Dấu ấn của Chủ Nghĩa hiện đại trong văn xuôi I.Bunin Luận văn thạc sĩ - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ NHUNG DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN ĐẠI
TRONG VĂN XUÔI I.BUNIN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học nƣớc ngoài HÀ NỘI - 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Khoa Văn học và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã truyền giảng
cho tôi những kiến thức hữu ích trong quá trình học tập!

Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS.
Nguyễn Thị Như Trang – người đã tận tình, chu đáo hướng dẫn cho tôi thực hiện
và hoàn thành luận văn này!

Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, người thân –
những người luôn đồng hành, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình
học tập và thực hiện luận văn!

Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn Trần Thị Nhung
4

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1. Lí do chọn đề tài 6
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 14
5. Đóng góp của luận văn 15
6. Kết cấu luận văn 15
CHƢƠNG 1: SỰ SUY YẾU CỦA CỐT TRUYỆN TRUYỀN THỐNG 16
1.1. Quan niệm mới về cốt truyện của chủ nghĩa hiện đại 16
1.2. Cốt truyện đậm chất trữ tình 19

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

6

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ivan Alekseyevich Bunin (1870 – 1953) là một trong những nhà văn độc đáo
của văn học Nga thế kỉ XX. Ngay từ những tác phẩm đầu tay, ông đã nhận được
những đánh giá cao của các bậc đại thành. A.Chekhov tin rằng: “Bunin sẽ trở thành
nhà văn lớn”; M.Gorky nhiều lần khen ngợi I.Bunin như các bức thư của mình:
“Anh biết không? Bunin quả là một trí tuệ trác việt. Anh ấy cảm nhận vẻ đẹp thật
tinh tế” hay “Bunin là bậc thầy hàng đầu trong văn học Nga hiện đại”,…
Cùng các tên tuổi rực rỡ như A.Chekhov, M.Gorky, I.Bunin đã mở rộng
cánh cửa đưa nền văn chương Nga bước vào “thế kỉ Bạc”, tiếp bước ánh hào
quang của “thế kỉ vàng” thế kỉ XIX. Ông là nhà văn Nga đầu tiên được Viện Hàn
lâm Thụy Điển trao tặng giải thưởng Nobel vào năm 1933 vì “có tài năng trác
tuyệt về nghệ thuật mà với tài năng này, ông đã tái hiện được một tính cách Nga
điển hình trong văn xuôi của nền văn học Nga” [46].
I.Bunin mang một số phận đặc biệt phức tạp, lại nằm trọn trong giai đoạn
văn học cuối thế kỉ XIX, nửa đầu thế kỉ XX đang chuyển mình mạnh mẽ, nên sự
nghiệp của ông cũng mang đầy đủ sự phong phú và biến động. Bên cạnh những
sáng tác thơ ca, những công trình dịch thuật và tiểu luận, không thể không nhắc tới
một bộ phận vô cùng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông là truyện ngắn,
truyện vừa và tiểu thuyết. Đặc biệt, truyện ngắn của ông cùng với Chekhov,
Maupassant là những truyện ngắn mẫu mực của văn chương thế giới.
I.Bunin từng bị quên lãng trên quê hương và văn đàn nhân loại. Nhưng từ
những năm của thập niên 50 thế kỉ XX, tác phẩm của ông đã giành được nhiều sự
quan tâm, nghiên cứu từ giới phê bình bản địa và thế giới. Đến nay, Ivan Bunin đã
là gương mặt quen thuộc trong giới văn chương Âu – Mỹ nhưng đó vẫn là mảnh đất
hứa ở Việt Nam.

thời kì tan băng, tác phẩm của ông mới được xuất bản rộng rãi. Nhà văn bị lãng
quên dần trở về với dân tộc qua rất nhiều tập thơ, truyện ngắn, ký, tiểu luận. Cũng
từ đó, các công trình nghiên cứu về I.Bunin cũng ngày càng dày lên, không chỉ ở
Liên Xô mà trên toàn thế giới.
Ở Nga, những năm 1960 –1980, I.Bunin và các sáng tác văn xuôi của ông
được tiếp cận chủ yếu ở các phương diện như tiểu sử - con người, đề tài, nghệ thuật
8

miêu tả, phong cách sáng tác,… Các vấn đề nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực, sự
kết hợp giữa tính trữ tình và tự sự trong sáng tác của I.Bunin bắt đầu được quan
tâm. Văn nghiệp của I.Bunin được đặt vào dòng chảy chung của văn học Nga, đặt
trong cái nhìn xuyên suốt với sáng tác của các nhà văn Pushkin, Chekhov, Tolstoy,
Kuprin, Gorky,…
Từ những năm 90 đến nay, các sáng tác trong thời kì lưu vong của I.Bunin
được đặc biệt chú ý. Các nghiên cứu bắt đầu đi theo hướng chuyên sâu như công
trình như chuyên khảo I.A.Bunin: cuộc đời và sáng tác (1991) của
L.A.Smirnova. Một số hướng khác như nghiên cứu hiện tượng luận, thể loại tự
thuật,… đặc biệt là tìm hiểu chủ nghĩa hiện đại của L. Kolobaeva (1998) và tiểu
thuyết tượng trưng như E. Kalinia (1998) – khá gần gũi với hướng nghiên cứu
của luận văn. Những hướng nghiên cứu này đã đem lại những đã đem đến những
đánh giá mới mẻ cho các sáng tác của I.Bunin. Do hạn chế về ngoại ngữ nên
chúng tôi mới nắm được một cách khái quát và sơ lược về các công trình nghiên
cứu về I.Bunin bằng tiếng Nga. Chúng tôi sẽ có những đánh giá cụ thể hơn về
một số nghiên cứu đã được dịch ra tiếng Việt.
Ở các nước phương Tây, sáng tác của I.Bunin cũng được các nhà khoa
học nghiên cứu sâu và đưa vào các chương trình giảng dạy đại học như ở Mỹ,
Canada và Tây Âu. Các vấn đề về thời gian, không gian, thể loại được đặc biệt
quan tâm. Do những hạn chế về ngoại ngữ, chúng tôi chỉ xin đánh giá một vài
công trình nghiên cứu cụ thể, có liên quan trực tiếp tới nội dung của luận văn:
Between Tolstoy and Nabokov: Ivan Bunin Revisited (Tạm dịch: Giữa Tolstoy và

tác phẩm này (Hơi thở nhẹ) là truyện ngắn được không? Đó không phải là truyện ngắn
mà là sự lóe sáng bất ngờ của tâm thế, là chính cuộc sống bồi hồi run rẩy và chan chứa
tình yêu, là sự suy ngẫm đượm buồn bình thản của nhà văn…” [32, tr. 95]. Paustovsky
đã đánh giá cao về tài năng quan sát và miêu tả thiên nhiên cũng như đời sống bên
trong của con người: “Bunin đã nhìn thấy từng cử chỉ nhỏ, từng biến động nhỏ
trong tâm hồn con người và ông đã viết về thiên nhiên thật rõ ràng, nghiêm ngặt và
dịu dàng, một thiên nhiên không bao giờ tách biệt với cuộc sống” [32, tr. 96] hay
“Bunin là người có cảm nhận chân xác hiếm thấy về màu sắc và ánh sáng” [32, tr.
99]. Tuy vấn đề dấu ấn của chủ nghĩa hiện đại chưa thực sự được gọi tên và phân tích
10

một cách rõ ràng nhưng bài viết đã mở đường cho những nghiên cứu chuyên sâu và
có tính lí luận hơn về Bunin sau này.
Trong cuốn Tâm lí học nghệ thuật, L.Vygotsky đã dành chương bảy để nói
về tác phẩm Hơi thở nhẹ. Nhà khoa học này đã vận dụng những lí thuyết cấu trúc,
loại hình nhằm giải mã những vấn đề “sinh lí học”, những mâu thuẫn cảm xúc, bố
cục, các thủ pháp hình thức tiêu diệt nội dung của truyện ngắn này cũng như truyện
ngắn nói chung. Sự sắp xếp tuyến tính thời gian và trình tự các sự kiện trong tác
phẩm là yếu tố được Vygotsky quan tâm. Dựa trên một hệ thống các tình tiết chính,
ông đã tiến đến hành sơ đồ hóa truyện ngắn theo cách thức riêng. Cuối cùng nhà
nghiên cứu này kết luận: “Nếu chúng ta theo dõi những sự kiện ấy trình bày trong
truyện ngắn theo một trật tự như thế nào, thì thay vì cho sự phân bố nói trên ra đã có
bố cục của truyện ngắn và ta sẽ nhận ra ngay rằng nếu trên sơ đồ các sự kiện diễn ra
theo trật tự bảng chữ cái, tức là theo trình tự thời gian, thì ở đây cái hình tượng thời
gian ấy đã hoàn toàn bị phá vỡ” [40, tr. 281]. Bằng cách xáo trộn các mốc sự kiện,
Bunin đã tạo nên sự thay đổi ngoạn mục về ý nghĩa và chủ đề tác phẩm. Trật tự
tuyến tính không được coi trọng trong truyện I.Bunin tạo nên kiểu truyện “phi cốt
truyện”. Từ việc gọi ra đặc điểm riêng này của Bunin, nhà nghiên cứu đã khẳng
định dấu ấn của chủ nghĩa ấn tượng trong tác phẩm của Bunin. Vygotsky đã dành
cho truyện ngắn này những đánh giá cao: “nó như một mẫu hình của cả truyện ngắn

của chúng tôi.
Năm 1987, lần đầu tiên tác phẩm của Bunin được dịch ra tiếng Việt và xuất
bản. Những bài giới thiệu cho tập Những lối đi dưới hàng cây tăm tối (Hà Ngọc
dịch), Hơi thở nhẹ (Phan Hồng Giang dịch), bài viết I.Bunin – nhà văn, nhà thơ bậc
thầy trong văn học Nga hiện đại của Phạm Quốc Ca đăng trên Tạp chí văn học
nước ngoài, số 6, năm 2003,… đã giới thiệu tới độc giả những đặc điểm về nội
dung đề tài, bút pháp nghệ thuật nổi bật của văn xuôi I.Bunin. “Cái chất tạo hình –
biệt tài tả cảnh và khắc họa chân dung – cái chất nhạc trong thứ văn xuôi mượt mà,
dịu ngọt thì còn lưu lại mãi trong các văn phẩm của Bunin, đưa ông vào số nhà văn
ít ỏi trong văn học Nga đạt đến uy tín tuyệt đối về sử dụng ngôn từ.”[9, tr. 6],
“những truyện ngắn và truyện vừa – bộ phận cốt lõi trong di sản văn học của ông –
mới đọc tưởng chừng như đơn giản về cốt truyện, nhưng thực ra lại cực kì sâu sắc,
chúng bao la cả về thời gian lẫn không gian…”[7, tr. 7], “sau Chekhov, Bunin đã
12

đem lại sự đổi mới cho thể loại truyện ngắn Nga, mỗi truyện ngắn của ông vừa là
một áng văn xuôi lại vừa là một bài thơ, ông đã viết chúng với trí tuệ và trái tim của
một nhà tư tưởng, một nhà triết học và một nhà thơ” [7, tr. 8] hay “Di sản văn học
Bunin để lại không đồ sộ lắm… song được xem là sự đánh dấu một chương mới
trong lịch sử phát triển văn học Nga thế kỉ XX bởi sự sâu sắc, tinh tế cả về nội dung
lẫn hình thức nghệ thuật” [6, tr. 6]. Là những bài giới thiệu mang tính gợi mở cho
người đọc, vì thế những bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc định hình đề tài, phong
cách sáng tác của I.Bunin mà chưa có sự gợi mở về những sáng tạo nghệ thuật
mang dấu ấn của chủ nghĩa hiện đại.
Bài báo Sự chuyển biến của tư duy nghệ thuật trong văn học Nga cuối thế kỉ
XIX, đầu thế kỉ XX của PGS. TS Phạm Gia Lâm đăng trên Tạp chí văn học số 11,
năm 1997 đã nhận định về I.Bunin: “Bunin thể nghiệm kết hợp những truyền thống
hiện thực chủ nghĩa với những biện pháp nghệ thuật mới và những nguyên tắc kết
cấu gần với chủ nghĩa ấn tượng (impressionism)”. PGS. TS Đỗ Hải Phong cũng
cùng chung quan điểm này khi viết trong phần Khái quát của Giáo trình Văn học

hình tượng trưng.
Dẫu vậy, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đề cập đầy đủ đến những
biểu hiện các mặt của chủ nghĩa hiện đại trong văn xuôi I.Bunin, cũng như lí giải
nguồn gốc, lí do sự xâm nhập của chủ nghĩa hiện đại vào trong tác phẩm của ông.
Tóm lại, có thể thấy rằng, các sáng tác của Bunin đã nhận được sự quan tâm
của giới nghiên cứu ở Việt Nam tuy nhiên vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào
chuyên sâu và xứng đáng với tầm vóc của nhà văn này. Luận văn vì vậy là sự nỗ lực
vượt qua điểm dừng, lấp đầy khoảng trống mà những công trình trước đây để lại.
3. Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các tác phẩm văn xuôi của I.Bunin đã
được dịch ra tiếng Việt, khoảng ba mươi truyện ngắn và một truyện vừa Nàng Lika.
Luận văn khảo sát văn xuôi I.Bunin trong các ấn phẩm:
Hơi thở nhẹ, Phan Hồng Giang dịch, Nxb Hội nhà văn, 2006.
Những lối đi dưới hàng cây tăm tối, Hà Ngọc dịch, Nxb Văn học, 2013.
14

Một số truyện ngắn do Thái Bá Tân dịch và in trong Tạp chí văn học nước
ngoài, 1996 – 1; do Thái Hà, Vũ Đình Phòng, Phạm Quốc Ca, Nguyễn Văn Chiến
dịch, in trong Tạp chí văn học nước ngoài, 2003, số 6.
Nàng Lika, Phan Hồng Giang dịch, Nxb Tác phẩm mới, 1988.
Tuyển tập tác phẩm, Phan Hồng Giang giới thiệu, Hà Ngọc, Phan Hồng
Giang, Thái Bá Tân, Hữu Việt, Đoàn Tuấn dịch, Nxb Lao động – Trung tâm Văn
hóa ngôn ngữ Đông Tây.
Những truyện đã được dịch này đều là những tác phẩm rất đặc sắc, điển hình
cho phong cách và bút pháp của Bunin. Tuy nhiên, chúng tôi không phân tích mọi
khía cạnh của các tác phẩm này mà lựa chọn những mặt tiêu biểu và rõ rệt nhất để
làm nổi bật nên luận điểm của từng dấu ấn hiện đại.
3.2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng đến xác định những dấu ấn của chủ nghĩa hiện đại, cũng

phẩm của ông là gì? Bằng việc tìm hiểu những dấu ấn của chủ nghĩa hiện đại trên
các phương diện cơ bản của tự sự, trong một chừng mực nhất định, sẽ giúp bạn đọc
hiểu rõ hơn được những sáng tạo nghệ thuật hiện đại của I.Bunin cũng như có cái
nhìn tương đối toàn diện về phong cách sáng tác của ông. Trên cơ sở đó, những
đánh giá về vị trí của I.Bunin trong lịch sử văn học Nga hiện đại cũng trở nên có
căn cứ và thích đáng hơn.
Bằng việc đi sâu nghiên cứu một tác giả tiêu biểu - I.Bunin, bạn đọc có được
những hình dung cụ thể hơn về sự chuyển mình của văn học Nga giai đoạn cuối thế
kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Kết quả nghiên cứu của luận văn là những gợi ý hữu ích cho
những người nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử văn học Nga thế kỉ XX cũng như
các sáng tác của I.Bunin.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Sự suy yếu của cốt truyện truyền thống
Chương 2: Nhân vật và hành trình cảm xúc phi lí trí
Chương 3: Không – thời gian ấn tượng và tượng trưng.
16

CHƢƠNG 1: SỰ SUY YẾU CỦA CỐT TRUYỆN TRUYỀN THỐNG
Cốt truyện là hệ thống các sự kiện, biến cố, hành động trong tác phẩm tự sự, thể
hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cách trong một hoàn cảnh xã hội nhất định nhằm
thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Có thể nói đó là một thành phần quan trọng
trong tác phẩm văn xuôi. Các nhà nghiên cứu thuộc những trường phái khác nhau trên
thế giới, từ cổ điển đến hiện đại đều đề xuất tiếp cận tác phẩm nghệ thuật ngôn từ qua
hệ thống cốt truyện, bởi nó giúp ta tìm ra mô hình tự sự mang dấu ấn phong cách riêng
của nhà văn. Và cốt truyện cũng là một trong những yếu tố thể hiện rõ nhất dấu ấn của
chủ nghĩa hiện đại và làm nên sự khác biệt cho văn xuôi Bunin.
1.1. Quan niệm mới về cốt truyện của chủ nghĩa hiện đại
Cốt truyện là “hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng
và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức

Truyện ngắn của Chekhov chứa đựng những câu chuyện rất thực, mang đậm màu
sắc đời thường của đời sống xã hội và con người Nga đương thời. Mỗi số phận,
mảnh đời được kể qua một câu chuyện hết sức nhẹ nhàng mà thấm thía. “Chuyện
đời vặt vãnh”, “Cái chết của một viên chức”, “Nhà tu hành vận đồ đen”… đều hấp
dẫn bởi cốt truyện hết sức độc đáo.
Truyện ngắn O. Henry, Jack London hầu hết đều xây dựng cốt truyện đầy đủ
năm thành phần: phần mở đầu dẫn dắt con người tới các trạng thái, các mối quan hệ
để triển khai nội dung. Tiếp đến là những sự gặp gỡ và xung đột, tạo cơ sở cho các
mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm. Khi đó câu chuyện bước vào giai đoạn cao trào
và giải quyết. Kết thúc câu chuyện là khi có kết quả cuối cùng và cao trào được mở
nút. Soi chiếu vào câu chuyện quen thuộc Chiếc lá cuối cùng của O. Henry, bạn đọc
sẽ thấy rất rõ các thành phần cốt truyện này. Câu chuyện xoay quanh hoàn cảnh đặc
biệt trong số phận của nhân vật Johnsy Johnsy, cô ngày ngày nằm trên giường bệnh
và nhìn những chiếc lá thường xuân rơi, khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống cô cũng sẽ
về với đất. Kịch tính xảy ra vào ngày cuối cùng, khi trên cành chỉ còn một chiếc lá,
ai cũng nghĩ rằng Johnsy sẽ qua đời; nhưng cụ Behrman đã xuất hiện. Cụ đem lại sự
sống cho Johnsy nhờ tác phẩm nghệ thuật của mình nhưng sau đó cụ lại ra đi. Từng
18

bước phát triển của cốt truyện đã ghi lại đầy đủ những biến chuyển trong suy nghĩ
và số phận nhân vật. Tình huống bất ngờ đã đem lại cái kết có hậu cho tác phẩm:
Johnsy tin tưởng vào sự sống và cụ Behrman có được tác phẩm cuối cùng xứng
đáng là tuyệt tác. Có thể thấy rất rõ rằng cốt truyện truyền thống chặt chẽ, đầy đặn
từ mở đầu đến kết thúc, tạo nên sự ổn định cho tác phẩm.
Bản thân các thể loại tự sự không ngừng biến đổi qua các giai đoạn văn học
nên các thành phần như cốt truyện thay đổi theo thời gian cũng là điều dễ hiểu. Có
thể thấy những quan niệm về cốt truyện của chủ nghĩa hiện đại có nhiều biến
chuyển rõ rệt.
Truyện ngắn hiện đại không phủ định tính cần thiết của cốt truyện nhưng nó
không còn là yếu tố mang tính quyết định. Câu chuyện được viết ra đôi khi chẳng

thay đổi hoàn toàn cấu trúc quen thuộc của cốt truyện truyền thống. Nhà văn không
quá dụng công vào việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, các biến cố đầy kịch
tính. Thậm chí mở đầu và kết thúc – thành phần đặc biệt quan trọng đối với văn
xuôi truyền thống, cũng không được quan tâm, thậm chí còn dang dở. Bạn đọc hiện
đại không ngại ngần đón nhận kiểu cốt truyện tâm lí bên cạnh cốt truyện hành động
quen thuộc và kiểu văn xuôi đậm đặc chất trữ tình. Những cách tân về cốt truyện
của chủ nghĩa hiện đại đã in dấu khá rõ nét trong văn xuôi I.Bunin, làm nên màu sắc
lạ cho các tác phẩm của ông.
1.2. Cốt truyện đậm chất trữ tình
1.2.1. Cốt truyện tâm lí
Truyện ngắn hiện đại thiên về tính trữ tình, nghĩa là gần với thơ, bạn đọc sẽ
cảm nhận được tâm thức và nhân cách nhân vật rõ hơn cả những sự kiện, hành động
được kể. Yếu tố trữ tình tăng dần, yếu tố tự sự giảm dần trong văn xuôi Bunin phần
nào xuất phát từ quan niệm của nhà văn, rằng “viết văn là cố gắng chiêm nghiệm
khuôn mặt của thế giới và để lại nơi đó khuôn hình của tâm hồn mình”. Vì thế sáng
tác của ông là sự kết hợp giữa kể chuyện và diễn tả cảm xúc trữ tình. Bunin là nhà
văn của phong cách ấn tượng nên truyện ngắn của ông bộc lộ mãnh liệt tính chủ
quan, sự suy tư của nhà văn về đời sống – chính là những “dấu ấn tâm hồn mình”.
Để phản ánh thế giới và con người thông qua cách nắm bắt những ấn tượng tức thời,
20

vụt thoáng, Bunin cần đến một phong cách kể chuyện tự do, tự sự phi cốt truyện là
một lựa chọn.
Đọc Bunin, người đọc không khỏi liên tưởng tới lời nhận xét của Pauxtopxki
về cái gọi là chất thơ của văn xuôi, đại ý rằng đó là khả năng nhìn cuộc sống, lúc
nào cũng như mới, như lần đầu tiên được thấy, trong tất cả dáng vẻ tươi nguyên và
đầy ý nghĩa của từng hiện tượng cho dù là có vẻ nhỏ nhặt nhất. Đó là cái nhìn tinh
tường thu nhận được mọi màu sắc, khả năng dùng ngôn ngữ mà vẽ lên sự vật như
hiển hiện, không phải phác tả mà chỉ ra, phơi bày được ra hiện thực, hành vi và tâm
thế con người. Đó là khả năng cảm nhận và truyền đạt chất thơ đậm đà, tản mát

không bao giờ tôi được hưởng lấy một phút yên tĩnh”, “tôi đã quen với cái cảnh
sống của một người trong lòng có điều uẩn khúc đau đớn nhưng bề ngoài tôi vẫn
sống như mọi người khác” [9, tr. 502]. Nhân vật không đơn giản như vẻ bề ngoài
mà ta quan sát được, cốt truyện cũng lựa chọn đi theo dòng cảm xúc, tâm lí bên
trong của nhân vật – đi vào bề sâu chứ không chờn vờn với những hành động, lời
nói bề nổi. Những hình ảnh về cuộc sống khách quan dường như cũng được nhà văn
làm cho mờ nhòa, không còn sắc cạnh nữa. Giống như nghệ thuật điện ảnh hiện đại,
chỉ nhân vật chính với dòng chảy cảm xúc hiện lên rõ nét, tất cả cảnh vật bên ngoài
đều được làm mờ, trở thành phông nền để tôn lên nhân vật chính.
Cao trào của cốt truyện tâm lí là sự phát triển đến đỉnh điểm của cảm xúc, tư
tưởng của nhân vật. Những cảm xúc trong truyện của Bunin không đến mức đấu
tranh, giằng xé, day dứt, phần lớn chỉ là những tâm trạng nhớ, buồn, cô đơn, bâng
khuâng – nhẹ nhàng và tinh tế nhưng khi dồn nén, chúng cũng đủ để làm nên cao
trào. Trong Nàng Lika, mạch cảm xúc của nhân vật xưng “tôi” và tâm lí của nàng
Lika là những miếng ghép quan trọng trong cốt truyện của chương tiểu thuyết thiện
toàn này. Những chuyến đi, những lần gặp gỡ rồi chia xa giữa “tôi” và “nàng” sẽ
chỉ là những sự lặp lại nhạt nhẽo nếu thiếu đi những gia vị cảm xúc. Nàng Lika sẵn
sàng đánh đổi tương lai yên ổn với một lái buôn giàu sang để bắt đầu một hành trình
dài tới vùng Ucraina, sẵn sàng “từ bỏ bản thân mình” và tin rằng ở người đàn ông
mình yêu “được có cái gọi là quyền được có thứ tình cảm và hành vi đặc biệt” [6, tr.
254]. Những hi vọng: “Ít nữa chúng mình làm lễ cưới anh ạ. Em vẫn rất muốn thế
mà sau nữa, có gì đẹp hơn lễ cưới không! Có lẽ rồi chúng mình sẽ có con…”[6, tr.
22

253-254] dần tan theo năm tháng. Những chuyến đi nhân danh “chất nghệ sĩ”, tìm
kiếm những điều mới lạ và niềm say mê của nhân vật “tôi” dần đẩy cảm xúc của
Lika lên đến cao trào. Ban đầu là sự trách móc: “Anh ngày càng ít để ý đến em hơn!
Nhất là khi không phải chỉ có chúng mình bên nhau. Em sợ rằng em đã thành cái gì
đó như không khí đối với anh, không thể sống thiếu nó nhưng cũng chẳng để ý tới
nó” [6, tr. 248]; lớn dần thành nỗi buồn lo cố cất giấu, một chút lòng ghen, đọng

cốt truyện. Toàn bộ câu chuyện là những suy tư dàn trải, miên man của các nhân
vật. Câu chuyện rất khó để kể – chỉ cảm được, thậm chí còn rất khó nhớ được các
chi tiết, sự kiện trong truyện – chỉ lưu giữ được những tâm trạng mà nhân vật và
bản thân người đọc vừa trải nghiệm mà thôi. Bởi thế, khi nói về truyện Bunin, nhà
nghiên cứu Phạm Gia Lâm gọi đó là những “sườn truyện lỏng lẻo”.
Những quả táo Antonov là một truyện ngắn thể hiện rõ nét kiểu truyện phi
cốt truyện của Bunin. Đọc tác phẩm bạn đọc nhận thấy sự kết hợp của những tình
tiết, những cảm nhận của nhà văn khi nhớ về quê hương mình. Đó là những buổi
sáng mùa thu trong các khu vườn “khô và thưa lá”, với mùi thơm nhẹ nhàng của táo
Antonov, những mùa táo bội thu, những ngày hội rực rỡ, những buổi đi săn trong
trang trại quý tộc… Nhìn bề ngoài ta thấy, bốn mảnh ghép dường không có liên hệ
gì với nhau, các chi tiết nhà văn “zoom” cận cảnh cũng không có mối liên quan chặt
chẽ mà chỉ đơn thuần là những điểm nhấn ấn tượng theo cảm quan của nhà văn.
Bạn đọc khó lòng tìm thấy một cốt truyện hoàn chỉnh và xuyên suốt. Thế nhưng
điều làm nên sự thống nhất lại chính là dòng chảy tâm trạng của nhân vật xưng
“tôi”, của một tâm hồn yêu mến, nuối tiếc về những nét đẹp của quá khứ một đi
không trở lại.
Say nắng là một truyện như không có chuyện. Nếu kể lại câu chuyện, có lẽ
bạn đọc chỉ cần tóm gọn trong vài ba câu ngắn: Nàng thiếu phụ gặp chàng trung úy
trên tàu. Sau một đêm, nàng bỏ đi, để lại chàng day dứt, nhớ nhung, đau khổ.
Nhưng rồi chàng cũng nhanh chóng trở về với cuộc sống hiện tại. Cốt truyện chỉ
bám vào một sự kiện duy nhất là sau một đêm nàng thiếu phụ kiên quyết bỏ đi, sau
đó cốt truyện phát triển không hề chặt chẽ. Bạn đọc có thể cắt bớt, có thể thêm vào
cốt truyện mà không làm ảnh hưởng tới nội dung của truyện…
24

Natali, được kể từ ngôi thứ nhất, cứ lặp đi lặp lại những cảm xúc tình yêu và
dục vọng của nhân vật xưng “tôi” với Sonia và Natali trong “mùa hè năm ấy”. “Mọi
việc cứ phẳng lặng trôi qua theo cái thứ tự của một ngày hè”, ngày hôm nay tiếp nối
ngày hôm qua, nhân vật ngày càng gắn bó với Sonia hơn, “gắn bó với những cuộc

những câu chuyện sự việc có khả năng trở thành biến cố, Bunin vẫn cố ý lảng tránh
để nó chỉ dừng lại là sự việc đơn thuần.
Xây dựng cốt truyện thiếu vắng biến cố, giảm nhẹ kịch tính là một thủ pháp
góp phần tạo nên chất trữ tình đặc trưng trong văn xuôi I.Bunin. Nhà văn không
dành đất cho những nút thắt đột ngột và mâu thuẫn đối kháng nảy lửa giữa các
tuyến nhân vật, thay vào đó, Bunin chỉ đưa vào trang viết những gì quen thuộc của
cuộc sống, hướng ngòi bút về phía các nhân vật mà nhà văn tình cờ kết nối trong
một cảm nhận chủ quan. Mỗi truyện đơn giản chỉ là sự truyền đạt lại những cảm
nhận tinh tế và đầy chủ quan của tâm hồn con người. Sức hấp dẫn của văn xuôi
Bunin không nằm ở các biến cố, cao trào mà cuốn hút bởi những cảm nhận tinh tế
và đầy chủ quan của ấy.
Trong Mùa thu lạnh bạn đọc khó tìm được một sự kiện nào thực sự là sự
kiện – nghĩa là đem đến bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật. