chủ nghĩa hiện sinh trong văn học - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
MÔN TIẾN TRÌNH VĂN HỌC

ĐỀ TÀI: CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG
VĂN HỌC
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Lê Ngọc Phương
Nhóm thuyết trình:

Tp.Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 5 năm 2016.
1


MỤC LỤC
Dẫn nhập..................................................................................................................4
CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH....................................4
1.1 Hoàn cảnh ra đời của triết học hiện sinh...........................................................4
1.2 Hai trường phái chính của triết học hiện sinh....................................................5
1.3 Những nội dung cơ bản của triết học hiện sinh ................................................5
1.3.1 Hiện sinh có trước bản chất...............................................................................5
1.3.2 Ý dục hầu như luôn chiến thắng trước trí năng của con người.............................5
1.3.3 Sự xung đột thường xuyên xảy ra..................................................................6
1.3.4 Sự âu lo...........................................................................................................7
1.3.5 Sự tự do..........................................................................................................7
CHƯƠNG II: CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC........................8
2.1 Hoàn cảnh ra đời chủ nghĩa hiện sinh ..............................................................9
2.2 Quan điểm nghệ thuật của chủ nghĩa hiện sinh.................................................10
2.3 Đặc điểm chủ yếu..............................................................................................11
2.4 Các tác giả và tác phẩm tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh...............................11

hoàn toàn bất ngờ khi trước mắt là một thực tại đổ nát sau những cuộc cách mạng
và chiến tranh. Kèm theo đó là sự thất bại của Napoleon và sự trở lại của dòng họ
Bourbons ở Pháp. Nền cộng hòa không được thiết lập... Tư tưởng hiện sinh ra đời
khi mà những tia sáng từ thời đại lý trí đã yếu ớt và không thể cưu mang niềm hy
vọng của con người, có những nỗi bi quan và những vấn đề của thời đại cần phải
giải quyết. Và tư tưởng hiện sinh ra đời để làm nhiệm vụ đó.
Các đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh trong thế kỷ XIX là Soren
Kierkegaard (1813-1855), Arthur Schopenhauer (1788-1860), Friedrich Nietzshe
(1844-1890) về sau được tiếp nối bởi Jean-Paul Sartre (1905-1980), Albert Camus
(1913-1960), Simone de Beauvoir (1908-1986) ở thế kỷ XX.
3


1.2 Hai trường phái chính của triết học hiện sinh
Triết học hiện sinh chia làm hai trường phái là hiện sinh hữu thần và hiện sinh vô
thần.
+ Hiện sinh hữu thần với đại diện là Soren Kiergeraard, Karl Jaspers, Gariel
Marcel: Giả thiết về sự tồn tại của Thượng đế và cho rằng có một Thượng đế vẫn
tồn tại.
+ Hiện sinh vô thần với đại diện là Friedrich Nietzsche, Jean-Paul Sartre,
Albert Camus: Không công nhận sự có mặt của Thượng đế, cho rằng con người
phải tự mình vươn lên cũng như tự mình chịu trách nhiệm cho mình. F.Nietzsche
nói “Chúa đã chết”.
1.3 Những nội dung cơ bản của triết học hiện sinh
1.3.1 Hiện sinh có trước bản chất
Con người sinh tồn và phát triển trong tư cách của một cá thể tự do, nhưng
sự tự do này không thật sự đem lại hạnh phúc mà chỉ tạo ra sự khốn khổ và khiếp
sợ. Cá nhân con người đã ý thức được sự tự do đó, dù mơ hồ và trách nhiệm về mặt
đạo đức với mọi hành động của mình. Xuất phát từ chỗ bản thân con người ý thức
được tự do cho nên không thể không cảm thấy mình là một người hoàn toàn xa lạ

Riesman – hủy diệt cá tính của con người.Theo Berdyaev thì sự bộc lộ xung khắc
ra bên ngoài có gốc rễ từ tình trạng nô lệ, trong khi tự do là suy tư về mối xung
khắc ấy. Đây là một đề tài quan trọng khác của văn chương phương Tây mà các
nhà hiện sinh thời đại chúng ta vẫn đang làm nhiệm vụ là khôi phục lại sự phản
kháng đó trước những khuôn mẫu hoặc những thế lực nào đang manh nha hình
thành có ý định dập tắt đi sự tự tại trong đời sống cá nhân con người.
Xung khắc với bản thân, con người hiện đại đã quá đề cao lý trí mà vô tình
để quên bản chất của chính mình, đây là một đề tài đóng vai trò quan trọng trong
sự nổi loạn của chủ nghĩa lãng mạn. Sau cuộc Đệ chiến thứ nhất, người hùng biến
mất, con người trở nên trống rỗng, bất lực và vô danh, là kẻ yếu đuối, luôn bị đè
nặng bởi nỗi sợ hãi khôn tả.
Xung khắc với Thượng đế được thể hiện qua câu nói của Friedrich
Nietzsche: “Thượng đế đã chết”. Câu nói này đã cho chúng ta thấy sự trống rỗng,
5


