Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ pha trộn đến chất lượng ván dăm hỗn hợp vỏ quả cây jatropha và dăm gỗ cao su - Pdf 43

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, nguồn gỗ tự nhiên có tính chất cơ lí cao không còn nhiều.
Trong khi đó, nhu cầu về gỗ cho cuộc sống của con người ngày một gia tăng
cả về số lượng và chất lượng. Vì vậy, gỗ đã trở thành một loại vật liệu đặc
biệt, có giá trị kinh tế cao và đang được sự quan tâm từ các nhà sản xuất, kinh
doanh, quản lí và các nhà khoa học. Một trong những giải pháp được các nhà
khoa học tập trung nghiên cứu là sử dụng gỗ rừng trồng thay thế gỗ rừng tự
nhiên hoặc sử dụng hỗn hợp các loại nguyên liệu (đặc biệt là các phế liệu
nông nghiệp, lâm nghiệp) trong các công nghệ sản xuất các loại ván nhân tạo.
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng, chúng ta đã chuyển hướng mục tiêu từ sử
dụng gỗ rừng tự nhiên và sản phẩm xẻ sang gỗ mọc nhanh rừng trồng và sản
phẩm ván nhân tạo. Trong những năm gần đây, ván dăm đang dần là loại vật
liệu góp phần thay thế gỗ tự nhiên và được sử dụng rộng rãi trong đồ mộc,
trong xây dựng, kiến trúc.
Ở các nước công nghiệp phát triển, người ta đã tạo được các loại ván
dăm không những có những tính chất vật lý, cơ học đặc biệt (cách âm, cách
nhiệt, chịu nước, độ bền cơ học cao…), mà còn có giá cả rẻ, các loại ván dăm
sử dụng hỗn hợp các nguồn phế liệu nông nghiệp, lâm nghiệp.
Ở Việt Nam công nghệ sản xuất ván dăm đã phát triển mạnh từ những
năm 1970. Đến nay, ván dăm là một trong các loại ván nhân tạo được sản
xuất và thị trường tiêu thụ nhiều. Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu cho công
nghệ sản xuất ván nhân tạo của nước ta dần hạn chế do quá nhiều loại hình
ván nhân tạo cần gỗ. Vì vậy, hướng nghiên cứu tìm nguồn nguyên liệu mới
hoặc hỗn hợp giữa dăm gỗ và nguyên liệu khác là cần thiết. Trong các loại
nguyên liệu đó là vỏ quả Jatropha - một loài cây họ thầu dầu đang được người
dân Việt Nam ưa chuộng để làm nguyên liệu sản xuất dầu diesel sinh học,


2

trường. Với ưu thế về giá, ván dăm Việt nam đang tăng dần số lượng tiêu thụ
so với ván nhập ngoại. Hiện nay khoảng trống về thị trường còn rất lớn. Do
đó, các cơ sở ván dăm đang được xây dựng ở nhiều tỉnh của nước ta.
Những cơ sở trên chưa phát huy hết công suất, nhưng đã bắt đầu xuất
hiện các dấu hiệu thiếu nguyên liệu. Điều đó có nghĩa là trong một tương lai
gần các loại gỗ rừng trồng dùng cho sản xuất ván nhân tạo nói chung và ván
dăm nói riêng khó đáp ứng. Lời giải cho bài toán nguyên liệu cần phải tìm ở
một số hướng khác ngoài gỗ, đó là sử dụng phế liệu và thứ liệu nông nghiệp.
Thuật thứ liệu ở đây chúng tôi chỉ các loài nguyên liệu được thu hồi sau khi


4

lấy sản phẩm chủ yếu theo mục tiêu mà người gây trồng đạt ra, thí dụ như cao
su nhựa là chủ yếu, gỗ cao su là thứ yếu, cây bông sợi là chủ yếu còn thân cây
bông là thứ yếu, cây dừa cơm dừa và nước dừa là chủ yếu còn xơ dừa là thứ
yếu, jatrophan hạt là chủ yếu còn vỏ là thứ yếu…..Tóm lại, thứ liệu là nguyên
liệu sau sản phẩm chính song chưa phải là phế liệu.
Các loại nguyên liệu chứa sợi celullose có rất nhiều. Trong lâm nghiệp
như họ tre trúc, cây bụi..., Trong nông nghiệp như bã mía, rơm rạ, vỏ lạc, trấu,
thân, quả các cây họ cây cọ (cau, dừa, thốt nốt, cọ), vỏ jatrophan.… Sử dụng
các dạng phế liệu và thứ liệu này cần được nhìn nhận như một trong hướng đi
mang tính chiến lược của việc tìm nguồn nguyên liệu ngoài gỗ để sản xuất
ván dăm. Bởi vì đa số các loại phế liệu, thứ phế liệu này rẻ tiền, số lượng lớn,
tập trung, ổn định, khả năng tái tạo nhanh, và một số trường hợp chúng có
những ưu điểm không kém gỗ gỗ trong phạm vi sản xuất ván nhân tạo.
1.2. Tình hình nghiên cứu
1.2.1. Trên thế giới
Ván dăm là loại ván nhân tạo được tạo thành nhờ ép dăm lại với nhau
nhờ keo trong điều kiện áp suất, nhiệt độ nhất định.

