Nhu cầu đối với hoạt động công tác xã hội trong việc nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên ở nông thôn (nghiên cứu trường hợp xã lam điền, huyện chương mỹ, thành phố hà nội) - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

------

ĐẶNG THÙY LINH

NHU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG VIỆC NÂNG CAO KIẾN THỨC CHĂM SÓC
SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN Ở NÔNG THÔN
( Nghiên cứu trường hợp xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ,
thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

------

ĐẶNG THÙY LINH

NHU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG VIỆC NÂNG CAO KIẾN THỨC CHĂM SÓC
SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN Ở NÔNG THÔN
( Nghiên cứu trường hợp xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ,
thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành: Công tác xã hội

Các đồng nghiệp ở cơ quan đã luôn tạo điều kiện để tôi có thời gian học
tập và nghiên cứu, bạn bè, những người tôi yêu thương đã luôn ở bên cạnh
tôi, khích lệ, động viên và đưa ra những lời khuyên hữu ích về học tập cho tôi.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các bạn, các đồng nghiệp của tôi.
Tôi sẽ không thể hoàn thành luận văn này nếu không nhận được sự
giúp đỡ của lãnh đạo xã Lam Điền, các anh chị cán bộ chuyên trách dân số,
Đoàn thanh niên, cán bộ y tế xã Lam Điền, các anh chị giáo viên trường
THCS Lam Điền, THPT Chương Mỹ A đã cung cấp cho tôi những thông tin
cần thiết để xây dựng nội dung của luận văn. Vì vậy tôi xin gửi lời cảm ơn
trân trọng nhất tới các anh chị.
Xin trân trọng cảm ơn!


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

SKSS

Sức khỏe sinh sản

VTN

Vị thành niên

SKSSVTN

Sức khỏe sinh sản vị thành niên

THCS

Trung học cơ sở

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .................................................................. 11
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới ................................................................. 11
1.1.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam. ............................................................... 13
1.2. Các khái niệm công cụ ............................................................................. 18
1.2.1. Khái niệm nhu cầu ................................................................................ 18
1.2.2. Khái niệm “sức khoẻ sinh sản” ............................................................. 20
1.2.3. Khái niệm vị thành niên ........................................................................ 21
1.2.4. Khái niệm “Sức khoẻ sinh sản vị thành niên” ...................................... 21

1


1.2.5. Khái niệm về “ Chăm sóc sức khoẻ sinh sản”. ..................................... 22
1.2.6. Công tác xã hội...................................................................................... 22
1.3. Các lý thuyết ứng dụng ............................................................................ 24
1.3.1. Lý thuyết phát triển nhận thức .............................................................. 24
1.3.2. Lý thuyết vai trò .................................................................................... 26
1.4. Các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc SKSS VTN.. 27
1.5. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu ............................................................ 29
1.5.1.Vị trí địa lý ............................................................................................. 29
1.5.2. Tình hình kinh tế xã hội ........................................................................ 29
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ CÁC KÊNH THÔNG
TIN TRANG BỊ KIẾN THỨC VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH
SẢN VỊ THÀNH NIÊN XÃ LAM ĐIỀN .................................................... 31
2.1. Thực trạng kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên .............. 31
2.1.1. Kiến thức về tuổi dậy thì, tình bạn khác giới, tình yêu ......................... 31
2.1.2. Kiến thức về bệnh lây truyền qua đường tình dục, tình dục an toàn .......... 37
2.1.3. Kiến thức về các biện pháp tránh thai ................................................... 43
2.1.4. Vấn đề kết hôn sớm ở trẻ vị thành niên ................................................ 50
2.2. Các kênh thông tin trẻ vị thành niên tiếp cận để tìm hiểu kiến thức

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 94
PHỤ LỤC

3


DANH MỤC BẢNG - BIỂU

Bảng 2.1 :

Sự hiểu biết của vị thành niên xã Lam Điền về các bệnh lây
truyền qua đường tình dục .......................................................... 42

Bảng 2.2:

Mức độ thường xuyên tiếp nhận thông tin chăm sóc sức
khỏe sinh sản từ gia đình của vị thành niên xã Lam Điền ....... 55

Bảng 2.3:

Mức độ thường xuyên tiếp nhận thông tin chăm sóc sức
khỏe sinh sản từ các dịch vụ, tổ chức xã hội của vị thành
niên xã Lam Điền ....................................................................... 63