một sự thiếu vắng điểm tựa về tâm linh,mà chính điều này cũng đã tạo nên một
tiếng vọng lớn trong những tác phẩm của các nhà hiện sinh. Để khi lên đến đỉnh
điểm, sự thiếu vắng đó đưa con người ta bước vào một cuộc chạm trán, đụng mặt
đó là: chạm trán với cái hư vô.
1.3.4 Sự âu lo
J-P.Sartre gọi nỗi âu lo đang đè nén con người hiện đại là “nỗi thống khổ của
Abraham”. Các nhà hiện sinh cho rằng tự thân mỗi con người cũng phải thực hiện
những quyết định luân lý trong cuộc đời và do chính sự lựa chọn đó, họ sẽ phải
gánh chịu nỗi thống khổ tương tự như Abraham.
1.3.5 Sự tự do
Với J.P.Sartre thì tự do có nghĩa là tự do lựa chọn bởi vì con người là sinh
linh duy nhất có thể tự vượt qua chính mình. Chính vì không có Thượng đế mang
lại cứu cánh cho vũ trụ, cho nên mỗi người phải nhìn nhận trách nhiệm cá nhân,
đây là một gánh nặng sẽ trở nên nặng nề hơn, vì khi chọn lựa cho chính mình, anh

học hiện sinh đặt ra vấn đề sự chịu đựng tinh thần của mỗi cá nhân trước những
biến động của đời sống, từ đó gợi ra một lối thoát cho họ. Trong “Thư về nhân bản
chủ nghĩa” (Ueber den humanismus) Heidegger đã “nâng cấp” khái niệm
“existentia”, tức tồn tại theo tiếng Latinh, thành một diễn đạt đặc trưng - Eksistenz,
hay Ek-sistenz, nhằm nhấn mạnh hiện thể “xuất tính thể’ của con người, phân biệt
với những tồn tại khác, những tồn tại mà Sartre cho là không thể sánh được với chủ
quan tính của con người (Sartre. Hiện sinh một nhân bản thuyết). Heidegger và
Sartre là hai đại diện tiêu biểu nhất của chủ nghĩa hiện sinh thế kỷ XX.
Theo Lê Tôn Nghiêm, Kinh ThánhKitô giáo, có phần mô tả số phận chìm nổi
của các vị tiên tri, các vị thánh, sự đày đọa Jesus Christ, đáng được xem là cội
nguồn sau xa của chủ nghĩa hiện sinh với tính cách là tiếng kêu bi thiết về số phận
con người. Thứ đến là Thánh Augustin, người nói nhiều đến những suy tư, xao
xuyến, lo âu, những kinh nghiệm đau đớn trong quãng đời phóng đãng, lầm lạc
trên con đường tìm về Thiên Chúa, khẳng định rằng tri thức sơ khởi và đầy đủ nhất
là sự tìm hiểu bản chất con người qua sự hiểu biết về Thiên Chúa. Tuy nhiên, ông
tổ thực sự của chủ nghĩa hiện sinh là S. Kierkegaard (1813 - 1855), người Đan
Mạch. Kierkegaard xuất hiện trên sân khấu triết học với tính cách là người phê
bình gay gắt thời đại. Khuynh hướng hiện sinh tôn giáo của Kierkegaard đặt ra câu
hỏi: tại sao tâm hồn con người bị khô kiệt ? Trả lời: vì những toan tính đầy tham
7


vọng của lý trí, vì sự mổ xẻ không thương tiếc, sự phân đôi bản chất con người
trong thời đại khoa học, vì cái nhìn cứng nhắc, máy móc đối với thế giới. Để phục
hồi nhân tính cần hiến mình cho tôn giáo - đó là chủ đề cơ bản của triết học
Kierkegaard. Triết học cần giúp con người trở về hệ thống các giá trị tôn giáo, vốn
bị chìm vào lãng quên từ thời Descartes. Triết học dẫn ta vào cảm thụ quan tôn
giáo, khắc họa chiều sâu tâm linh của con người.
Sự phản ứng của Kierkegaard đối với trật tự tư sản là sự phản ứng mang tính
lãng mạn. Bản thân sự hiện hữu của con người được phân tích từ góc độ thẩm mỹ đạo đức - tôn giáo. Các giai đoạn hiện hữu:

