Môn: Tiến trình Văn học
Giảng viên: Th.S Lê Ngọc Phương
1
MỤC LỤC
I.Tổng quan về Chủ nghĩa Tượng trưng(Symbolisme).
3
1. Hoàn cảnh ra đời.
3
2. Nền tảng lý thuyết của Chủ nghĩa Tượng trưng
3
3. Chủ nghĩa Tượng trưng qua các giai đoạn.
7
II. Quan điểm nghệ thuật của Chủ nghĩa Tượng trưng
10
III. Những đặc điểm chủ yếu của Chủ nghĩa Tượng trưng
12
về mặt thẩm mỹ, tư duy văn học vừa kế thừa vừa chối bỏ chủ nghĩa lãng mạn;
thời đại mà cái tôi chiến thắng độc tôn trên thi đàn và phát triển mạnh mẽ.
2.
Nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa tượng trưng:
2.1 Thuật ngữ “tượng trưng”:
Tượng trưng là một kiểu tư duy nghệ thuật đã có từ thời trung cổ của
phương Đông lẫn phương Tây và nhất là dòng văn học chịu ảnh hưởng sâu
sắc của tôn giáo, đề cao sự huyền bí tâm linh trong thế giới nhận thức của con
người về vũ trụ. Với phương Đông là Đạo giáo, Phật giáo; với phương Tây là
Ki-tô giáo. Theo từ điển của Viện Ngôn ngữ Khoa học Xã hội Nhân văn,
tượng trưng có nghĩa là: mượn vật có hình thể để biểu hiện cho vật không
hình thể. Có rất nhiều cách hiểu về tượng trưng trong văn học nghệ thuật.
Theo nghĩa thông thường nhất, tượng trưng là một loại hình tạo ra nhiều liên
tưởng xa xôi, bất ngờ, có sức ám gợi những hàm nghĩa sâu xa, ám gợi tâm
trạng. Vào cuối thế kỉ XIX, với những sáng tác của Baudelaire, Rimbaul thì
tượng trưng mới thực sự được nâng lên thành chủ nghĩa, xét về thuật ngữ có
khi lại nằm trong hiện tượng thơ “suy đồi” (Décadence) cùng với phái Thi
Sơn (Parnasse). Với Baudelaire ông có cách hiểu riêng về tượng trưng:
“Trong một số trạng thái tâm hồn hầu như có tính chất siêu nhiên, chiều sâu
của cuộc sống bộc lộ toàn vẹn trong một cảnh tượng bày ra trước mắt con
3
người, có thể là hết sức tầm thường. Cảnh tượng này là tượng trưng của sự
sống”. Chỉ đến ngày 18/9/1886, một năm quan trọng đã diễn ra triễn lãm cuối
cùng của các nhà Ấn tượng chủ nghĩa, trong phần phụ lục của tờ Firago:
“Tuyên ngôn của chủ nghĩa tượng trưng đã xuất hiện, được chấp bút bởi nhà
thơ Jean Moréas”.
Parnasse chỉ nắm chắc sự vật rồi biểu hiện tất cả ra, cho nên họ thiếu hẳn sự
kì diệu” trong khi thơ tượng trưng cần sự sáng tạo xuất phát điểm từ tâm linh
của nhân loại.
Với thuyết “thuần văn học” của Edgar Allan Poe được Baudelaire giới
thiệu nhiều nên cũng phần nào gây ảnh hưởng đến Chủ nghĩa Tượng trưng
Pháp. Ông viết: “Chỉ cần chúng ta tự thức tỉnh linh hồn của mình, từ đó chúng
ta liền có thể phát hiện dưới gầm trời không hề có, không thể có một tác phẩm
nào rất mực tôn quý, vô cùng cao thượng so với bài thơ này – một bài thơ tự
nó, vì bài thơ này đúng là một bài thơ, ngoài ra, không có gì khác, một bài thơ
được viết ra chỉ vì thơ mà thôi” (Nguyên lí thơ). Edgar Allan Poe chia thế giới
tinh thẩn ra ba lĩnh vực: “trí lực thuần túy, cảm quan đạo đức và hứng thú”.
