ĐỘNG VẬT NGUYÊN SINH - TÀI LIỆU THAM KHẢO - Pdf 43

A – ĐỘNG VẬT NGUYÊN SINH – THẾ GIỚI ĐỘNG VẬT ĐƠN BÀO :
1) Giới thiệu :
Cũng là tế bào nhân chuẩn , cấu tạo và hoạt động cảu tế bào động vật
nguyên sinh không khác gì tế bào của sinh vật đa bào. Nhưng chính tế bào này
là một cơ thể độc lập là tế bào biệt hóa đa năng , đảm nhận mọi chức năng
sống của một cơ thể độc lập , các phần cơ thể phân hóa phức tạp thành các
cơ quan tử để thực hiện các chức phận sống khác nhau .
Vd : một số cơ quan tử không có ở tế bào của động vật đa bào như bào chích ,
không bào co bóp….
Động vật nguyên sinh cũng có các nhóm cấu tạo bao gồm nhiều cá thể ( tập
đoàn ) có mối lien hệ nhiều hay ít .
2) Nguồn gốc:
Ngoài các ngành đã nêu trên, trong động vật nguyên sinh có 3 ngành
khác là Trùng mê lộ, Trùng bào tử gai, Trùng vi bào tử.
Trùng mê lộ (Labyrinthomorpha), tồn tại dưới dạng các đám tế bào riêng
rẽ,di chuyển trong một mạng chất nhầy trên cỏ biển hoặc tảo biển. Cơ thể
không có lông bơi, roi bơi hoặc chân giả, nhưng giao tử hình thành trong sinh
sản hữu tính có roi bơi. Hiện nay có khoảng 40 loài, kể cả số ít loài gặp ở nước
ngọt và đất ẩm.
Trùng bào tử gai (Cnidosporia) kí sinh trong mô và trong xoang cơ thể của
cá và gây hại đáng kể cho nghề nuôi cá. Bào tử gồm nhiều tế bào, có vỏ, tế
bào gai và tế bào mầm dạng amíp.
Trùng vi bào tử (Microsporia) kí sinh trong tế bào của một số chân khớp
và một số ít cá. Bào tử chỉ là một tế bào. Trong lớp này có Nosema bombycis
gây bệnh tằm gai và N.apis gây bệnh ỉa chảy ở ong, gặp phổ biến và gây hại
trầm trọng cho nghề nuôi tằm và nghề nuôi ong.
Trong phạm vi của động vật nguyên sinh Trùng roi và Trùng chân giả gần
nhau. Điều này chứng minh bằng sự xuất hiện roi trong vòng đời của một số
trùng chân giả, sự hình thành roi bơi khi điều kiện sống khó khăn ở Naegleria
gruberi và Mastigamoeba vừa có roi vừa có chân giả. Vì lẽ đó 2 nhóm này hiện
nay xếp chung trong một ngành. Trùng lông bơi đã sớm tách ra theo một

chia 6 lớp: Trùng chân giả (Sarcodina), Trùng roi (Flagellata), Trùng bào tử
(Sporozoa), Trùng bào tử gai (Cnidospoeridia), Trùng vi bào tử
(Microsporidia), Trùng cỏ (Infusoria).
 Cơ thể của động vật nguyên sinh là tế bào đa năng đảm nhận đầy đủ các
hoạt động sống của một cơ thể độc lập. Tế bào của động vật nguyên sinh
do đó, có thể có cấu trúc phức tạp và có biểu hiện đa dạng rộng tùy theo
cách sống của từng nhóm. Thậm chí trong cơ thể có thể có 2 hay nhiều
nhân hoặc có nhiều cá thể gắn với nhau tạo thành tập đoàn.
 Động vật nguyên sinh có khả năng kết bào xác để chống chọi với điều kiện
sống bất lợi .Bào xác dễ phát tán nhờ nước hay nhờ gió. Do đó động vật
nguyên sinh có nhiều loài phân bố rộng.
 Tuy nhỏ bé (thường tính bằng micromet) nhưng do sinh sản nhanh nên số
lượng cá thể của từng loài thường rất lớn, đặc biệt khi gặp điều kiện sống
thích hợp và ổn định.
 Động vật nguyên sinh thường sinh sản bằng cách phân đôi, phân cắt nhiều
lần; sinh sản hữu tính bằng tiếp hợp, có hiện tượng xen kẽ thế hệ ở một số
loài.
 Động vật nguyên sinh có vai trò rất quan trọng đối với người, vật nuôi, cây
trồng. Nhiều loài động vật nguyên sinh là mắt xích quan trọng trong các hệ
sinh thái hoặc là thủ phạm gây bệnh nguy hiểm cho người và gia súc như:
sốt rét, bệnh ngủ Châu Phi, bệnh lị amip.
a) Cơ quan tử chuyển vận :
 Chân giả :
Chân giả thùy : Trùng đồng tiền Arcella
Chân giả mạng : Trùng Lỗ
Chân giả sợi: Amip có vỏ Euglypha
Chân giả trục : Trùng mặt trời Actinosphaerium
Giả thuyết cơ chế hình thành chân giả :
Sự chuyển đổi qua lại giữa hai trạng thái sol & gel của tế bào chất . Tác nhân
kích thích lên màng tế bào , gây hóa mỏng vùng ngoại chất đó , do sức ép của