Khái niệm triết học phi lý là quan điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh mà
những triết gia đại diện là Soren Kierkegaard ( Đan Mạch, 1813 – 1815),
M.Heidegger ( Đức, 1889 – 1976), Karl Jaspers ( Đức, 1883 – 1969)…Các triết gia
hiện sinh đều có tư tưởng chống lại hệ thống. Hệ thống là một khuôn khổ trừu
tượng gói gém toàn bộ chân lý cuộc đời mà người tạo ra hệ thống đó tuyên bố với
thế giới. Bản chất của hệ thống là sự phục tùng, từ Plato cho đến Hegel đều có một
hệ thống triết lý được cho là chân lý mà ở đó buộc mọi người phải tuân theo. ( Ở
phương Đông thì đặc biệt là Nho giáo với khái niệm “ trung quân”, có đạo hồi
Islam mà bản chất của cái tên Islam có nghĩa là phục tùng.) Các nhà hiện sinh chủ
nghĩa cho rằng chân lý không phải là cái chung, mà chân lý mang chủ thể tính,
không ai có quyền áp đặt bất cứ một hệ thống chân lý nào lên người khác và buộc
người khác phải tuân theo.
Như vậy hiện sinh chủ nghĩa coi trọng con người như là một hữu thể hoàn
cảnh, tôi là tôi phối kết với hoàn cảnh của riêng tôi, nên không thể có một chân lý
chung nào giữa cái tôi này với cái tôi khác, đồng thời sinh ra những mâu thuẫn lẫn
nhau và tự mâu thuẫn với chính mình.

2.2 Quan điểm nghệ thuật của chủ nghĩa hiện sinh
Các nhà văn hiện sinh hầu như không có một tuyên ngôn chung cho trường
phái của mình. Albert Camus thậm chí còn phát biểu “Tôi không phải là nhà văn
hiện sinh”. Tuy nhiên, thông qua những cách khác nhau, những tác giả thuộc trào
lưu này vẫn thể hiện một hệ thống quan điểm nghệ thuật tương đối nhất quán,
chúng ta có thể thấy rõ ba quan điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, có nguồn gốc từ triết học cho nên nghệ thuật hiện sinh cũng khẳng
định mối quan hệ giữa hiện sinh với bản chất, sự phi lý của tồn tại và sự hạn chế
của lý trí, bên cạnh đó là sự tự do của con người.

9



bằng kinh nghiệm. Ionesco đã viết trong nhật ký của ông: “Tất nhiên không thể
tưởng tượng được rằng mọi cái sẽ không tồn tại, rằng không có cái gì tồn tại.
10


Tôi cố gắng muốn hiểu cái không thể hiểu được: bỗng nhiên tôi có một hình
ảnh về một điều gì đó vô cùng chắc nịch và phi lý. Sự không tồn tại là một điều
không thể có được và tỏ ra phi lý; sự tồn tại cũng là một điều phi lý không kém
mặc dù nó là việc có thể có được”. Văn học hiện sinh gợi suy nghĩ về tính độc
đáo và kỳ bí của mỗi thân phận. Nó nhấn mạnh đến chủ thể hơn là khách thể.
Một cuộc đời cá nhân không thể giải thích bằng lý lẽ của những người khác,
bằng không, nó sẽ dẫn tới mâu thuẫn và phi lý, “Tất cả đều đúng nhưng không
có gì đúng cả”, “cuộc đời thật phi lý biết bao”.
Có rất nhiều loại hình văn học nghệ thuật khác có đề cập đến cái phi lý ở
thời xa xưa, từ những sáng tác dân gian sử dụng các thủ pháp trào phúng và hài
hước vô nghĩa, chơi chữ loạn nghĩa, hay những sáng tác phiêu lưu hoang tưởng
như Cuộc phiêu lưu của Giulliver (J. Swift- nhà văn Ailen) hay Alice ở xứ sở diệu
kỳ (Lewis Carrol- nhà văn Anh)… cho đến truyện “chưởng” của Trung Hoa… Thế
nhưng, cái phi lý trong những sáng tác trên dựa vào nguyên tắc tạm thời quên đi
thế giới thực tại rồi trở về lại với thế giới thực tại. Theo cái logic riêng của thế giới
tưởng tượng đó thì không có gì là phi lý cả. Văn học phi lý khác với những sáng
tác trên ở quan điểm nghệ thuật chứ không phải ở thủ pháp nghệ thuật.
Khái niệm phi lý nói chung đã xuất hiện từ thời xa xưa, nhưng khái niệm phi
lý hiện đại mới chỉ xuất hiện từ nửa đầu thế kỷ XIX với chủ nghĩa phi lý tính và
sau đó là với chủ nghĩa hiện sinh, và nó chỉ được thể hiện thành một loại hình văn
học rõ rệt từ đầu thế kỷ XX với người mở đường là Kafka. Cho nên khi nói đến văn
học phi lý thì chúng ta phải hiểu rằng đó là văn học con đẻ của thế kỷ XX, là một
phản ứng của thời đại lịch sử.
Văn học phi lý phản ánh những hiện tượng và sự việc trái với sự phát triển
của tư duy logic thông thường, nói đúng hơn là trái với logic nhân văn tiến bộ của

logic thông thường thì được coi là sáng tác phi lý.
*Đối với việc xây dựng nhân vật
Trong tâm thế đối diện với những câu hỏi, nhà văn hiện sinh thường làm
sống lại những huyền thoại lớn. Đó là cách mà J-P.Sartre xây dựng nhân vật
Oreste thành tượng đài của sự tự do. Đó cũng là cách Albert Camus đã tìm thấy
ý nghĩa từ câu chuyện Sisyphs trong thần thoại Hy Lạp hay biến một trận dịch
hạch (gợi nhớ về trận dịch khủng khiếp ở châu Âu thời Trung cổ) trở thành ám
dụ cho sự tràn lan của cái ác.
Các nhà văn phi lý không chỉ mô tả cái phi lý mà họ còn hành động để
chống lại cái phi lý đó. Hành động này được thể hiện ở mỗi con người khác
nhau với mỗi mức độ khác nhau và theo một cách khác nhau.
*Ví dụ chứng minh cho các luận điểm trên

12


Có những nhà văn mà ta không thể xếp họ vào một trường phái nào nhưng
tác phẩm của họ lại là những cột mốc của quá trình phát triển văn học thế giới.
Họ là những hiện tượng đặc biệt mà những người cùng thời không theo kịp để
làm thành một trường phái, ảnh hưởng của họ chỉ diễn ra sau khi một thời gian
thế giới đã hết ngỡ ngàng. Họ là những hiện tượng không thể lặp lại, mà
F.Kafka là một hiện tượng như vậy.Ông đã khai phá một mảng đề tài khó xử lý
đó chính là cái phi lý của cuộc đời.
“Lâu đài” của Kafka kể về một anh chàng trắc địa có tên là K. được mời
đến làm việc tại một khu làng thuộc quyền cai quản của một lãnh chúa (bá tước
West”) sống trong một lâu đài ngự trên một quả đồi. Anh chàng K. không bao
giờ được tiếp cận với những người sống trong lâu đài.Anh tìm mọi cách để gặp
những người trong lâu đài nhưng không thành.Thậm chí ngay cả những người
dân xung quanh khu lâu đài cũng không ủng hộ anh. Còn “Vụ án” thì kể về một
anh nhân viên ngân hàng tên Josef K, vào ngày kỉ niệm sinh nhật lần thứ 30 của