Theo ông, trí lực sẽ dẫn đến chân lý, cảm quan đạo đức mang lại đạo nghĩa
riêng chỉ có hứng thú mới đưa con người đến với cái đẹp. Trong sự quan sát
cái đẹp, mỗi người sẽ phát hiện và có khả năng đạt đến sự thăng hoa của
khoái cảm và sự kích động của linh hồn; xem sự thăng hoa và kích động ấy
chính là tình cảm của thơ. Bên cạnh đó, “có lẽ chính từ trong âm nhạc, tình
cảm thơ mới được kích động” làm cho cuộc đấu tranh của linh hồn càng tiến
gần đến sự sáng tạo ra cái đẹp thần thánh. Với Edgar Allan Poe, thơ không lấy
chân thực làm đối tượng mà chỉ lấy tự thân làm mục tiêu.
Mặt khác, có thể nói Chủ nghĩa Tượng trưng chịu ảnh hưởng trực
tiếp từ tư tưởng của Baudelaire. Được xem là người tiên phong cho Chủ nghĩa
5
Tượng trưng, Baudelaire là minh chứng tiêu biểu cho sự có mặt của dòng thơ
đi sâu vào cảm quan của cái tôi huyền bí và đoạn tuyệt với cách nhìn nhận hời
hợt thông thường vể thế giới. Năm 1857, Baudelaire với tập thơ “Những bông
hoa Ác” (Les Fleurs du Mal) đã thay cho lời phát ngôn ông về “cảm giác
tương giao” trong thơ Tượng trưng. Tưởng tượng làm cho con người cảm thấy
hình dáng, màu sắc, âm thanh, hương vị đều có một hàm nghĩa về tinh thần,
chịu ảnh hưởng khá lớn từ Chủ nghĩa Lãng mạn về đề tài là những nỗi buồn,
tuyệt vọng, con người luôn ưu sầu suy tư. Một mặt kế thừa chủ nghĩa lãng
mạn về cái nhìn đi sâu vào nội tâm, mặt khác Chủ nghĩa Tượng trưng khước
từ cách diễn đạt dông dài, lối nói hoa mĩ đến khuôn sáo mà phái Thi Sơn tiếp
nhận từ Chủ nghĩa Lãng mạn. Dù có được xem là những hiện tượng thơ “suy
đồi” đi chăng nữa, thì với cảm quan về vũ trụ một cách nổi loạn cũng như
những chất liệu thơ quái đản, mông lung của Baudelaire là sự tiên báo cho
một trường phái thơ ca độc đáo sắp sửa bùng nổ trên thi đàn thế giới.
3.2 Giai đoạn đỉnh cao và suy thoái:
Tháng 9/1886, Chủ nghĩa Tượng trưng ra đời ở Pháp với bản “Tuyên
ngôn tượng trưng” của Jean Moreas đề xuất một quan niệm thi ca mới nhằm
phản ứng lối thơ thiên về chạm trỗ, trau chuốt ngôn từ của phái Thi sơn
(Parnasse) và cách làm thơ quá dễ dãi của Trường phái Lãng mạn thì thuật
ngữ Chủ nghĩa Tượng trưng (Symbolism) mới chính thức xuất hiện. Cùng với
Mallarmé, Verlaine họ quan niệm: thi ca Tượng trưng biểu hiện trước hết
“những tư tưởng nguyên thuỷ”, nó là kẻ thù của “sự mô tả khách quan”. Hình
tượng tượng trưng là đa nghĩa, bất định, nó ghi nhận sự tồn tại của “khu vực
bí ẩn” (Mallarmé), của “những cái vô hình và những thế lực định mệnh”
(Maeterlinck), thơ “trước hết phải có nhạc tính” do âm nhạc hơn hẳn các
7
nghệ thuật khác trong việc truyền đạt những sắc thái, những bán âm
(Verlaine). Do vậy, ở những tác phẩm tượng trưng biểu tượng vật thể thực
được đan bện chặt với các thủ pháp ấn tượng. Vai trò chủ đạo trong nhận thức
và sáng tác nghệ thuật của chủ nghĩa tượng trưng là trực giác - được đồng
nhất với sự bừng ngộ thần bí, với sự khải thị, với trạng thái kích động cao.
