ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------
LÊ DIỆU THÙY
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP QUẢN LÝ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội, 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------
LÊ DIỆU THÙY
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP QUẢN LÝ
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.3. Tổng quan địa bàn nghiên cứu ........................................................................... 13
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 23
2.1. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................... 23
2.2. Nội dung và phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 23
2.3. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................... 23
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................. 28
3.1. Đánh giá hiện trạng môi trường đất nông nghiệp huyện Quỳnh Nhai ............... 28
3.1.1. Kết quả phân tích các nguyên tố dinh dưỡng .................................................. 29
3.1.2. Kết quả phân tích hàm lượng các nguyên tố kim loại nặng ............................ 38
3.1.3. Kết quả phân tích hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất ................... 40
3.2. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp .................................................................. 41
3.2.1. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ..................................................................... 42
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ............................................................... 42
3.2.3. Biến động sử dụng đất nông nghiệp................................................................ 44
3.3. Đề xuất phương án quản lý và sử dụng đất có hiệu quả bền vững tại huyện
Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La .......................................................................................... 46
3.3.1. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của viêc đề xuất sử dụng bền vững đất
nông nghiệp ............................................................................................................... 46
3.3.2. Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững.................................................... 53
3.3.3. Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên đất nông
nghiệp ........................................................................................................................ 58
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ........................................................................................ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 65
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Các loại hình sử dụng đất chính trong nông lâm nghiệp ............................5
Bảng 1.2. Dân số các dân tộc huyện Quỳnh Nhai (thời điểm 31/12/2015) ..............16
Bảng 3.1. Phân loại đất huyện Quỳnh Nhai theo loại đất .........................................28
Bảng 3.2. Kết quả phân tích phẫu diện QN01 ..........................................................30
Đơn vị đất đai
ĐGĐĐ
Đánh giá đất đai
LHSDĐ
Loại hình sử dụng đất
FAO
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TĐC
Tái định cư
TNNH
Thổ nhưỡng Nông hóa
MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên hạn chế, hiện tại cũng như trong tương lai, diện tích đất
1.1.1. Các khái niệm liên quan
a. Khái niệm về đất đai
Đất (soil): là vật thể tự nhiên đặc biệt hình thành do tác động tổng hợp của các
yếu tố sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình, thời gian và tác động của con người.
Đất đai (Land): một vùng đất xác định về mặt địa lý, là một thuộc tính tương
đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển
bên trên, bên trong và bên dưới nó như: không khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn,
thực vật và động vật cư trú, những hoạt động trước đây của con người, ở chừng
mực nào đó mà thuộc tính này có ý nghĩa tới việc sử dụng vùng đất của con người
hiện tại và trong tương lai.
Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit –LMU): là một vùng đất đai với
các tính chất riêng biệt được xác định trên bản đồ.
Đặc trừng đất đai (Land Quanlity - LQ): Là thuộc tính của đất có ảnh hưởng
tới tính bền vững đất đai cho một loại sử dụng cụ thể.
Loại hình sử dụng đất đai chính (Major type of land use): là một sự phân
chia chủ yếu đối với sử dụng đất ở nông thôn. Thí dụ như nông nghiệp nhờ nước,
nông nghiệp tưới, đồng cỏ, rừng cây trồng hàng năm, cây trồng lâu năm, chuyên
trồng lúa,…
Loại hình sử dụng đất đai (Land Uniliztion Type _ LUT): Một kiểu sử dụng
đất đai cụ thể được miêu tả và xác định theo mức độ chi tiết từ các loại hình sử
dụng đất chính.
Hệ thống sử dụng đất đai (Land Use System – LUS): là một tổ hợp của các
loại sử dụng đất và đơn vị đất đai LUS=LUT+LMU
Yêu cầu sử dụng đất đai (Land Use Requirement – LUR): Yêu cầu sử dụng
đất đai được định nghĩa như là những điều kiện cần thiết để thực hiện thành công và
bền vững một loại hình sử dụng đất. Những yêu cầu sử dụng đất đai thường được
xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu. [11]
b. Khái niệm về đất nông nghiệp
2
vào đất đai và thông qua đất đai. Đất đai sử dụng trong nông nghiệp được gọi là
ruộng đất.
3
Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt khổng thế
thay thế được. Ruộng đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. [7]
c. Khái niệm về loại hình sử dụng đất
Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng
đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế-xã hội và
kỹ thuật được xác định.
Những loại hình sử dụng đất có thể hiểu nghĩa rộng là các loại hình sử dụng
đất chính (Major type of land use) hoặc có thể mô tả chi tiết hơn với khái niệm là
các loại hình sử dụng đất (Land use type).
Loại hình sử dụng đất chính: Là sự phân chia việc sử dụng đất trong khu vực
hoặc vùng nông lâm nghiệp, chủ yếu dựa trên cơ sở các phương thức:
- Sử dụng đất nhờ nước trời
- Sử dụng đất nhờ nước tưới
- Trồng rừng
- Chăn nuôi gia súc kết hợp với các thuộc tính chính của yếu tố tự nhiên và
sinh học, và phân chia sử dụng đất nông nghiệp ra thành các cây lâu năm, cây hàng
năm; lâm nghiệp; đồng cỏ.
Theo FAO thì loại sử dụng đất chính thường áp dụng cho việc điều tra mang
tính tổng hợp, thể hiện trên các tỷ lệ bản đồ nhỏ, trên thực tế việc xác định các loại
hình sử dụng đất chính không trả lời được những vấn đề thực tiễn trong sản xuất ở
các quy mô nhỏ, cấp trang trại, cấp xã.
Các loại hình sử dụng chính không xác định được những loại cây trồng cụ thể,
điều này rất quan trọng vì mỗi loại cây trồng sẽ có những yêu cầu về đất đai khác
nhau.
Các cây trồng cần tưới
Trồng cỏ đại trà
Trồng cỏ thâm canh
Rừng thương mại
Rừng công cộng
Rừng bảo vệ môi trường
Rừng giải trí
Du lịch
Bảo vệ động vật hoang dã
Bảo vệ nước
Xây dựng đường sá
Canh tác nhờ nước mưa
Canh tác có tưới
Chăn thả
Lâm nghiệp
Những loại sử dụng đất khác
Nguồn: [14]
Để trả lời được những vấn đề trên, cần phải có những mô tả chi tiết hơn trong
việc sử dụng đất, vì vậy khái niệm “loại hình sử dụng đất - LUT” được xác định
trong đánh giá đất.
- Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT):
Là loại hình đã được phân chia nhỏ riêng biệt từ các loại hình sử dụng đất
chính. Nó là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả chi tiết và rõ ràng theo
các thuộc tính nhất định như: thuộc tính sinh học, quy trình sản xuất, đặc tính về
quản lý đất đai (sức kéo trong làm đất, đầu tư vật tư kỹ thuật) và các đặc tính về
kinh tế, kỹ thuật, xã hội (định hướng thị trường, vốn đầu tư, thâm canh, lao động,
vấn đề sở hữu đất đai).
a. Trên thế giới
Có thể nói ràng thuật ngữ đánh giá đất đai (ĐGĐĐ) được sử dụng từ năm
1950 tại Hội nghị các nhà khoa học đất thế giới ở Amsterdam (Hà Lan). Năm 1968,
tại hội nghị chuyên đề về đánh giá đất đai tại Canbera, khái niệm đánh giá đất đai
được đưa ra tương tự như định nghĩa của Stewart (1968) như sau: Đánh giá đất đai
là “Sự đánh giá khả năng thích hợp của đất đai cho việc sử dụng của con người vào
nông nghiệp, lâm nghiệp, thiết kế thủy lợi, quy hoạch sử dụng đất đai...”. Hay nói
cách khác đi là “Đánh giá đất đai nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin về thuận
lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất đai, làm căn cứ cho việc đưa ra những quyết
định cho sử dụng và quản lý đất đai”. [6]
Năm 1976 FAO đã đề xuất định nghĩa về: ĐVĐĐ là quá trình so sánh, đối
chiếu những tính chất vốn có của vạt, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất
đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có.
6
Theo FAO, mục tiêu chính của đánh giá đất đai là đánh giá khả năng thích hợp
(Suitability) các dạng đất khác nhau đối với các loại hình sử dụng đất riêng biệt đã
lựa chọn. Các dạng đất đai thường được mô tả và phân lập thành các đơn vị trên bản
đồ, được gọi là đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit).
Như vậy, trong đánh giá phân hạng đất đai người ta yêu cầu phải có hai nguồn
thông tin: Những kết quả của công tác điều tra khảo sát đất đai xác định theo hệ
thống phân loại đất và những khoanh đất, từ đó xác định được đặc tính, tính chất
vốn có của từng khoanh đất. Còn qua việc đề xuất những loại hình sử dụng đất,
người ta sẽ nêu được đặc tính, tính chất đất đai hoạt động có kết quả. Đánh giá đất
đai được tiến hành xem xét trên phạm vi rất rộng, bao hàm cả không gian, điều kiện
tự nhiên - kinh tể, xã hội và môi trường. Những đặc điểm của đất đai sử dụng trong
đánh giá đất đai là những tính chất mà ta có thể đo lường hay ước lượng được
những thuận lợi khó khăn, đề xuất được những giải pháp phù hợp nhằm sử dụng đất
Đặc điểm đất đai được sử dụng trong đánh giá phân hạng đất của FAO là
những tính chất của đất đai mà có thể đo lường hoặc ước lượng được. Người ta có
thể chọn nhiều đặc điểm hoặc đôi khi chỉ có thể lựa chọn một số đặc điểm đất đai
chính có vai trò tác động trực tiếp và có ý nghĩa đối với mục đích hay vùng nghiên
cứu. Trong đánh giá, yếu tố thổ nhưỡng là phần đặc biệt quan trọng, song các lưu
vực tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng phải được xác định trong đánh giá.
Có thể nói, đánh giá đất đai của FAO đã kết hợp và kế thừa giữa các phương
pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ) (thiên về yếu tố chất lượng đất) và của Hoa Kỳ
(thiên về yêu cầu của cây trồng), trên cơ sở đó phát triển, hoàn chỉnh và đưa ra
phuơng pháp đánh giá thích hợp cho từng mục đích sử dụng đất đai.
Phương pháp của FAO đề ra 6 nguyên tắc cơ bản trong việc đánh giá đất là
(FAO,1990):
Các loại hình sử dụng đất đai được lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu phát
triển vùng hay quốc gia, cũng như phải phù hợp với bối cảnh và đặc điểm về tự
nhiên, kinh tế - xã hội cùa khu vực nghiên cứu.
Các loại sử dụng đất cần được mô tả và định rõ các thuộc tính về kỹ thuật và
kinh tế - xã hội.
Việc đánh giá đất bao gồm sự so sánh của hai hay nhiều loại hình sử dụng đất.
Khả năng thích hợp của đất đai cần đặt trên cơ sở sử dụng đất bền vững.
Đánh giá khả năng thích hợp của đất bao gồm cả sự so sánh về năng suất (lợi
ích) thu được và đầu tư (chi phí) cần thiết của loại hình sử dụng đất.
Đánh giá đất đai đòi hỏi một số phương pháp tổng hợp đa ngành.
8
b. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam phân hạng đánh giá đất đai đã có từ lâu, phân hạng điền thu thuế
là một trong những phương pháp được thực hiện đầu tiên và đã đưa ra khái niệm
phân hạng ruộng tốt, ruộng xấu (nhất đẳng điền, nhị đẳng điền,...) nhưng chưa xác
Từ năm 1992, phương pháp đánh giá đất của FAO và các hướng dẫn tiếp theo
(1983, 1985, 1987, 1992) được Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp áp dụng
rộng rãi trong các dự án quy hoạch phát triển. Nhìn chung, trong nhiều công trình,
căn cứ để xác định phân hạng đất đai thường gồm 5 yếu tố: chất đất, vị trí, địa hình,
điều kiện thời tiết khí hậu, điều kiện tưới tiêu, về mặt kỹ thuật, đánh giá đất ở Việt
Nam chủ yếu sử dụng các tính chất đất đai để xây dựng đơn vị đất (Land units) và
phổ biến sử dụng phương pháp hạn chế nhiều nhất (Maximum limiting method) để
phân cấp thích hợp. [4]
Nhận xét:
Về mặt kỹ thuật, đánh giá đất ở Việt Nam chủ yếu sử dụng các tính chất đất
đai để xây dựng đơn vị đất (land units) và phổ biến sử dụng phương pháp hạn chế
nhiều nhất (maximum limiting method) để phân cấp thích hợp.
Trước đây, để thực hiện đánh giá đất đai thường tiến hành lựa chọn các chỉ
tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đất đai trước khi xây dựng yêu cầu sử dụng đất. Vì
vậy, xảy ra hiện tượng là có một số chỉ tiêu mà đơn vị đất đai có thì trong yêu cầu
sử dụng đất của cây trồng lại không cần mà ngược lại có một số chỉ tiêu mà cây
trồng cần thì trên bản đồ đơn vị đất đai lại không thể hiện hoặc có nhưng không có
ý nghĩa trong việc đánh giá thích nghi. Để tránh có sự sai lệch như trên, đề tài tiến
hành xây dựng yêu cầu sử dụng đất đối với cây trồng dựa vào các tài liệu hiện có.
Do kỹ thuật GIS ngày càng được nâng cao và phần mềm sử dụng cũng rất đa
dạng nên việc áp dụng cũng rất phong phú. Luận văn đã sử dụng bộ phần mềm
ARCGIS 10.2. để chồng xếp và xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, sử dụng phần mềm
EXCEL để xử lý cơ sở dữ liệu. Đây cũng là phương pháp hiện đại được sử dụng
trong luận văn này.
c. Tại tỉnh Sơn La
Cho đến nay tỉnh Sơn La đã có một số đợt điều tra khảo sát xây dựng bản đồ
đất vào các thời kỳ khác nhau, nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của
tỉnh như sau:
Năm 1960 bản đồ đất tỉnh Sơn La được thành lập ở tỷ lệ 1/100.000. Bản đồ
sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai. Trên cơ sở tài liệu đã có cùng với việc tiến hành
công tác điều tra bổ sung, tỉnh Sơn La có đủ điều kiện để hoàn thiện xây dựng bản
đồ Thổ nhưỡng chính thức với tỷ lệ 1/100.000, nhằm đảm bảo tính đồng bộ cũng
như chất lượng lâu dài của tài liệu về tài nguyên đất, nội dung khái quát thực hiện
như sau:
+ Chuyển đổi tên đất theo hệ thống phân loại mới của FAO-UNESCO.
11
+ Chỉnh lý ranh giới đất và quy mô diện tích khoanh đất.
+ Bổ sung và tổng hợp địa hình tương đối (theo thang 5 cấp) đối với các loại
đất vùng đồng bằng thung lũng.
+ Bổ sung độ dày tầng đất mịn theo thang 5 cấp. Chỉnh lý, bổ sung độ dốc địa
hình (đối với các loại đất phân bố ở địa hình đồi núi theo thang 8 cấp thay vì 6 cấp
trước đây) bằng phần mềm 3D ANALYSIS.
Giai đoạn 2012-2014 trong khuôn khổ Đề tài độc lập cấp nhà nước: “Nghiên
cứu nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp vùng miền núi Tây Bắc
Việt Nam” Mã số: ĐTĐL.2011-G/64 do Viện Thổ nhưỡng Nông Hóa Thực hiện.
Đề tài đã cập nhật chỉnh lý và phân tích bổ sung phẫu diện đất, cập nhật những biến
động về hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, phi nông nghiệp. Đề tài sử dụng các
phương pháp lấy mẫu đất, phân loại đất, xây dựng bản đồ đất mới nhất hiện nay:
+ Lấy mẫu đất: Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 9487:2012).
+ Phân tích mẫu đất: Mẫu đất được phân tích các chỉ tiêu theo các Tiêu chuẩn
Việt Nam (TCVN) và của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (TNNH).
+ Phương pháp phân loại đất: Áp dụng hệ phân loại đất của FAO-ISRIC-IUSS
3 theo hướng dẫn năm 2006 World reference base for soil resources 2006
+ Phương pháp xây dựng bản đồ đất: Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN
9487:2012).
1.2. Nhận xét các kết quả nghiên cứu đã có
xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (phía Nam).
Huyện có 11 đơn vị hành chính gồm các xã: Mường Giảng, Chiềng Bằng,
Chiềng Khoang, Mường Sại, Nậm Ét, Chiềng Ơn, Pá Ma Pha Kinh, Mường Chiên,
Cà Nàng, Mường Giôn, Chiềng Khay. Trong đó Phiêng Lanh thuộc Xã Mường
Giảng là trung tâm hành chính mới của huyện Quỳnh Nhai.
Địa hình Quỳnh Nhai phức tạp và bị chia cắt nhiều diện tích đất có độ cao trên
16o chiếm 89,2% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Có 3 dãy núi chính chạy qua
theo hướng Tây Bắc – Đông Nam gần song song với sông Đà. Xen giữa các dãy núi
lầ những đồi thấp và phiêng bãi nhỏ, các sườn núi thấp dần về phía sông Đà tạo nên
hai tiểu vùng rõ rệt: tiểu vùng cao gồm hai xã Mường Giôn và Chiềng Khay có độ
cao trung bình 800m – 900m so với mặt nước biển, đỉnh núi cao nhất là đỉnh Khau
Pùm cao 1.823m, vùng này thích hợp để trồng rừng, trồng cây lâu năm và chăn nuôi
đại gia súc. Tiểu vùng thấp gồm bốn xã: Cà Nàng, Mường Chiên, Pá Ma Pha
Khing, Chiềng Ơn nằm dọc hai bên bờ sông Đà, có độ cao trung bình 150m – 200m
13
so với mặt nước biển, vùng này thích hợp cho gieo trồng các loại cây lương thực
cây ăn quả, cây lâu năm và nuôi trồng thủy sản.
b. Khí hậu
Khí hậu Quỳnh Nhai có hai tiểu vùng khác nhau:
- Tiểu vùng cao mang đặc trưng khí hậu á nhiệt đới, thời tiết mát và thường có
sương muối vào tháng giêng, tháng hai;
- Tiểu vùng thấp (các xã dọc sông Đà) mang khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa
nhiều.
Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 1.720mm, tập trung từ tháng 4
đến tháng 9, chiếm 84,8% tổng lượng mưa cả năm, đây cũng là thời điểm thường có
gió Lào, gió xoáy, giông bão. Từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau là mùa
khô, lượng mưa chỉ chiếm 15,2% tổng lượng mưa cả năm. Nhiệt độ trung bình
và lưu lượng nước giữa hai mùa chênh lệch lớn.
Hiện trạng nguồn nước cung cấp trong sinh hoạt, sản xuất:
- Nguồn nước mặt: Được cung cấp bởi hệ thống sông suối, bao gồm: hồ thủy
điện, suối Cà Nàng, Mương Chiên, Pắc Ma, Mường Giôn, Suối Muổi… suối Nậm
Pàn, suối Nậm Giôn, Nậm Mu, Nậm Trai, Nậm Păm, Nậm Chiến, Nậm Pia… ngoài
ra còn một lượng lớn lấy từ ao, hồ. Tuy nhiên mặt nước sông, suối đều thấp hơn mặt
bằng đất canh tác và khu dân cư nên hạn chế đáng kể đến khả năng khai thác sử dụng
vào sản xuất và đời sống.
- Nguồn nước ngầm: Tuy chưa có kết quả điều tra khảo sát chính thức nhưng
thực tế cho thấy hệ thống nước ngầm phân bố không đều, mực nước thấp, khai thác
khó khăn.
Huyện có hồ thủy điện Sơn La được hình thành trong quá trình khởi công xây
dựng nhà máy thủy điện. Khu vực lòng hồ thủy điện Sơn La được chính quyền địa
phương khai thác, tận dụng lòng hồ, kết hợp với danh lam thắng cảnh ven hồ vừa
đầu tư, vừa khuyến khích các hộ dân, các doanh nghiệp và các hợp tác xã thành lập
trang trại nuôi trồng thủy sản, kết hợp phát triển du lịch lòng hồ. Qua đó giới thiệu,
quảng bá nền văn hóa, truyền thống của nhân dân các dân tộc huyện Quỳnh Nhai với
bạn bè gần xa.
Tại một số các vùng nhân dân còn tận dụng nguồn nước ngầm phục vụ cho
sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên do số lượng, hệ thống sông suối tương đối phong
phú, lượng nước dồi dào nên việc khai thác, tận dụng nguồn nước ngầm phục vụ
cho nhu cầu sinh hoạt tại huyện còn hạn chế, chưa được chú ý khai thác.
d. Khoáng sản
15
Quỳnh Nhai có hai mỏ than ở Mường Chiên và Pha Khinh có trữ lượng nhỏ
khoảng 578.000 tấn, chủ yếu là than mỡ. Ngoài ra còn có đá vôi, cát sỏi, vàng sa
khoáng ở sông Đà đang được khai thác để phục vụ cho các ngành kinh tế công,
Kinh
Tày
Nam
1.519
15
Nữ
1.081
9
16
Tổng số
2.600
24
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
1.217
516
2
3
16
2
1
2
1
1.596
714
29.258
Nữ
24.011
20
7
3
1.138
513
14
1
1.661
777
29.235
Tổng số
47.606
nghiệm như sau:
- Cần huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị làm tốt
công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu biết sâu sắc,
gương mẫu thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, chính sách cụ
thể hóa của tỉnh về dự án di chuyển dân tái định cư thủy điện Sơn La.
- Tập trung làm tốt công tác quy hoạch các khu, điểm tái định cư phải đảm bảo
4 yếu tố “có đủ đất sản xuất, có nguồn nước tự chảy, có đủ điều kiện để xây dựng
kết cấu hạ tầng theo quy định và tạo được sự đồng thuận của các hộ dân tái định cư
17
đồng bộ với tiến độ di chuyển dân, đảm bảo khoa học và tính khả thi cao; đồng thời
quan tâm củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, giúp nhân dân ổn định cuộc sống và
sản xuất, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, đảm bảo phương châm “Dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Tăng cường công tác đôn đốc, kiểm tra và chỉ đạo
thường xuyên việc sơ kết rút kinh nghiệm để kịp thời chỉ đạo tháo gỡ những khó
khan, vướng mắc. Đồng thời đề nghị với tỉnh, với Trung ương kịp thời điều chỉnh,
bổ sung các nội dung trong cơ chế, chính sách về công tác di chuyển dân tái định cư
dự án thủy điện Sơn La cho phù hợp với thực tế.
1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
a. Khái quát về kinh tế của huyện
Ngày nay, kinh tế của huyện Quỳnh Nhai có sự chuyển biến rõ rệt và tăng
trưởng khái, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa, phát
huy lợi thế, găn với thị trường. Các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế bước
đầu phát huy tốt nội lực, khai thác phát huy tốt các nguồn lực. Kết cấu hạ tầng phục
vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội được tăng cường đầu tư, phát huy hiệu quả,
tạo điều kiện quan trọng cho giai đoạn tiếp theo.
Tôc độ tăng trưởng bình quân trong 3 năm đều tăng, năm 2012 là 16,9% năm
2015 là 17,6%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng, lâm
Lương thực bình quân đầu người từ 380 kg/người/năm (2011) lên 401,9
kg/ngươi/năm (2013) lên 421 kg/ngươi/năm (2015).
Chương trình phát triển chăn nuôi được quan tâm, phát triển khá toàn diện,
đẩy mạnh phát triển đàn gia súc ăn cỏ như trâu, bò, dê và phát triển nhiều mô hình
chăn nuôi gia cầm, thủy cầm đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong địa bàn huyện.
Ngành chăn nuôi được xác định là chuyển dịch nhanh, nâng cao thu nhập của người
nông dân. Đàn gia súc gia cầm trên địa bàn phát triển kể cả về tăng cơ học (thực
hiện hỗ trợ sản xuất theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ bằng giống
bò cho 5 xã Nậm Ét, Chiềng Khoang, Mường Sại, Chiềng Bằng, 1 bản của xã
Chiềng Ơn). Song do ảnh hưởng của đợt rét đậm rét hại năm 2012 và năm 2015,
nên đến hết năm 2015 toàn huyện đàn trâu có 11.471 con, giảm 30,4% so với năm
2010; đàn bò 12.913 con, tăng 8,5% so với năm 2010, đàn dê 14.234 con giảm
25,1% so với năm 2010; đàn lợn trên 2 tháng tuổi 36.678 con, giảm 2,3% so với
năm 2010; đàn gia cầm 220.300 con, giảm 45,5% so với năm 2010.
c. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiếp tục được đầu tư phát triển khá,
giá trị tăng trưởng bình quân 11,5%/năm (năm 2015 giá trị sản xuất tăng gấp 1,9 lần
so với năm 2010). Các sản phẩm chủ yếu năm 2015: sản xuất gạch nung đạt 1,7
19