cần giữ thích hợp để vỏ không bị quá giòn. Tỷ lệ keo tương đương sản xuất
ván dăm gỗ.
Ván dăm từ trấu: Được các nước Hàn quốc, Ấn độ, Thái lan, Trung
quốc nghiên cứu.
Năm 1970 tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc đã tổ chức
Hội nghị về công nghệ sản xuất ván nhân tạo từ nguyên liệu phi gỗ đầu tiên
trên thế giới. Từ đó về sau trên thế giới đã hình thành rất nhiều xưởng sản
xuất ván dăm, ván sợi cứng, ván MDF, vật liêu composite từ phế liệu nông
nghiệp, đặc biệt từ rơm rạ và thân cây lúa mạch.
Tại California, Mỹ, theo nghiên cứu của Kiran L.Kadam và các cộng sự
(2000) rơm rạ có thể được sử dụng để sản xuất giấy. Theo Alex Wilson


6

(1995) nguyên liệu rơm rạ (từ lúa mạch, lúa gạo, lúa mạch đen) có thể là một
loại nguyên liệu mới cho ngành xây dựng như tạo các vách tường trong các
ngôi nhà.
Từ rơm rạ đóng kiện (straw bale), sản xuất ván nhân tạo (vật liệu dạng
tấm) cả loại ván dày và ván mỏng để làm vật liệu xây dựng chịu lực, cách âm,
cách nhiệt. Từ những năm 90, trên thế giới đã bắt đầu hình thành ngành công
nghiệp sản xuất ván dăm rừ rơm. Tuy nhiên, do rơm rạ có đặc điểm là phía vỏ
bên ngoài có lớp sáp (wax) kỵ nước khiến cho việc sử dụng các loại keo gốc
formaldehyde thông dụng trong sản xuất ván dăm trở nên khó khăn do chỉ có
thể sử dụng keo MDI - là loại keo khá đắt, để sản xuất. Ván dăm từ rơm rạ chỉ
thực sự phát triển từ những năm 2000 trở lại đây với giải pháp xử lý rơm rạ
trước khi ép bằng giải pháp hoá-cơ-nhiệt tại một số nước như Mỹ, Úc,
Philippin với sản phẩm chủ yếu sử dụng trong xây dựng. Tuy nhiên, chủ yếu
nguồn rơm rạ mới là lúa mì, lúa mạch, còn nguyên liệu rơm rạ từ lúa gạo rất
hạn chế do sản lượng ít.

vi toàn cầu. Hiện nay nhiều nước trên thế giới đang chạy đua phát triển cây
này, nhất là các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia, Indonexia,
Philippin, Mianma và nhiều nước Châu Phi, nhằm phục vụ nhu cầu năng
lượng tại chỗ và xuất khẩu.
Jatropha vốn dĩ là một cây dại, bán hoang dại mà người dân các nước
trồng chỉ để làm bờ rào và làm thuốc, nhưng với những phát hiện mới của
khoa học, đã cho thấy Jatropha có tiềm lực giá trị cực kỳ to lớn, được đánh
giá rất cao, thậm chí đã có những lời ca ngợi có phần quá đáng. Nhưng dù
sao, Jatropha vẫn là một loại cây hết sức quý giá mà loài người phải quan tâm
khai thác tốt những giá trị sinh học của cây này.
Sau khi ép dầu, bã khô dầu có hàm lượng Nitrơ 4.14-4.78%, P2O5 0.50.66%, CaO 0.60-0.65%, MgO 0.17-0.21% được sử dụng làm phân hữu cơ rất