Từ quê hương của nó – nước Pháp – Chủ nghĩa Tượng trưng nhanh
chóng trở thành hình thức thơ ca phổ biến, quyết định diện mạo thơ ca
phương Tây và châu Âu cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX với nhiều màu sắc
với bài thơ trường thiên Nữ thần vận mệnh thanh xuân và Lăng mộ bên biển
cả của ông được truyền đi rộng rãi khắp Châu Âu, T.S.Elio gốc Hoa Kỳ, quốc
tịch Anh được xem là đại biểu lớn nhất của Chủ nghĩa Tượng trưng hậu kì.
Bài thơ trường thiên Hoang mạc của ông được đánh dấu như một cột mốc lớn
của thơ ca hiện đại. Ngoài ra,W.B.Yeasts với kịch thơ Vùng quê của tâm
nguyện cũng khá tiêu biểu cho Chủ nghĩa Hậu tượng trưng ở Anh, đại biểu
cho Chủ nghĩa Hậu tượng trưng ở Ý là E.Montalor với tác phẩm chủ yếu là
Hạnh phúc...
II.
Quan điểm nghệ thuật của Chủ nghĩa Tượng trưng.
Chủ nghĩa Tượng trưng không thuần túy đi theo một quan điểm
nghệ thuật nào trong lịch sử văn học phương Tây trước đó. Hiểu một cách hạn
hẹp, Chủ nghĩa Tượng trưng không theo quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật”
quá mức cực đoan như trường phái thơ Thi Sơn đồng thời chối bỏ “nghệ thuật
vị nhân sinh” của chủ nghĩa hiện thực.
Như đã đề cập trước đó ở phần cơ sở tư tưởng, thuyết thần cảm Đức
đã sớm du nhập ở Pháp từ thời Khai sáng nhưng không được đón nhận rộng
rãi. Tồn tại dưới dạng tiềm ẩn, học thuyết này theo thời gian được thế hệ các
nhà thơ sống và sáng tác vào thời điểm bước ngoặt của lịch sử say mê cuồng
9
nhiệt, bắt đầu thời đệ nhị đế chính của Napoléon tiểu đế, sau đảo chính năm
1851. Bất bình trước thực tại đầy cặn bã nhơ nhớp, tầm thường là những quái
thai của xã hội tư sản, một bộ phận những nhà thơ không bị xoáy theo cơn lốc
của chính trị lịch sử đã hướng về một cõi riêng của đời sống bản thể đi sâu
vào sáng tạo thế giới của cá nhân mình. Họ chống lại lối quy phạm truyền
thống, cách nghĩ và cách nhìn thông thường, chủ trương khám phá thế giới ở
tượng biếu kiến của cuộc đời, vũ trụ.
Là một bản lề phân cách hai thời đại trong lịch sử văn học phương Tây:
thời đại của triết học và tư duy duy lý (từ Phục hưng đến cuối thế kỉ XIX) và
thời đại gắn liền với sự khủng hoảng của triết học duy lý đồng thời nảy sinh
các hình thức tư tưởng phản duy lý từ những năm cuối thế kỷ XIX. Theo đó,
ngôn ngữ thơ Tượng trưng là “hoa thơm, trái ngọt” của các thế hệ nhà thơ
Tượng trưng như một sự cách tân “nổi loạn” chống lại hình thức ngôn từ khuôn
sáo, ước lệ từ nhiều thế kỉ qua. Các nhà thơ Tượng trưng có khát vọng nói
những điều mà ngôn ngữ tường minh không diễn đạt được thúc đẩy họ tìm
kiếm ngôn từ mới. Việc sáng tạo ngôn từ giàu nhạc điệu, thanh âm là một trong
những điều tiên quyết làm nên diện mạo của thi ca Tượng trưng vừa dồn nén
những ẩn ức trong tâm trạng người thi sĩ vừa toát lên thần sắc ảo diệu của thế
giới huyền bí ẩn đằng sau bức màn thực tại.