Bảng 2.4:

Mức độ thường xuyên tiếp nhận thông tin chăm sóc sức
khỏe sinh sản từ các dịch vụ, tổ chức xã hội của vị thành
niên xã Lam Điền ....................................................................... 66


năm 2008 của Hội kế hoạch hoá gia đình, Việt Nam là một trong ba nước có
tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới. Trong đó, 20% là lứa tuổi vị thành niên.
Các chuyên gia trong lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình cho biết, sự đến sớm của
tuổi dậy thì do điều kiện sống cải thiện cùng với quan niệm dễ dãi về tình dục
là những nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tỉ lệ nạo phá thai ở trẻ Việt Nam tăng
cao. Trên phạm vi cả nước có 5% em gái sinh con trước 18 tuổi, 15% sinh con
trước tuổi 20. Số trẻ em dưới 15 tuổi mắc các bệnh lây qua đường tình dục
chiếm 1,16% (bệnh lậu) và 1,5% với các bệnh hoa liễu khác. Đó là chưa kể

5


tới số lượng những người đi nạo phá thai và chữa các bệnh phụ khoa tại các
cơ sở tư nhân[42].
Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược dân số và
sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Chiến lược đã đề ra nhiều
mục tiêu trong đó có mục tiêu số 8 với nội dung: "Cải thiện sức khỏe sinh sản
của người chưa thành niên và thanh niên.Tăng tỷ lệ điểm cung cấp dịch vụ
chăm sóc sức khỏe sinh sản thân thiện với người chưa thành niên và thanh
niên lên 50% tổng số điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản vào
năm 2015 và 75% vào năm 2020. Giảm 20% số người chưa thành niên có thai
ngoài ý muốn vào năm 2015 và giảm 50% vào năm 2020[44]. Mặc dù đã có
sự quan tâm tuy nhiên nội dung nhắc tới nhiều nhất vẫn là không lựa chọn
giới tính khi sinh từ đó giảm mất cân bằng giới tính. Có lẽ vì thế nên mục tiêu
hướng đến ở các địa phương khi thực hiện chính sách dân số vẫn là giảm tỷ lệ
sinh con thứ ba, không lựa chọn giới tính dưới mọi hình thức.
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục giới tính chưa được các bậc cha mẹ cũng
như các nhà giáo dục, các nhà quản lý xã hội quan tâm đúng mức. Điều đó
dẫn đến khi có những băn khoăn về sự thay đổi của cơ thể, về mối quan hệ
với một người khác giới các em không biết chia sẻ cùng ai. Đặc biệt, ở khu

Lam Điền.
- Chỉ ra những nguồn cung cấp kiến thức cho vị thành niên xã Lam Điền.
- Làm rõ nhu cầu tìm hiểu kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị
thành niên.
- Đưa ra những giải pháp để nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh
sản vị thành niên tại xã Lam Điền.
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Vị thành niên xã Lam Điền hiện nay có hiểu biết như thế nào về chăm
sóc sức khỏe sinh sản?
- Nguồn cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành
niên là những đối tượng nào? Chất lượng nguồn cung cấp ra sao?
- Nhu cầu tìm hiểu kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành

7


niên hiện nay ra sao?
- Có thể đưa ra những biện pháp gì để nâng cao kiến thức chăm sóc sức
khỏe sinh sản cho vị thành niên xã Lam Điền?
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Vị thành niên xã Lam Điền chưa có nhiều kiến thức, hiểu biết về
chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Nguồn cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản chủ yếu cho
các em là gia đình, thầy cô, các phương tiện thông tin đại chúng.
- Vị thành niên xã Lam Điền có nhu cầu tìm hiểu về những kiến thức
chăm sóc sức khỏe sinh sản và có nhu cầu tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe sinh sản.
- Gia đình, nhà trường, các cơ quan quản lý cần tăng cường việc giáo
dục nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu

sinh sản vị thành niên.
Phỏng vấn sâu với 06 em thanh thiếu niên ở địa phương để biết thêm
về những nhu cầu được trang bị kiến thức liên quan đến SKSS VTN và những
đánh giá sơ bộ của các em về vấn đề này.
Phỏng vấn sâu 01 phụ huynh có con em đang ở độ tuổi VTN nhằm xem
xét mức độ trao đổi thông tin giữa các bậc phụ huynh với các em để tìm hiểu
thêm nhu cầu của các bậc phụ huynh về việc dậy con em mình kiến thức sâu
cho vấn đề SKSS.
8. Ý nghĩa của nghiên cứu
Từ góc nhìn công tác xã hội, nghiên cứu góp phần mở rộng sự hiểu biết
đối với thực trạng kiến thức sức khỏe sinh sản của nhóm vị thành niên ở một
địa phương cụ thể. Nghiên cứu cũng đánh giá được nhu cầu của nhóm trẻ vị
thành niên đối với hoạt động công tác xã hội trong việc nâng cao kiến thức
sức khỏe sinh sản cho họ.
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này cung cấp dữ liện làm cơ sở cho hoạt
động nâng cao kiến thức sức khỏe sinh sản của vị thành niên. Thêm nữa, cần
nhấn mạnh rằng trên cơ sở hiểu biết về thực trạng kiến thức và nhu cầu của vị
thành niên về kiến thức cho nhóm xã hội này.

9


9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khuyến nghị, Luận văn gồm có
03 chương chính:
Chƣơng 1: của luận văn bao gồm các khái niệm công cụ, các lý thuyết
vận dụng trong quá trình nghiên cứu, các quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính
sách của Nhà nước có liên quan đến chăm sóc SKSS vị thành niên. Nêu sơ
lược đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội xã Lam Điền - huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội.
Chƣơng 2: của luận văn tác giải đi sâu vào nghiên cứu thực trạng kiến

quan hệ tình dục, sử dụng bao ngừa thai, hoặc tránh mang thai ngoài ý muốn.
Tất cả các nghiên cứu đã diễn ra ở Bắc Mỹ, Úc, New Zealand, hay Châu Âu
(trừ Đông Âu)[40].
Nghiên cứu đánh giá chương trình phòng ngừa được cung cấp trong các
trường cao đẳng hoặc trường đại học, những người đánh giá các can thiệp
được thiết kế để ngăn chặn mang thai thứ hai, và những đánh giá chỉ kiến thức
và thái độ; đồng thời loại trừ các nghiên cứu đo chỉ sử dụng bao cao su vì
người tham gia nghiên cứu có thể đã được sử dụng các phương pháp khác về
kiểm soát sinh và nghiên cứu đo chỉ sinh vì họ bỏ qua việc phá thai. Qua

11


nghiên cứu kết quả cho thấy các hoạt động ngừa thai không hiệu quả, người
sử dụng không chủ động sử dụng biện pháp ngừ thai trong mỗi lần quan hệ.
Do vậy, phân tích số liệu cho thấy không giảm trong vấn đề thai ở các phụ nữ
trẻ và người nghèo thường có chất lượng tránh thai thấp. Nghiên cứu cũng chỉ
ra ít chương trình can thiệp sức khoẻ tình dục được thiết kế với mục tiêu dành
cho thanh niên. Thanh niên đã cho thấy giáo dục giới tính cần phải trở nên
nhạy cảm hơn và ít nhấn mạnh vào giải phẫu và những sự e ngại; nó cần tập
trung trên các kỹ năng đàm phán trong quan hệ tình dục và trao đổi; và các
chi tiết về các bệnh viện chăm sóc sức khoẻ sinh sản phải được quảng cáo tại
các nơi thanh niên thường lui tới [40].
Đồng thời, có một số bằng chứng rằng các chương trình ngăn chặn có
thể gần bắt đầu sớm hơn nhiều so với hiện tại. Trong một cuộc xem xét tổng
quan có hệ thống về tám cuộc thử nghiệm chăm sóc ban ngày cho trẻ em
thiệt thòi dưới 5 tuổi, quá trình theo dõi lâu dài cho thấy tỷ lệ mang thai thấp
hơn trong số thanh niên. Từ đó cho thấy cần điều tra các yếu tố quyết định xã
hội về mang thai ngoài ý muốn ở thanh niên thông qua những cuộc nghiên
cứu rộng theo chiều dọc bắt đầu từ đầu đời và sử dụng các kết quả phân tích