mệt mỏi, ê chề. Mồ hôi vã ra, chàng bỗng dừng lại, không thể tiếp tục đi tiếp
được nữa.” Đến cả những người sống trong làng dưới quyền cai trị của lâu đài
cũng trở thành một thế giới xa lạ. Một người nông dân đã nói với K. rằng:
“Chắc là ngài ngạc nhiên vì chúng tôi không hiếu khách. Nhưng hiếu khách
không phải là mốt ở đây, chúng tôi không cần khách.” Trong “Vụ án”, anh
chàng sinh viên ngành pháp lý cũng nói với Josef K.: “Lẽ ra ông có thể đi từ
nãy, chẳng ai luyến tiếc ông cả,…” Cuối cùng, cả K. trong “Lâu đài” lẫn Josef
K. Trong “Vụ án” khi càng tìm hiểu thì càng lạc sâu vào cái mê cung của một
thế giới phi lý không thể nào hiểu nổi và tồn tại ngoài ý muốn con người. Và
khi càng đi sâu vào cái mê cung đó thì hai anh chàng này càng trở nên xa lạ với
thế giới, cũng như chính tác giả của họ. Kafka đã viết trong “Nhật kí” của
mình: “Tôi sống xa lạ hơn một kẻ xa lạ”.
Ở Kafka, chủ đề tha hóa thường đi liền với thái độ phê phán ý thức bầy
đàn, sau này được các nhà văn khác và A.Camus tiếp thu. Dưới con mắt của K.
thì những người trong ngôi làng đều có những hành động giống nhau. Anh và
họ là hai thực thể không thể hòa hợp được. Một bên là nhân vật chính, bên kia
là phần còn lại của thế giới với lối sống bầy đàn. Lối sống bầy đàn là một trong
những điều phi lý tồi tệ nhất trong xã hội hiện đại được các nhà văn phi lý cực
lực phê phán.
Phi lý là một đối tượng nhận thức khách quan đối với Kafka. Nó không
đơn thuần là một hiện tượng xã hội mà nó có liên quan, chi phối vận mệnh của
con người mà muốn tồn tại, con người buộc phải đấu tranh để loại trừ nó. Do
đó, trong phần lớn các tác phẩm phi lý của ông, thế giới huyền thoại ông tạo ra
thường là thế giới không có địa danh. Lâu đài và ngôi làng nơi K. làm việc
14


không có tên, thành phố của Josef K. cũng chẳng có tên tuổi.Vì vậy, phi lý của
Kafka là bi kịch bản thể. Tuy vậy, cái bi kịch bản thể ấy gắn liền với xã hội
đương thời, vẫn có nguyên nhân xã hội của nó, nó đã phản ánh bản chất của xã


thích. Sau đó ông gia nhập tổ chức bí mật kháng Đức: Xã hội chủ nghĩa và tự
do, tổ chức này tập trung hầu hết những nhà trí thức Pháp kháng Đức.
Từ năm 1941- 1944, ông tiếp tục dạy ở các trường Louis Parteur,
Condorcet của Paris. Năm 1945, sáng lập và chủ trương tạp chí “Les Temps
Modernes” (“Thời mới”). Cũng năm này, ông vĩnh viễn xin ra khỏi ngành giáo
dục; sang Mỹ làm phóng sự cho nhiều nhật báo ở Paris. Kể từ năm 1946, ông
sống ở Paris, lần lượt du lịch, viếng thăm và chứng kiến thực tại các nước và
khu vực có thể chế chính trị khác nhau như: Mỹ, Island, Liên Xô, Thụy Điển,
Bắc Phi, Nam Phi, châu Phi Đen và nhiều nước khác nữa. Trong thời gian này,
Jean-Paul Sartre tiếp tục sự nghiệp triết lý và văn nghệ không ngừng nghỉ, mỗi
lần cho xuất bản một cuốn sách (luận thuyết, khảo luận, tiểu thuyết, kịch, phim)
là mỗi lần gây nên tranh luận quyết liệt trong giới văn nghệ Pháp và quốc tế. Sự
nghiệp triết lý và văn nghệ này không bao giờ tách rời các hành động của ông:
Ở con người Jean- Paul Sartre hành động và lý thuyết bao giờ cũng khắng khít
mật thiết với nhau. Xin kể: Ông là một trong những nhân sĩ đã gây dựng phong
trào chống chiến tranh ở Việt Nam (1950-1954), chiến tranh ở Algerie (19541961), lên án các vụ tra tấn (“Tuyên ngôn của 121 nhà trí thức”, 1951-1960), tố
cáo chính quyền Franco (Tây Ban Nha) về vụ án Julien Grimau (1964), phản
đối Mỹ trong chiến tranh Việt Nam…
Năm 1964, ông được Hội đồng Viện Hàn lâm Thụy Điển tuyên bố tặng
giải Nobel về văn chương nhưng ông đã tuyên bố không nhận giải.
* Tiểu thuyết “Buồn nôn”
Tóm tắt tác phẩm: “Buồn nôn” (“La Nausée) mang danh là một cuốn tiểu
thuyết, nhưng thật ra là một suy tư triết lý viết theo thể nhật ký. Tiểu thuyết kể về
nhân vật Antoine Roquentin, sau nhiều năm lưu lạc khắp thế giới, trở về Bouville,
định tâm hoàn tất công việc tra cứu cuộc đời Công tước de Rollebon làm tài liệu
cho một cuốn khảo luận lịch sử. Nhưng dần dà, càng đi sâu vào cuộc đời bịp bợm
của tên công tước này, y bỗng cảm thấy chán ngấy ghê tởm không còn hăng hái với
công việc giả tạo đó nữa, rồi rốt cuộc y bỏ dở cuốn sách định viết. Y nhận chân
rằng đã không làm sao có thể hy vọng cứu vớt quá khứ của một kẻ khác ra khỏi

“Hiện hữu là hiện thể ra đó, chỉ vậy thôi. Những vật thể xuất hiện, để cho ta
gặp gỡ chúng nhưng chẳng bao giờ ta có thể suy diễn, diễn dịch chúng
được…”
Sự hiện hữu ấy mang tính chất lầm lì, dày đặc, bất khả giải ngộ và ngẫu nhiên,
chính sự bất tất đó làm nên sự “dư thừa” của những sự vật với nhau. Tất cả dư
thừa nên tất cả đều phi lý.
17


Quan niệm triết học hiện sinh của Sartre là quan niệm triết học vô thần,
không có thượng đế tạo nên bản chất con người, phũ nhận vai trò của thượng
đế, không tin vào sự tồn tại của thượng đế, hoặc nếu thượng đế tồn tại cũng
không thể thay đổi được gì. Con người là cái mà con người làm nên, “sự hiện
sinh của con người có trước bản chất” (“L’existence précè de l’essence”). Con
người tồn tại một cách ngẫu nhiên, không do một Đấng nào tạo nên, không có
lý do, và tự nó không có giá trị gì cả. Nhân vật trốn chạy sự thật đó bằng biểu
hiện “buồn nôn”, “buồn nôn” như là một biểu tượng về bản năng, về sự phi lý
của việc con người tồn tại bằng một lý do nào. Bản thân những cơn buồn nôn
đó tự nó cũng không có lý do, không lý giải bằng một tầng chìm ký ức nào.
Con người hoàn toàn tự do, luôn luôn phải lựa chọn và làm ra mình. Từ
đó con người luôn luôn và hoàn toàn chịu trách nhiệm: con người tự cam kết
trong mỗi hành động. Sự tự do bất tận này được trải nghiệm trong sự sợ hãi: ý
thức khắc khoải phải đối diện với một trách nhiệm bất tận, với những giá trị,
với cái thiện và cái ác, sự sợ hãi phải “tha nhân”, sợ “tôi không phải là tôi”, sợ
biến thành “cái gần như đồ vật” và sợ “tôi bị tước đi sự tự do của tôi”:
“ Tư tưởng của tôi, chính là tôi: đó là lý do vì sao tôi không thể ngưng lại
được. Tôi hiện hữu bởi những gì tôi đang suy tưởng… và tôi không thể ngăn
mình thôi suy tưởng. Ngay cả trong giây phút này – thật là kinh khủng – nếu
như tôi đang hiện hữu. Chính tôi, chính tôi, đang thu lùi mình về cõi hư vô mà
tôi khát vọng: lòng thù ghét, lòng kinh tởm hiện hữu, bấy nhiêu tình cảm đó là

vụ trụ bao la rộng lớn.
Qua “Buồn nôn”, Jean- Paul Sartre còn muốn gửi gắm quan niệm: Con
người không chấp nhận sự áp đặt, không thuộc về định mệnh, tự “nó”làm nên
bản chất của “nó”. Bản chất không phải là cái có trước, cái ấn định trước. Con
người tự làm nên bản chất. Dù đôi vai mỏng manh yếu ớt nhưng không lệ thuộc
và tự chịu trách nhiệm.
2.4.2

Tác giả Albert Camus và tiểu thuyết “Kẻ xa lạ”
* Tác giả Albert Camus.

Albert Camus sinh ngày 07 tháng 11 năm 1913 tại Mondovi, một tỉnh nhỏ
thuộc vùng Constantin, Algérie. Cha ông, người gốc Pháp, từng làm lao công
giúp việc cho một nông trại, bị tử trận vào đại chiến thế giới thứ II. Còn mẹ
ông, người gốc Tây Ban Nha, sống trong một xóm nghèo ở Belcout, Algérie.
Hình ảnh người mẹ in đậm dấu ấn trong nhiều trang viết của Camus, ở những
ghi chép trong tùy bút và tiểu luận, kể cả trong tác phẩm hư cấu “Kẻ xa lạ”,
người đọc được chứng kiến hình ảnh người mẹ “im lặng”, tiêu khiển thời giờ
19


bằng cách “lặng lẽ theo dõi” đứa con trai. Thời thơ ấu, gia đình Camus luôn
sống trong tình trạng túng thiếu, quẫn bách.
Từ năm 1918 đến 1923, Camus theo học tiểu học rồi sau đó trung ở Alger,
nhờ sự giúp đỡ rất tận tình của một thầy giáo tên là Louis Germain. Năm 1930,
Camus chớm mắc bệnh lao, nhưng ông vẫn tiếp tục học lên đại học, ngành triết,
dưới sự giúp đỡ của một ông thầy, cũng là nhà văn, giáo sư Jean Grenier. Năm
1936, Camus tốt nghiệp với bản luận văn bản về mối tương quan giữa trào lưu
tư tưởng Hy Lạp và trào lưu tư tưởng bắt nguồn từ đạo Giatô xuyên qua các tác
phẩm của triết gia Plotin và thánh Augustin. Ông đã đề tặng người thầy Grenier

đời là “Sổ tay ghi chép” (“Les Cahiers”), trong đó có “Cái chết hạnh phúc” và “
Người đàn ông đầu tiên” (“Le premier home”), một tác phẩm tự thuật với đúng
nghĩa của nó.
* Tiểu thuyết “Kẻ xa lạ”
Tóm tắt tiểu thuyết “Kẻ xa lạ”: Meursault là một viên chức nghèo sống cuộc
sống bình thường ở thành phố Alger, thủ đô Algérie. Nhận được điện báo mẹ mất,
anh đến viện dưỡng lão chịu tang mẹ. Anh tỏ thái độ dửng dưng đối với cái chết
của mẹ, anh không khóc và không nhìn mẹ lần cuối., anh bình thản hút thuốc và
uống cà phê bên linh cữu mẹ. Trên đường đi đến nghĩa trang, anh chỉ cảm thấy khó
chịu vì trời nóng bức. Anh về nhà ngay ngày hôm ấy và hôm sau anh đi ra bãi tắm,
anh gặp Marie và hai người cùng đi xem phim hài, rồi về nhà và làm tình với nhau.
Sau một thời gian, Marie muốn anh cưới nàng nhưng Meursault không quan tâm
lắm đến chuyện đó.
Meursault có hai người hàng xóm là lão Salamano và chàng trai Raymond. Lão
Salamano có nuôi một con chó già ghẻ lở và suốt ngày đánh mắng nó mặc dù
ông hết mực thương yêu và chăm sóc cho nó. Một hôm nó bị tụt khỏi xích và đi
mất, lão ra sức đi tìm và than khóc. Raymond là một tên ma cô, anh ta bao một
cô gái người Ả Rập nhưng cô ta chỉ biết tiêu tiền của anh ta mà không chịu làm
việc. Vì cho rằng cô ta lợi dụng, anh đã đánh đập cô ta và bị cảnh sát bắt.
Meursault đồng ý đến sở cảnh sát làm chứng cho việc cô ả “không tôn trọng”
Raymond.
Một hôm, Meursault cùng Raymond đi chơi trên bãi biển thì gặp một toán
người Ả Rập gây sự và Raymond bị thương nhẹ. Trưa hôm đó, Meursault gặp
lại một người Ả Rập trên bãi biển và anh ta giơ dao dọa. Ánh dao lóa sáng cùng
với ánh nắng mặt trời gay gắt khiến Meursault choáng váng và anh rút súng bắn
năm phát vào anh chàng kia. Khi bị bắt giam, anh cũng vẫn tỏ thái độ dửng
dưng, anh chỉ ngạc nhiên khi ở phiên tòa, anh nhận bản án tử hình không phải
21



Sự phi lý không chỉ được thể hiện trong cảm thức rời rạc giữa con người
với thế giới, sự phi lý còn được thể hiện qua cái cách người ta áp đặt những
22