III. Những đặc điểm chủ yếu của Chủ nghĩa Tượng trưng.
1. Đề tài.
Hệ thống đề tài trong thơ Tượng trưng dưới sự ảnh hưởng của Chủ nghĩa
Lãng mạn vẫn là sự cô đơn của người nghệ sĩ, nỗi buồn, niềm ưu tư,...Bên
cạnh đó, trên bước đường định hình về mặt tư tưởng, phát hiện bản thể chân
nguyên của vũ trụ, đề tài trong thơ Tượng trưng dần đa dạng và vô định bởi
11
thế giới ẩn đằng sau lớp vỏ hiện thực là do trực giác của chủ thể cảm nhận và
sáng tạo nên. Đó có thể là những khoảnh khắc của hiện tượng thiên nhiên bất
chợt giao hòa với tâm trí thi nhân đan xen những tình cảm vụn vặt. Có khi trở
về với các pho lich sử tôn giáo thời Trung cổ qua trang sách những nhà thần
bí học đưa ra các ẩn dụ, tỉ dụ,...Đôi lúc đó là một loạt những hình ảnh bị phân
mảnh được lắp ghép không theo nguyên tắc bình thường; không cụ thể có khi
khó hiểu khác với những gì trong thế giới hiện hữu. Trong bài thơ “Nguyên
tính nhạc và ngôn từ không có sự đan xen mà tồn tại đơn lẻ, rõ ràng dễ hiểu.
Còn với thơ Tượng trưng, tính nhạc phát tiết từ mỗi từ, mỗi câu; nhạc điệu
không phải chịu sự tác động của niêm luật câu thúc mà trong thơ đã sẵn có
hiển hiện qua mỗi kí âm của ngôn ngữ mang sắc thái đa nghĩa, kì diệu.
4. Ngôn từ và phương thức biểu hiện.
Thơ Tượng trưng dùng biểu tượng như là một cấu tạo hình tượng đặc
biệt để chống lại lối miêu tả và biểu lộ tình cảm trực tiếp của chủ nghĩa lãng
mạn. Nói cách khác, Chủ nghĩa Tượng trưng tôn trọng điều bí ẩn của thơ. Thơ
không phải để tả mà chỉ ám gợi trong đó có ám gợi tâm trạng. Thơ tượng
trưng dùng biểu tượng như là một phương tiện biểu hiện, ví dụ Athur
Rimbaud có bài thơ tên là “Con thuyền say”. Một hình ảnh cụ thể là con
thuyền được ghép với trạng thái say của con người đã kích thích và gợi lên
nhiều suy tưởng khám phá về biểu tượng đầy kì lạ này. Biểu tượng được xem
như là một tín hiệu thẩm mỹ, là kiểu hiện tượng hết sức đặc biệt với tính cô
đọng, súc tích và độ nén về mặt ý nghĩa. Baudelaire luôn là người tìm kiếm
những biểu tượng có sức ám ảnh mạnh mẽ đối với thị giác khiến người đọc
13
phải đau đầu khi tiếp nhận nó. Tập thơ “Những bông hoa Ác” của ông có thể
được xem là một minh chứng tiêu biểu.
IV.
Tác giả - tác phẩm tiêu biểu cho Chủ nghĩa Tượng trưng.
1. Charles Baudelaire (1821 – 1867)
Charles Baudelaire được xem như người khởi phát Chủ nghĩa Tượng
Thiên nhiên là một ngôi đền mà những trụ cột sống động
Đôi khi thốt ra những ngôn từ lộn xộn
Con người đi ngang, xuyên qua những khu rừng biểu tượng
Vẫn quan sát mình bằng cặp mắt thân quen
Như những tiếng vọng dài từ rất xa hòa lẫn
Giữa cảnh bao trùm tăm tối thẳm sâu,
Mênh mông như đêm đen và như ánh sáng
Hương thơm, sắc màu và âm thanh tương hợp với nhau...
2. Stéphane Mallarmé (1842-1898)
Sau Baudelaire, nhà thơ có sức ảnh hưởng trong dòng thơ Tượng trưng có
thể nói đến là Stéphane Mallarmé. Ông từng là thành viên của phái Thi Sơn
(Parnasse) sau đó tách ra cùng với Jean Moreás đưa thuật ngữ “tượng trưng”
lên thành chủ nghĩa. Mallarmé được xem là một trong số những bậc thầy phát
ngôn cho Chủ nghĩa Tượng trưng về tư tưởng, quan điểm nghệ thuật. Theo
ông, “...Thơ viết ra phải để cho người ta nhẩm đoán từng điểm một, đó là ám
thị, là mộng tưởng. Đó là sự vận dụng hoàn mĩ của tính kì diệu...” và ông kết
luận: “Thơ mãi mãi là một câu đố, đó chính là mục đích của thơ văn.” Bài thơ
“Tiếng thở than” của Mallarmé đã thể hiện đúng tinh thần của thơ ca tượng
trưng
Hồn tôi hướng tới vầng trán em, ôi em gái dịu dàng
Nơi đang mơ một mùa thu rải những vết hoe vàng
Và hướng tới vùng trời lang thang của đôi mắt em huyền diệu
Vươn tới không trung, cũng như trong khu vườn rầu rĩ
15
Vươn lên, chung thủy, một tia nước trắng rì rào
Tới không trung nao nức của tháng Mười xanh xao tinh khiết
Đang soi mình trong bồn lớn nỗi ưu tư khôn xiết
- Hoa tường vi, xác pháo với cúc đồng –
Nhận chìm tôi hồn trí lẫn giác quan,
Tôi thấy mình trong cơn ngất hư hoang,
Kỷ niệm nào với hoàng hôn lại đến.
(Vĩnh An Nguyễn Văn Sơn dịch)
4. Arthur Rimbaud (1854-1891)
Arthur Rimbaud là một trong những người chú trọng nhiều nhất đến
năng lực đặc biệt của người làm thơ. Xuất hiện trong lịch sử thơ Pháp như
một thiên thần nổi loạn, phỉ báng cay độc những đường mòn cũ và dự báo
những viễn tượng của thơ hiện đại, Rimbaud đã đưa ra những định nghĩa mới
về người nghệ sĩ: nhà thơ – “người thấu thị”, nhà thơ – “tên ăn trộm lửa
thiêng”. Khước bác tư duy logic trong thơ, Rimbaud lấy ảo giác
(halluncination) làm chất liệu của sáng tạo. Ông tin rằng, nhà thơ là người có
khả năng thay đổi cách nhìn, cách cảm để làm nổi lên trong thơ một thế giới
mới dữ dội, sáng chói, trinh nguyên và trọn vẹn. Mặc dù sống một cuộc đời
ngắn ngủi chỉ mới 37 tuổi (thời gian sáng tác lại càng ngắn) nhưng Arthur
Rimbaud đã đánh dấu một mốc mới trong sự phát triển của thơ ca Pháp. Ông
là người có công trong việc làm giàu ngôn ngữ, hình tượng cũng như thể loại
thơ ca… Nửa cuối thế kỷ XX Arthur Rimbaud trở thành một hiện tượng văn
hóa đại chúng. Bài thơ “Nguyên âm” như là minh chứng cho sự độc đáo trong
cảm quan của Arthur Rimbaud về mối liên hệ giữa sắc màu và kí tự:
17
Nguyên âm
A đen, E trắng, I đỏ, U lục
O xanh: nguyên âm, nảy sinh tiềm tàng
A, bụng lông đen loài ruồi sặc sỡ
"Theo ý tôi, ánh sáng hiếm hoi trên khắp thế giới – đặc biệt trong thế giới tư
tưởng và văn chương – người ta thấy nó ít ỏi như kim cương so sánh với toàn
khối đất đá của hành tinh". Bên cạnh đó, Valéry đã từng so sánh thơ với
truyện: “Thơ đối lập với thể mô tả và kể lể biến cố. Nhà thơ phải tạo ra một
vũ trụ thơ, ý nghĩa không phải là yếu tố chính đối với nhà thơ, trong khi đối
với nhà viết truyện thì ý nghĩa là chính yếu. Nghĩa là làm thơ để cảm chứ
không phải để phân tích. Hiệu quả của lời thơ phải tự nhiên như hiệu quả
thẩm mỹ khác. Thơ là nghệ thuật của ngôn ngữ”. Có một học giả Pháp nhận
định : "Valéry đã khai sinh cho thơ triết lý, thơ đa cảm của phái lãng mạn,
cũng như thơ vô tình của phái Thi Sơn. Sau 900 năm lịch sử văn hoá Pháp,
Paul Valéry đã quan niệm thơ rất độc đáo, khác với tất cả những người đi
trước và phần đông lớp đi sau". “Những bước chân” (Les pas) và “Nghĩa
trang trên biển” là một trong những bài thơ có thể kể đến của Valéry:
Những bước chân
Anh im lặng mới nghe chân em bước
Những bước đi nhè nhẹ, thiên thần
Những bước đi lặng lẽ, giá băng
Đến với lòng anh mong chờ đằng đẵng
19
Bóng thần tiên, dáng người trong trắng
Bước ngập ngừng, êm dịu làm sao!
Trời đất hỡi! Những ân huệ em trao
Đang đến trên đôi chân trần, anh đoán!
Nếu từ làn môi em tươi thắm
Chuẩn bị trao cho một chất men nồng
Những nụ hôn nồng cháy ở nơi em
Để thoả nỗi lòng anh luôn khao khát
Như trái chín tan mềm trong khẩu vị
Để ngọt bùi biến đổi lúc có, không
Trong miệng tôi nghe trái chín lịm dần
Tôi ngửi thấy tương lai mùi khói nhạt
Rồi trời xanh hát mừng hồn siêu thoát
Đã sang bờ theo tiếng vọng xa bay
....
(David Lý Lãng Nhân dịch)
V. Vị trí của Chủ nghĩa Tượng trưng trong văn học Việt Nam:
* Phân biệt Chủ nghĩa Tượng trưng và Chủ nghĩa Siêu thực.
Chủ nghĩa Tượng trưng là một trào lưu nghệ thuật và là một quan
điểm triết học - mỹ học xuất hiện ở Phương Tây cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ
21
XX, bao gồm nhiều hiện tượng văn học - nghệ thuật như: thơ, kịch, tiểu
thuyết, hội hoạ … Chủ nghĩa tượng trưng quan niệm nghệ thuật không phải
phản ánh thế giới thực tại, thế giới của hiện tượng mà là một thế giới siêu
tưởng, một thế giới mơ hồ của sự tương hợp giữa ánh sáng, sắc màu, âm
thanh, mùi hương và nhạc điệu. Chủ thể tiếp nhận Chủ nghĩa Tượng trưng
cùng một lúc có thể cảm ứng tổng hòa thế giới âm thanh, sắc màu, mùi hương
bằng tất cả các giác quan tương ứng. Người sáng tác xem thế giới hữu hình
chỉ là hình ảnh, là cái bóng, là biểu trưng cho một thế giới mà ta không thấy
được. Họ quan niệm chính cái không nhìn thấy đó mới là bản thể của thế giới.
Chủ nghĩa Siêu thực là trào lưu văn nghệ xuất hiện vào khoảng sau
chiến tranh thế giới thứ nhất ở Pháp do Andre Breton và P.Soupault đề xướng
với sự tham gia của L.Aragon và P.Eluard. Quan điểm và thi pháp của họ
chống lại sự sùng bái các trào lưu văn học hiện thực và lãng mạn thế kỷ 19,
đưa ra một phương pháp sáng tác mà họ gọi là “lối viết tự động”, tức là ghi lại
những ảo giác tự phát theo “trạng thái của những người bị thôi miên”... nói
1.2 Cách thức tiếp nhận.
Phong trào Thơ Mới là nơi gặp gỡ, kết tinh văn hóa Đông - Tây. Các
nhà thơ thông qua trường học, sách báo, dịch thuật đã tiếp xúc, làm quen với
các trào lưu văn học hiện đại vốn đã phát triển hoàn chỉnh ở phương Tây. Vì
thế, trong lúc phôi thai cho đến khi những đứa con tinh thần của họ chào đời,
mầm sống ấy được nuôi dưỡng bằng nhiều nguồn dưỡng chất. Theo GS.
Hoàng Nhân, nó “không phải chỉ chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạng
Pháp đầu thế kỷ XIX mà còn chịu ảnh hưởng tổng hợp của các khuynh hướng
văn học cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX như chủ nghĩa tượng trưng, nghệ
23
thuật vị nghệ thuật, chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa siêu thực. Như vậy chỉ hơn
một thập kỷ, Thơ mới đã đi trọn con đường hơn một trăm năm thơ Pháp”.
Mỗi nhà thơ chịu sự ảnh hưởng của Chủ nghĩa Tượng trưng ở mỗi
phương diện khác nhau, phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của mình. Và ngay
trong mỗi nhà thơ, tính chất lãng mạn và tượng trưng luôn giao thoa cùng
nhau. Nhiều nhà nghiên cứu đã thừa nhận rằng bản thân phong trào Thơ mới
không tự nhiên xuất hiện mà đó là sự ảnh hưởng của những tác động khách
quan đến tiến trình văn học. Bản thân những tác giả của Thơ mới lúc bấy giờ
cũng đã thừa nhận ảnh hưởng của thơ ca Pháp, đặc biệt chủ nghĩa tượng
trưng. Nhà phê bình Hoài Thanh cũng chỉ ra “sự ám ảnh” của Baudelaire –
một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của trường phái Chủ nghĩa Tượng
trưng Pháp đối với nhiều tài năng của Thơ mới, Xuân Diệu đã học được của
Baudelaire “một nghệ thuật tinh vi”. Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên “đều chịu
rất nặng ảnh hưởng Baudelaire”. Chế Lan Viên phải thừa nhận “tôi yêu
Baudelaire từ bé, yêu tác giả Ác Hoa (Fleurs du Mal) từ tuổi hoa niên cho đến
bây giờ”. Huy Cận chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cả Baudelaire (Pháp) và
Edgar Allan Poe (nhà thơ Mỹ), người được coi là “mở đầu cho chủ nghĩa
tượng trưng”, đặc biệt là thủ pháp tương phản và cách sử dụng âm thanh, nhạc
làm, mà cái đẹp ở đây còn có một sức mạnh hết sức ghê gớm. Nó khiến nhà
thơ yêu cuồng nhiệt, muốn tan chảy vào đó, hòa vào đó. Đó là vẻ đẹp dù
không cần đến chất men cũng khiến người ngắm phải say và điên đảo.
Trước hết, có thể đề cập đến biểu tượng người kĩ nữ:
Ta thường có những buổi sầu ghê gớm
Ở bên em-ôi biển sắc rừng hương!
Em rực rỡ như một ngàn hoa sớm
Em đến đây như đến tự thiên đường
…
25