bào (Phagocytosis) hay ẩm bào(pinocytosis).
Các phân tử thức ăn hòa tan cũng có thể phát tán hoặc xâm nhập chủ
động qua màng của tế bào (osmotroph). Mỗi loài động vật nguyên sinh khác
nhau thì có các cách dinh dưỡng khác nhau, nhưng có không ít loài thay đổi
cách dinh dưỡng để phù hợp với điều kiện môi trường.
Ví dụ: Trùng roi Euglena viridis bình thường là loài quang dưỡng nhưng
sống lâu trong bóng tối thì chúng sẽ chuyển sang dị dưỡng.
Tiêu hóa ở động vật nguyên sinh tiến hành bên trong tế bào nhờ các
không bào tiêu hóa. Chúng là những túi chứa thức ăn có màng bao quanh.
Không bào tiêu hóa di chuyển trong tế bào chất, enzym từ lysoxom chuyển vào
trong không bào để biến đổi thức ăn. Các sản phẩm sau đó được hấp thụ vào
tế bào chất, không bào tiêu hóa bé dần và cuối cùng chứa đầy chất bã. Chúng
được tống ra ngoài khi của không bào tiếp xúc với màng của tế bào. Điều đáng
lưu ý là trong quá trình tiêu hóa, môi trường của không bào co bóp chuyển từ
môi trường axit sang kiềm.
Do cấu tạo cơ thể khác nhau nên ở động vật nguyên sinh vị trí lấy thức ăn
và thải chất bã cũng khác nhau:
Trong thực bào, amíp có thể lấy thức ăn và thải bã ở bất kì chỗ nào trên bề
mặt của cơ thể.
Trùng roi có nơi lấy thức ăn cố định ở gốc roi.
Phần lớn là dị dưỡng , tiêu hóa của Động vật nguyên sinh tiến hành trong tế
bào nhờ không bào tiêu hóa Trùng giầy có vị trí ổn định của cả nơi lấy thức
ăn (bào khẩu) và nơi thải bã (giang bào): Cách tiếp cận thức ăn cũng rất đa
dạng: hoặc gặp trên đường đi (amip trần và amíp có vỏ) hoặc dùng lông bơi
hay roi bơi cuốn thức ăn về phía mình hoặc tới bào khẩu(trùng giầy, trùng
roi xanh, trùng roi cổ áo). Động vật nguyên sinh cộng sinh hoặc kí sinh sống
trong môi trường giàu thức ăn, thức ăn hoặc xâm nhập qua thành cơ
thể(Trùng roi máu Trypanosoma), hoặc nhờ chân giả đưa vào cơ thể(trùng
roi cộng sinh Leidyopsis). Trùng ống hút chủ động săn mồi bằng ống hút.
_ Cách bắt mồi :

bình thường con vật thoát khỏi bào xác(excystement) và hoạt động trở lại.
B – ĐA DẠNG TRONG HỆ THỐNG ĐỘNG VẬT NGUYÊN SINH :
Chân giả : Roi bơi : Bào tử : Lông bơi:
Trùng chân giả ĐV cổ Trùng bào tử Trùng lông
Trùng lỗ Trùng roi ĐV Trùng bào tử gai bơi
Trùng phóng xạ Trùng roi giáp Trùng vi bào từ gai
Trùng mặt trời
I. Động vật nguyên sinh có chân giả :
1. Ngành trùng chân giả :( Amoebozoa)
- Ngày nay đã biết khoảng 10.000 loài đang sống, trong số đó có 80% số
lượng loài sống ở biển, còn lại là sống trong nước ngọt, đất ẩm hay sống ký
sinh. Nghành này chỉ có 1 lớp trùng chân giả (Sarcodina).
- Trong số động vật thuộc nghành trùng chân giả thì amip có cấu tạo đơn
giản nhất, có kích thước khá lớn (0.5 mm) và không có vỏ bao bọc nên dễ
quan sát. Chúng có khả năng hình thành chân giả để di chuyển và bắt mồi.
Chân giả được hình thành liên quan đến sự có mặt của 2 loại protein là actin
và myosin giữ vai trò quan trọng trong hoạt động cơ của động vật đa bào và sự
chuyển đổi qua lại giữa hai trạng thái sol và gel của tế bào chất của amip.
- Sinh sản:
• Sinh sản vô tính: Bằng cách chia đôi cơ thể ban đầu thành 2 cơ thể mới.
Đối với Trùng chân giả có vỏ sẽ hình thành vỏ mới cho cá thể mới. Tốc
độ sinh sản vô tính phụ thuộc vào điều kiện môi trường mà chủ yếu là
thức ăn.
• Sinh sản hữu tính: Chỉ xảy ra ở một số ít loài, đó là sự kết hợp của hai tế
bào sinh dục hay của 2 nhân sinh sản. Một số động vật nguyên sinh
thuộc loài Amip Amoeba diploidea có kiểu sinh sản này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status