quan niệm tập thể lên từng cá nhân, cụ thể là tại phiên tòa, người ta đã kết tội
Meursault không phải vì anh đã bắn năm phát súng vào người Ả Rập nọ, mà vì
anh đã không khóc trong đám tang của mẹ mình. Thái độ ấy được xem như dấu
hiệu của sự dửng dưng, nếu được giải thích một cách phóng đại là sự ruồng bỏ
người mẹ; nhưng mỗi người chúng ta có ai chẳng cảm thấy phạm tội ấy ở
những mức độ khác nhau? Kẻ nào không bao giờ phạm tội dửng dưng đối với
mẹ cha thì hãy ném viên đá đầu tiên vào Meursault. Và người mẹ trong tác
phẩm là hình ảnh một người mẹ “im lặng”, im lặng ở viện dưỡng lão và cũng
im lặng khi còn ở với Meursault. Hình ảnh người mẹ im lặng ấy hiện về không
phải trong đám tang ồn ào mà là trong sự phản tĩnh tâm hồn của Meursault.
Camus từng viết rằng: “Nhận xét tính phi lý của cuộc đời không thể là
cứu cánh mà chi là khởi đầu” trong bài phê bình cuốn “Buồn nôn” của JeanPaul Sartre. Trong khi nhân vật của Sartre chìm vào những cơn buồn nôn thì
nhân vật của Camus đi đến sự nổi loạn.
Nhân vật Meursault trong suốt chiều dài của quyển tiểu thuyết đã có nhiều
hành động nổi loạn: Meursault chọn cách trung thực với cảm xúc của mình,
không khóc một cách giả dối trong đám tang của mẹ như những người bạn
trong viện dưỡng lão của bà đã làm; trong mối quan hệ tình yêu với Marie,
Meursault cũng chọn cách trung thực, khi nàng hỏi anh có yêu nàng không, anh
đã trả lời rằng hình như anh không yêu nàng nhưng sẽ lấy nàng nếu như đó là
điều nàng muốn. Khi bị quan tòa kết án tử hình, Meursault từ chối nói những lời
ăn năn sau cùng như một thứ quy ước. Và đỉnh điểm của sự nổi loạn ấy chính là
việc Meursault phũ nhận thượng đế, từ chối rửa tội, khước từ cuộc sống vĩnh
cửu, khước từ sự áp đặt. Meursault không tham dự vào cuộc chơi của tòa án,
của đám đông. Anh khuyên người ta hãy thật sự trung thực, hãy tận hưởng cuộc
sống ngắn ngủi mà con người có được tại trần thế này chứ không phải ở trong

lại trở thành công cụ chủ yếu để mang chở tư tưởng của các nhà triết học hiện sinh,
là nơi để họ thể hiện những suy tư đầy chất nghiệm sinh của mình. Chủ nghĩa hiện
sinh đã đi sâu vào đời sống tinh thần của nhân loại thông qua con đường văn học.
Các phạm trù của chủ nghĩa hiện sinh như hư vô, lo âu, xao xuyến, cô đơn,
phi lí, nổi loạn, tự do, cái chết… được các cây bút miền Nam như Nguyễn Thị
Hoàng, Thanh Tâm Tuyền, Túy Hồng… họ thể hiện khá sinh động qua các tác
phẩm như: Ngày qua bóng tối, Vòng tay học trò, Cát lầy, Căn nhà có cửa khóa
trái… chỉ trong một thời gian ngắn mà các nhà văn đã có một khối lượng tác phẩm
khổng lồ, nó đã đi sâu vào đời sống , bởi vì nó không bàn đến những vấn đề xa lạ
hay trừu tượng với con người, mà nó chỉ miêu tả đúng tâm trạng mà con người
đang phải trải qua, tâm trạng lo âu, sợ hãi trước cuộc chiến tranh một mất một còn
của dân tộc, không biết lựa chọn con đường nào cho đúng đắn, họ sợ bản thân lựa
24


chọn sai lầm, cuối cùng con đường mà họ lựa chọn là quay về với chính mình.
Chính vì vậy đã trở thành một phong cách sống của nhiều tầng lớp dân cư đô thị.
Tuy rầm rộ như vậy nhưng vẫn không có một tác giả nào tiêu biểu cho một trào lưu
hiện sinh hoàn chỉnh.
Việc tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh ở nước ta được thể hiện cũng khá rõ nét,
do bối cảnh lịch sử đất nước ta chia làm 2 miền. Nếu ở miền Bắc trong giai đoạn
1954-1975 chưa có chủ nghĩa hiện sinh mà chỉ tồn tại duy nhất đó là chủ nghĩa xã
hội. Thì ngược lại miền Nam 1954-1975 thì chủ nghĩa hiện sinh là một ảnh hưởng
đa chiều, trở thành một trào lưu thời thượng của giới trí thức, nó được tiếp cận từ
nhiều cách nhìn khác nhau, những cách nhìn chắc chắn không thoát khỏi sự tác
động của bối cảnh xã hội cũng như lập trường chính trị của người viết, nhưng hầu
hết đều cho thấy tinh thần độc lập và tự trọng của người trí thức, nói theo những
suy nghĩ riêng của mình mà không rập khuôn, một giọng.
Việc tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh, truyền bá, vận dụng nó cũng là cơ duyên
của lịch sử, nó đã đến trong cái bối cảnh bi đát của xã hội miền Nam những năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status