8

tốt để bón cho các loại cây trồng, nhất là cho vùng sản xuất nông nghiệp hữu
cơ, nông nghiệp sạch, vừa góp phần sản xuất sản phẩm sạch, vừa nâng cao độ
phì của đất.
Trong thành phần hạt Jatropha có độc tố curcin, có thể gây tử vong cho
người và gây hại cho vật nuôi.
Hiện nay, nhu cầu về nhiên liệu tái tạo nói chung và nhiên liệu sinh học nói
riêng ngày càng tăng. Nguồn nhiên liệu hóa thạch đã bước vào thời kỳ cạn
kiệt, dự đoán chỉ còn khai thác được khoảng 40 năm nữa.
Bên cạnh nhu cầu sử dụng nhiên liệu sinh học thì sản phẩm phụ của cây
jatrophan còn trở thành nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp khác đặc
biệt là vỏ jatrophan có thể trở thành nguyên liệu của công nghiệp ván nhân tạo
qua đó nâng cao hiệu ích của việc trồng jatropha cũng như nâng cao đời sống
người dân, mở ra một nguồn nguyên liệu mới.
Khi khẳng định được nhu cầu thị trường, thì thu nhập của nông dân
trồng Jatropha đã trở thành yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của


Lozano (2007)

6.2

Mexico

Heller và cộng sự (1996)

5.0

Nicaragua

Heller và cộng sự (1996)

2.64

Mali

Ishii và Takeuchi (1987)

2.15

Thái Lan

Lanochas (1998)

8.0

Mali


Parsons (2005)
Gay dou và cộng sự (2007)

Cal và Mehera (2006)
Gour (2006)
Eijck và Romigin (2006)

Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon. Cách đây
gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng
để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong
dịp hội hè. Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo Thổ ngữ Mainas nghĩa
là “Nước mắt của cây” (cao là gỗ. Uchouk là chảy ra hay khóc).
Do nhu cầu tăng lên và sự phát minh ra công nghệ lưu hóa năm 1839 đã
dẫn tới sự bùng nổ trong khu vực này, làm giàu cho các thành phố Manaus
(bang Amazonas) và Belém (bang Paras), thuộc Brasil.
Cố gắng thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm
vi Brasil diễn ra vào năm 1873. Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm
tại Vườn thực vật Hoàng gia Kew. Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ
để gieo trồng, nhưng chúng đã bị chết. Cố gắng thứ hai sau đó đã được thực


10

hiện, khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm 1875. Khoảng 4%
hạt giống đã nảy mầm, và vào năm 1876 khoảng 2.000 cây giống đã được gửi
trong các thùng Ward tới Ceylon, và 22 đã được gửi tới các vườn thực vật tại
Singapore. Sau khi đã thiết lập sự có mặt ở ngoài nơi bản địa của nó, cây cao
su đã được nhân giống rộng khắp tại các thuộc địa của Anh. Các cây cao su
đã có mặt tại các vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia năm 1883[1]. Vào năm

Ván sản xuất dăm từ xơ dừa đã được một số nhà khoa học nghiên cứu
từ những năm 1980 và Công ty Chỉ Xơ dừa 25/8 – Bến tre đã sản xuất ván
dăm từ xơ dừa từ những năm 2005.
Năm 1999, Nguyễn Trọng Nhân nghiên cứu sử dụng cọng dừa nước làm
nguyên liệu sản xuất ván dăm. Cọng dừa nước có thể đập thành sợi hoặc chẻ
thành dăm mảnh. Trộn đều dăm với 12% keo U-F.
Ván sản xuất từ phế liệu nông nghiệp gồm thân cây mỳ (sắn); thân cây
ngô; cọng dừa nước, vỏ lạc, vỏ cà phê, thân chuối cũng đã được một số nhà
khoa học nghiên cứu. Kết quả ban đầu cho thấy các hướng nghiên cứu rất khả
quan. Ngoài ra, ván dăm sản xuất từ rơm rạ kết hợp với trấu, mụn chỉ xơ dừa
kết hợp với trấu được Phạm Ngọc Nam, Lâm Trần Vũ nghiên cứu và báo cáo
trong các đề tài cấp bộ.
Vỏ Jatrophan sử dụng để làm nguyên liệu sản xuất ván dăm là một lĩnh
vực khá mới mẻ, từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về tỉ lệ
phố i trộn giữa dăm gỗ và phế liệu nông nghiệp và sản xuất ván dăm .... Như
vậy, nghiên cứu vỏ Jatrophan như một loài nguyên liệu của công nghệ sản
xuất ván nhân tạo và quy trình công nghệ phù hợp với loại nguyên liệu này,
cho đến nay vẫn chưa có công trình nào công bố. Trên mạng Internet và theo
thông báo của tập san “thế giới jatropha” cũng không có nhiều thông tin về
sản phẩm ván dăm từ dăm gỗ và vỏ Jatropha.