tổng số 146 tài liệu nghiên cứu, khảo sát về chủ đề này. Trong đó có 82/146
(56,1%) tài liệu nghiên cứu về thực trạng tình hình sức khoẻ, SKSSVTN Việt
Nam; 18/146 (12,4%) tài liệu nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến sức
khoẻ, SKSSVTN Việt Nam; 46/146 (31,5%) tài liệu đề cập đến các yếu tố, giải
pháp, biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, chăm sóc sức
khoẻ, SKSSVTN. Các kết quả này cho thấy, những nghiên cứu về các vấn đề
có liên quan đến SKSSVTN đã được khá nhiều các nhà khoa học xã hội và
khoa học tự nhiên quan tâm tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau. Mảng nghiên
cứu về nhu cầu giáo dục giới tính - SKSSVTN của học sinh THPT đã được
một số tác giả tìm tòi với những phát hiện mới mẻ và thú vị, mặc dù những
khảo cứu về vấn đề này còn chưa nhiều [1,tr.11]. Trong khuôn khổ nghiên cứu

13


của đề tài tác giả xin trình bày một số đề tài nghiên cứu tiêu biểu.
Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính,
về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố. Các tác giả Đặng
Xuân Hoài, Trần Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn
Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã nghiên
cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính
sức khỏe sinh sản. Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên
cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là Giáo
dục đời sống gia đình) có kí hiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được
Hội cán bộnh phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt
Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO
khu vực. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thuỷ và Giáo sư
Đặng Xuân Hoài, đề án đã được tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên
cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn
nhân; nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ

các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm học sinh. Tuy nhiên, số liệu định lượng
trong nghiên cứu này mới tập trung vào đánh giá thực trạng nhận thức của học
sinh THPT về mội số nội dung liên quan đến SKSS. Những sự khác biệt về
giới tính, độ tuổi, khu vực theo học và thực trạng yêu của học sinh THPTchưa
được khai thác nhiều trong nghiên cứu nhu cầu. Ngoài ra, một số nội dung liên
quan tới nhu cầu giáo dục SKSSVTN của học sinh từ phía nhà trường chưa
được nghiên cứu làm rõ [31,tr59 – 70]. Mặc dù vậy, đây có thể coi là một tài
liệu quan trọng đối với đề tài trong quá trình nghiên cứu, phân tích.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Đoàn Kim Thắng, Dương Chí Thiện về
“Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên” đăng trên Tạp chí
Khoa học Phụ nữ số 3 (46), tháng 5/2001 cho thấy, các kiến thức về giáo dục
giới tính và SKSS mà các em lứa tuổi VTN đã có được khá đa dạng phong
phú, nó có nhiều hơn những gì mà người lớn chúng ta thường hay đánh giá

15


quá nặng nề hoặc quá xem nhẹ. Song những kiến thức này chưa thể nói là đầy
đủ và hệ thống được. Sự hiểu biết ở các em mới chỉ dừng lại phần lớn trên lý
thuyết và sách vở, còn trên thực tế của cuộc sống hàng ngày, những kiến thức
đó chưa đủ để các em có thể tự tin mà có những ứng xử và hành động đúng
trong tất cả các trường hợp cụ thể. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, bản thân
các em đã thể hiện sự quan tâm và mong muốn được học tập, được hiểu biết
nhiều hơn nữa những nội dung của lĩnh vực SKSSVTN. Điều này hết sức cần
thiết và bổ ích rất nhiều cho các em trong cuộc sống hiện tại và tương lai
[30,tr.46].
Tình hình thực hiện chiến lược dân số Việt Nam và chiến lược Quốc gia
về sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001- 2010 nêu rõ: “Tạo sự chuyển đổi hành vi
bền vững về dân số, SKSS, kế hoạch hóa gia đình trên cơ sở cung cấp đầy đủ,
chính xác thông tin với nội dung và hình thức phù hợp với từng vùng, từng khu

