1.2. Dạng 2: Chú thích vào sơ đồ và giải thích
4.1.2.1. Ví dụ
Ví dụ 1.
Để minh họa mối liên quan giữa các chất tham gia phản ứng và sản phẩm
hình thành sau phản ứng một bạn học sinh đã viết phương trình tổng quát về
quang hợp ở cây xanh như sau :
6 CO2 + 12 H2O
C6H12O6 + 6 O2 + 6 H2O
16
Dựa vào kiến thức quang hợp ở thực vật đã học, em hãy chỉ ra điểm chưa
chính xác trong phương trình trên và giải thích để bạn ấy hiểu? Sau đó, em hãy
sửa lại phương trình cho đúng.
Hướng dẫn cách tư duy
- Đây là một bài tập đơn giản, chúng ta có thể sửa bài tập trên thành một bài tập
quen thuộc như: Viết phương trình tổng quát của quang hợp ở thực vật? Nếu sử
dụng câu hỏi này, các em HS sẽ thụ động nhớ lại kiến thức đã học và ghi lại
phương trình tổng quát cũng như giải quyết các yêu cầu khác của bài.
- Với cách đặt câu hỏi là một sơ đồ từ một phương trình tổng quát như trên, các
em HS phải vận dụng kiến thức đã học về quá trình quang hợp ở cây xanh để
xác định điểm chưa đúng trong phương trình:
+ Oxy được tạo ra (phóng thích do quang hợp) trong pha sáng không
phải lấy từ CO2 và là do sự quang phân ly nước : 2H2O 4H+ + 4e- + O2.
+ CO2 (lấy vào) chỉ được sử dụng trong pha tối (bị khử) và O 2 của CO2 sẽ
tham gia tạo thành glucozơ và nước (sản phẩm của quang hợp).
+ Nước sinh ra trong quang hợp là ở pha tối (không phải do nước lấy
vào) vì nước lấy vào trong quang hợp đã bị quang phân ly hết ở pha sáng.
Hướng dẫn cách tư duy
- Quan sát sơ đồ, HS nhận thấy: trên sơ đồ có giai đoạn tạo thành axit piruvic.
Từ đó các em tư duy và xác định: đây là sơ đồ về quá trình hô hấp ở thực vật.
- HS tiếp tục phát triển năng lực tư duy của bản thân khi vận dụng kiến thức về
hô hấp ở thực vật để xác định 2 quá trình A và B lần lượt là hô hấp hiếu khí và
hô hấp kị khí. Trên cơ sở tư duy đó, các em sẽ hoàn thành được bài tập:
+ Chú thích các số 1, 2, 3, 4,5 lần lượt là Đường phân; không có ôxy; có ôxy;
quá trình lên men; quá trình hô hấp hiếu khí.
+ Sau đó, chỉ ra sự khác nhau giữa 2 quá trình A và B:
Lên men
+ Môi trường không có ôxy.
Hô hấp hiếu khí
+ Môi trường có ôxy.
+ Chất hữu cơ bị phân giải không
hoàn toàn.
+ Chất hữu cơ bị phân giải
hoàn toàn.
+ Sản phẩm Etanol và axit lactic.
+ Sản phẩm CO2, H2O và ATP.
+ Năng lượng sinh ra ít.
+ Năng lượng sinh ra nhiều.
18
(c): vi khuẩn nitrat hóa: chuyển hóa NH4+ thành NO3-.
(d): vi khuẩn phản nitrat hóa: chuyển hóa NO3- thành Nitơ phân tử.
- Trên sơ đồ, HS nhận thấy quá trình d xảy ra NO 3- N2, nhờ vi khuẩn phản
nitrat hóa. Vì vậy, vi khuẩn này hoạt động trong điều kiện kị khí.
+ Hoạt động này chuyển hóa nitrat (dạng mà cây hấp thụ được) thành Nitơ
phân tử làm mất lượng nitơ dinh dưỡng.
+ Khắc phục: làm đất thoáng khí để tránh hoạt động của nhóm vi khuẩn này.
- Quan sát sơ đồ và nhận thấy: NO3- NH4+. Vì vậy (*) là quá trình khử NO3-.
Ý nghĩa: khi tổng hợp các axit amin cây cần nhiều nhóm NH2
Ví dụ 4: Hình vẽ dưới đây mô tả về một quá trình sinh học ở một loài thực vật.
Trang đang băn khoăn khi quan sát sơ đồ bên:
a. Không biết đây là quá trình gì? Các con số 1, 2,
2
3, 4 được chú thích như thế nào?
b. Quá trình được thể hiện trên sơ đồ bên có thể
1
3
được tóm tắt bằng một sơ đồ khác cụ thể hơn
được không?
Em hãy vận dụng kiến thức đã học để giải đáp
những băn khoăn của Trang.
4
Hướng dẫn cách tư duy
- Chúng ta có rất nhiều cách hỏi về một quá trình sinh học, nhưng để phát triển
năng lực tư duy HS, chúng ta nên sử dụng các câu hỏi mở và nếu có thể bổ sung
Carbohydrat
TẾ BÀO BAO BÓ MẠCH
4.1.2.2. Đặc điểm của dạng bài tập
Các bài tập dạng này đã cho sẵn một hình vẽ, sơ đồ có liên quan đến một
thí nghiệm hoặc một quá trình sinh học hay một phản ứng tổng quát nào đó ….
HS phải quan sát, vận dụng kiến thức đã học để giải quyết yêu cầu của bài.
Đây là dạng bài tập có thể thiết kế theo nhiều mức độ phù hợp với các đối
tượng HS khác nhau như trung bình (ví dụ 1, 2), HS khá giỏi (ví dụ 3, 4). Ngay
21
trong mỗi bài tập, chúng ta cũng có thể lồng ghép các cấp độ kiến thức khác
nhau phù hợp với trình độ học sinh. Ví dụ 1, mang tính tái hiện kiến thức, ví dụ
2, vừa mang tính tái hiện kiến thức vừa mang tính vận dụng,. Ví dụ 3: tái hiện
kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn. Ví dụ 4: ngoài việc
tái hiện kiến thức, các em càn cần phải phát huy khả năng sáng tạo để có một sơ
đồ mới từ sơ đồ đã cho. Để làm được bài tập, HS phải nắm vững bản chất của
các quá trình sinh học, có khả năng quan sát tốt, khả năng tư duy cao. Với cách
thiết kế các dạng bài tập này chúng ta có thể khai thác những ứng dụng của sinh
học trong thực tiễn cuộc sống. Từ đó, giúp các em phát triển năng lực giải quyết
vấn đề trong cuộc sống.
4.1.2.3. Cách giải quyết bài tập
Qua các ví dụ giới thiệu trên, chúng ta nhận thấy để làm tốt dạng bài tập
này, các em HS cần thực hiện các bước tư duy theo lôgic sau:
Bước 1: Từ các dữ kiện đầu bài (sơ đồ, hình vẽ) đã cho, HS xác định đó là sơ đồ,
hình vẽ gì? Thuộc kiến thức nào?
Bước 2: Sử dụng kiến thức về cấu tạo, cơ chế, thí nghiệm … đã học để điền vào
sơ đồ, hình vẽ các phần còn thiếu.
Bước 3: Giải thích sơ đồ và hoàn thành các yêu cầu khác của bài: HS vận dụng
lên lá. Nhưng quá trình này không chỉ rễ đảm nhiệm mà còn nhờ vào sự vận
chuyển của thân nhờ vào lực mao dẫn (sức mao dẫn để đưa nước lên). Tiếp đó,
các em lại thấy lá đồng ý giúp thân và rễ vận chuyển tiếp “phần còn lại để tụi
tao lo. Ê, họ hàng nhà lá chúng ta có chút nước nào thì cho bốc hơi hết nhé”.
Như vậy ở đây còn có quá trình thoát hơi nước qua lá.
- Ngoài 3 quá trình hút nước, vận chuyển nước, quá trình thoát hơi nước, liệu
còn quá trình nào nữa không? Đọc kĩ lại, các em sẽ thấy, “rễ đòi lá cho ăn. .....
lá quát: “Nước chẳng chuyển lên lấy gì hòa với khí trời làm cái ăn?”. Như vậy,
lá đang quang hợp đấy! Vậy thì thân không chỉ vận chuyển nước mà còn vận
chuyển các chất hữu cơ nữa mà.
Vậy, câu chuyện của lá, thân và rễ đã nói đến 4 quá trình cơ bản sau:
- Quá trình hút và vận chuyển nước của rễ.
23
- Quá trình vận chuyển các chất trong thân.
- Quá trình thoát hơi nước của lá.
- Quá trình quang hợp tổng hợp các chất hữu cơ ở lá.
Ví dụ 2: Cô Lan là một giáo viên sinh học. Cô rất thích làm các thí nghiệm cho
HS quan sát. Để chuẩn bị cho một tiết học, cô đã tiến hành 2 thí nghiệm:
Thí nghiệm 1: Cô cắt ngang thân cây cà chua và quan sát hiện tượng.
Thí nghiệm 2: Cô úp một chuông thủy tinh trên các chậu cây cảnh có tán
lá thấp và tưới đủ nước, sau đó cô quan sát hiện tượng xảy ra.
Em hãy cho biết cô Lan sẽ quan sát thấy những hiện tượng gì xảy ra ở 2
thí nghiệm trên? Hiện tượng đó giải thích cơ sở sinh lý nào?
Hướng dẫn cách tư duy
- HS xác định hiện tượng xảy ra thuộc kiến thức về sự trao đổi nước, cụ thể là sự
hút nước. Từ đó, các em sẽ xác định được:
+ Khi cắt ngang thân cà chua Hiện tượng rỉ nhựa.
+ Khi úp chuông thủy tinh Hiện tượng ứ giọt.
+ Thí nghiệm 2: Căn cứ vào sự khác nhau về cường độ quang hợp giữa thực vật
C3 và C4, đặc biệt trong điều kiện nhiệt độ cao, cường độ ánh sáng mạnh.
Cường độ quang hợp của C4 lớn hơn C3.
Ví dụ 4: Câu 4b, đề thi HSG lớp 11, Tỉnh Hà Tĩnh, năm học 2010 - 2011
Cho sơ đồ về mối quan hệ giữa quang hợp của thực vật C 3, C4 với cường
độ ánh sáng (hình a) và với nhiệt độ (hình b).
Mỗi đường cong: I, II, III, IV tương ứng với nhóm thực vật nào? Giải thích.
Hướng dẫn cách tư duy
25