12

Tóm lại Jatropha là một cây vùng nhiệt đới, trong đó có Việt Nam, số
lượng Jatropha khá lớn, song sản phẩm chính mới chỉ có quả. Vì vậy giá trị
kinh tế cây jatrophan còn thấp, đời sống người trồng Jatropha rất khó khăn.
Việc đầu tư nghiên cứu sử dụng tổng hợp nguyên liệu từ cây Jatropha, trong
đó có vỏ quả làm ván dăm, nhằm góp phần nâng cao đời sống của dân, ổn
định và phát triển cây Jatropha là một vấn đề cấp bách không những chỉ của

Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ Indonesia được nhập vào Việt Nam.
Trong 1600 cây sống, 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến
Cát, Bình Dương), 200 cây giao cho bác sĩ Yersin trồng thử ở Suối Dầu (cách
Nha Trang 20 km).
Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty
cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (dầu Giây, Long Khánh, Đồng
Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu
là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ : SIPH, SPTR, CEXO,
Michelin … Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập.
Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng
3.000 tấn. Cây cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển
mạnh trong giai đoạn 1960 – 1962, trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau
đó ngưng vì chiến tranh.
Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp
miền Bắc, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (Quảng Trị,
Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ). Trong những năm 1958 – 1963
bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến khoảng 6.000 ha.
Đến 1976, Việt Nam còn khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ
khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền
Trung và khu 4 cũ khoảng 3.636 ha.
Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ.
Từ 1977, Tây Nguyên bắt đầu lại chương trình trồng mới cao su, thoạt tiên do


14

các nông trường quân đội, sau 1985 đo các nông trường quốc doanh, từ 1992
đến nay tư nhân đã tham gia trồng cao su. Ở miền Trung sau 1984, cây cao su
được phát triển ở Quảng trị, Quảng Bình trong các công ty quốc doanh.
Đến năm 1999, diện tích cao su cả nước đạt 394.900 ha, cao su tiểu điền

với quy trình sản xuất ván dăm thông dụng.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1. Mục tiêu lý thuyết
- Nghiên cứu, tạo ra loại ván dăm từ vỏ quả cây Jatropha, dăm gỗ cao su
đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật của ván dăm dùng trong xây dựng,
hàng mộc, trong điều kiện công nghệ sản xuất của Việt Nam và đóng góp
những cơ sở khoa học cho việc sản xuất đó.
- Nâng cao hiệu quả và mở rộng phạm vi sử dụng nguồn nguyên liệu
trong lĩnh vực chế biến gỗ. Đa dạng hóa các loại hình sản phẩm từ phế liệu
nông nghiệp, góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người sử dụng
đối với ván dăm.
1.3.2. Mục tiêu thực tiễn
- Đánh giá được sự ảnh hưởng của tỉ lệ phố i trộn giữa dăm lớp mặt và
dăm lớp lõi đến chất lượng ván dăm 01 lớp và 3 lớp, các giải pháp công nghệ
tạo ván dăm phù hợp khi sản xuất ván dăm từ dăm gỗ cao su và vỏ hạt cây
Jatropha trong điều kiện sản xuất ván dăm của Việt Nam.
- Xây dựng và đề xuất được quy trình công nghệ sản xuất ván dăm từ vỏ
hạt cây Jatropha, dăm gỗ cao su và bước đầu đề xuất triển khai công nghệ vào
sản xuất thực tiễn.
1.4. Đối tượng nghiên cứu
- Vỏ quả cây Jatropha được khai thác từ Đăklak, gỗ cao su ở tỉnh Đồ ng
Nai.


16

- Các thông số công nghệ tạo ván dăm từ vỏ quả Jatropha, dăm gỗ cao su
(tỷ lệ phố i trộn dăm gỗ và vỏ quả Jatropha, các thông số chế độ ép ván dăm,
các thông số của keo dán).
1.5. Nội dung nghiên cứu