nay” (1997) của tác giả Phạm Thị Kim Xuyến đã chỉ ra được thực trạng nhận
thức của các em học sinh THPT về giáo dục giới tính cũng như tình trạng dạy
và học giáo dục giới tính hiện nay. “Tìm hiểu nhận thức và hành vi chăm sóc
SKSS của VTN Việt Nam hiện nay” (2002) của tác giả Bùi Thu Hương. “Vai
trò của cha mẹ trong việc Giáo dục SKSS VTN trong các gia đình công nhân
viên chức ở thị xã Tam Điệp, Ninh Bình hiện nay” (2005) của tác giả Nguyễn
Thanh Hương. “Nhu cầu SKSSVTN tại các trường trung học cơ sở trên địa
bàn Quận Tây Hồ” (2007) của tác giả Trương Thị Kim Hoa. Trong luận văn
của mình, thạc sĩ Nguyễn Thị Phương Dung cũng đã đưa ra những nhận định
rõ nét“Nhận thức về SKSS của học sinh” (2008) khi tiến hành nghiên cứu
trường hợp Quận Hoàng Mai nhằm trả lời cho câu hỏi về kiến thức hiểu biết,
tâm thế hành vi và xu hướng biến đổi nhận thức về SKSS của học sinh THPT
quận Hoàng Mai. “Thực trạng nhận thức hành vi về tình dục và các biện pháp
tránh thai của sinh viên các trường Đại học ở Việt Nam hiện nay”(2009) của
tác giả Trương Thị Thúy Hạnh. Công trình này đã đóng góp một cái nhìn toàn

17


cảnh về thực trạng nhận thức của sinh viên các trường Đại học ở Việt Nam về
hành vi tình dục và các biện pháp tránh thai[ 22,tr.7].
Nhìn chung các đề tài nghiên cứu thường tập trung đi sâu vào tìm hiểu
thực trạng hiểu biết về SKSS và thái độ hành vi của thanh thiếu niên về các
kiến thức sức khỏe sinh sản tại các Thành phố lớn, các trường học THCS,
THPT. Những thống kê nêu trên cho thấy vấn đề giáo dục chăm sóc sức khỏe
sinh sản đóng vai trò rất quan trong trong mục tiêu phát triển con người Việt
Nam, mà tập trung vào thế hệ trẻ, tương lai của đất nước. Trên cơ sở những
nền tảng của nghiên cứu đi trước, tác giả tiếp tục phát triển đề tài: “Nhu cầu
đối với hoạt động công tác xã hội trong việc nâng cao kiến thức chăm sóc sức
khỏe sinh sản vị thành niên ở nông thôn. (Nghiên cứu trường hợp xã Lam

+ Nhu cầu xã hội: Nhu cầu được yêu thương, nhu cầu lệ thuộc, mong
muốn có quan hệ với người khác, sự quan tâm, sự phối hợp hoạt động...
+ Nhu cầu được kính trọng về các giá trị bản thân, sự độc lập, sự công
nhận thành quả và tôn trọng từ người khác...
+ Nhu cầu tự khẳng định mình: phát triển nhân cách, tự hoàn thiện,
phát huy những tiềm năng của mình...
Theo A. Maslow, nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự phân cấp các mức
độ quan trọng với nguyên tắc nhu cầu ở cấp độ nào thấp hơn phải được thỏa
mãn thì mới nảy sinh các nhu cầu cao hơn. Tuy nhiên, không nhất thiết phải
thoả mãn hoàn toàn một nhu cầu nào đó như quan điểm của A. Maslow mà
chỉ cần thoả mãn một phần nhu cầu cấp dưới nào đó con nguời đã muốn thực
hiện nhu cầu cấp cao hơn. Tóm lại, việc sắp xếp thứ bậc các nhu cầu như trên
chỉ mang tính tương đối. Tuy nhiên, việc vận dụng thang nhu cầu của A.
Maslow vào việc nghiên cứu nhu cầu giáo dục SKSSVTN của vị thành niên
hiện nay có một ý nghĩa đáng kể, bởi việc biết rõ vị thành niên đang ở bậc
thang nhu cầu nào, các hoạt động chăm sóc SKSSVTN sẽ có thể hướng tới

19


việc thoả mãn nhu cầu đó. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhu cầu nâng
cao kiến thức chăm sóc SKSSVTN của được giới hạn ở ba nội dung: nhu cầu
được tiếp nhận các kênh thông tin có liên quan đến SKSSVTN, nhu cầu về
các nội dung kiến thức SKSSVTN, nhu cầu về sự hỗ trợ của xã hội.
1.2.2. Khái niệm “sức khoẻ sinh sản”
Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh hoàn toàn hài hòa về mặt xã
hội, tinh thần và thể chất trong tất cả những vấn đề có liên quan đến hệ thống
sinh sản, chức năng và quá trình hoạt động của nó. Nó có nghĩa là con người có
khả năng sinh sản và được tự do quyết định có hay không, khi nào, bao lâu và
như thế nào trong việc này. Điều này cũng có ý nghĩa là quyền của phụ nữ và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status