1.7. Phương pháp nghiên cứu
1.7.1. Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia được sử dụng khi điều tra, khảo sát nghiên cứu
về hiện trạng công nghệ sản xuất ván dăm, khi tạo ván dăm từ dăm gỗ cao su
và vỏ quả Jatropha. Các tư liệu, tài liệu có tính lịch sử, tài liệu cung cấp các
thông tin tổng quan về kinh tế xã hội, tự nhiên thuộc các vùng lãnh thổ và các
kết quả nghiên cứu có liên quan đã được xuất bản,..
1.7.2. Phương pháp kế thừa
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về công nghệ sản
xuất ván dăm thông dụng và ván dăm từ dăm gỗ cao su và vỏ quả Jatropha.
- Ngoài ra phương pháp này còn tìm hiểu và lựa chọn để kế thừa những
yếu tố công nghệ thích hợp phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm
rút ngắn được thời gian và kinh phí nghiên cứu.
1.7.3. Phương pháp thực nghiệm
Căn cứ vào nội dung luận văn, điều kiện tiến hành luận văn, chúng tôi
chọn phương pháp nghiên cứu thực nghiệm theo lý thuyết quy hoạch thực
nghiệm đơn yếu tố.
Trong kế hoạch thực nghiệm đơn yếu tố, các số liệu đo đếm theo mô
hình bố trí thí nghiệm sẽ được xử lý theo phương trình toán học bậc nhất
trước. Khi xử lý số liệu, nếu các số liệu tính toán đảm bảo tính tương thích
của mô hình toán học thì mô hình toán bậc nhất được chấp nhận. Nếu không
tương thích thì phải nâng bậc của mô hình toán lên bậc hai.


18

Quá trình kiểm tra theo thống kê toán học nếu đảm bảo độ tin cậy của
các yếu tố và tính tương thích của mô hình thì các phương trình tương quan sẽ
ở dạng bậc 2.
Chúng tôi tiến hành các thí nghiệm theo kế hoạch thực nghiệm đơn yếu


X4

40:60

40:60

- Thực hiện thí nghiệm với thông số thay đổi với số mức không nhỏ hơn
4, khoảng thay đổi lớn hơn 2 lần sai số bình phương trung bình của phép đo
giá trị thông số đó. Số thí nghiệm lặp lại n = 3 (theo tính toán).
- Sau khi thí nghiệm xong, tiến hành xác định độ tin cậy về ảnh hưởng
của một số yếu tố đến chất lượng ván dăm từ dăm gỗ cao su và vỏ quả
Jatropha.
- Đánh giá tính thuần nhất của phương sai trong quá trình thí nghiệm, để
chứng tỏ ảnh hưởng khác đối với thông số cần xét là không có hoặc không
đáng kể.
- Kiểm tra độ tương thích của mô hình theo tiêu chuẩn Fisher.


19

- Quan hệ giữ các hàm chỉ tiêu Y và các thông số ảnh hưởng xi:
Y = bo + bi xi + bii xi2

(1.1)

Trong công thức: Y - các hàm chỉ tiêu (tỷ lệ co rút, tỷ lệ giãn nở...); x igiá trị mã hóa của các biến số; bo – hệ số tự do; bi – các hệ số tuyến tính; bii : các hệ số bậc hai.
1.7.3.1. Phương pháp xử lý số liệu
Phương pháp xử lý số liệu được tiến hành theo lý thuyết thống kê toán
học [7], [9], [10], [16], [17], [23].

S
u 1

2
u

-

tổng tất cả các ước lượng phương sai; N- số điểm thí nghiệm. Nếu giá trị G
trong công thức (1.3) nhỏ hơn hoặc bằng Gb thì các phương sai được coi là
đồng nhất. Gb – giá trị Kohren tra trong bảng với xác suất ấn định α = 0,05 và
2 bậc tự do (m-1), k. Nếu giá trị tính toán: G > Gb thì giả thuyết bị bác bỏ.
1.7.3.2. Phân tích đánh giá mô hình hồi quy
(1) Kiểm tra độ tương thích của mô hình hồi quy


20

Độ tương thích của mô hình hồi quy kiểm tra theo tiêu chuẩn Fisher.
Giá trị tính toán của tiêu chuẩn Fisher là:
mS a2
Ftt  2
Sb

(1.4)

Trong đó: S a2 – phương sai tuyển chọn tạo nên do sự chênh lệch giữa các
giá trị hàm tính theo mô hình và giá trị thực nghiệm của nó; S b2 – phương sai
do nhiễu tạo ra.
Bậc tự do ở đây bao gồm: ka = N – k*; kb = N(m-1); m - số lần lặp lại của

Trong công thức (1.5): Sb0, Sbi, … ước lượng phương sai theo các hệ số
hồi quy; b0, bi, … giá trị các hệ số hồi quy cần kiểm tra.
Nếu tiêu chuẩn Student của các hệ số hồi quy t i nào đó lớn hơn chuẩn
Student tra bảng tb thì hệ số có ý nghĩa. Chuẩn tb được tra bảng với bậc tự do
γ = N(m-1) và mức ý nghĩa α = 0,05.
(3). Chuyển phương trình hồi quy sang dạng chính tắc
Để phương trình hồi quy ở dạng đơn giản hơn và phản ánh rõ tính chất
hình học của nó, cần chuyển phương trình hồi quy từ dạng mã sang dạng
chính tắc bằng cách rời gốc toạ độ O(x1 = 0, x2 = 0, …xk = 0) về điểm đặc
biệt: S(xs1, xs2,…xsk). Ở dạng chính tắc phương trình hồi quy sẽ là:
k

2

i 1

i

y  y   Bii X

(1.6)


21

Trong công thức (1.6): ys - cực trị của hàm tối ưu; Xi – các thông số
vào theo giá trị mới; Bii - hệ số của phương trình chính tắc; k - số thông số.
1.7.4. Kiểm tra chất lượng ván dăm
1.7.4.1. Kiểm tra chất lượng keo
Độ pH của hỗn hợp keo, thời gian gel hoá của hỗn hợp keo được đo bằng


Khối lượng thể tích của một tấm ván là trị số bình quân toán học của
khối lượng thể tích toàn bộ mẫu thử trong cùng tấm ván đó, chính xác đến
0,01g. Biểu thị chênh lệch % của khối lượng thể tích 1 tấm ván được tính theo
công thức sau, chính xác đến 0,1%:

 
Trong đó:

 max. min  
x100


Δγ - chênh lệch khối lượng thể tích (%)
γmax - khối lượng thể tích lớn nhất (g/cm3)


23

γmin - khối lượng thể tích nhỏ nhất (g/cm3)


- khối lượng thể tích bình quân (g/cm3)

1.7.4.4. Tỷ lệ trương nở theo chiều dày
Dụng cụ: Tủ bảo ôn, phạm vi điều khiển nhiệt độ 20 ± 2 0C. Thước
panme, độ chính xác 0,01mm.
Phương pháp đo: mẫu đặt trong điều kiện chuẩn cho đến khi khối lượng
không thay đổi. Xác định chiều dày ở trung tâm của điểm đo, chính xác đến
0,01mm. Mẫu được ngâm trong bình nước ở nhiệt độ 20 ± 2 0C, ngập trong


Hình 1.3. Sơ đồ kiểm tra độ bền uốn tĩnh
Phương pháp kiểm tra như sau:
Mẫu đặt trong điều kiện chuẩn cho đến khi khối lượng không đổi.
Chiều rộng được xác định ở điểm giữa cạnh dài mẫu, độ chính xác đến
0,1mm. Chiều dày được xác định ở điểm giữa cạnh dài mẫu, cách mép cạnh
10mm, mỗi cạnh xác định một điểm, độ chính xác đến 0,1mm, khi tính dùng
giá trị bình quân toán học của hai điểm, chính xác đến 0,1mm.
Khi chiều dày mẫu thử ≤ 7mm thì đường kính đặt tải và gối đỡ
15±0,5mm. Khi chiều dày mẫu thử > 7mm thì đường kính đặt tải và gối đỡ 30
± 0,5mm. Chiều rộng bộ phận đặt tải và gối đỡ nên lớn hơn chiều rộng mẫu
thử. Khoảng cách giữa hai gối đỡ bằng 10 lần chiều dày danh nghĩa ván
nhưng không nhỏ hơn 150mm.
Giao tuyến giữa mặt trục gia tải và mặt ván phải vuông góc với trục dài
mẫu thử. Khi xác định, căn cứ vào sự khác nhau giữa hướng trải thảm và bề
mặt phải trái mỗi loại xác định ba mẫu. Khi xác định tải trọng tăng đều (trong
vòng 30– 90 giây mẫu phải bị phá hủy). Ghi tải trọng lớn nhất chính xác 10N.
Độ bền uốn tĩnh 

3xPxL
(N/mm2)(KG/cm2)
2xbxt


25

Trong đó: P - lực cực đại (N)(KG/cm2); L - khoảng cách giữa 2 gối đỡ
(mm)(cm); b - chiều rộng mẫu kiểm tra (mm)(cm); t - chiều dày mẫu kiểm tra
(mm)(cm)
Khi tính tìm ra giá trị bình quân của các mẫu thử cường độ bề mặt của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status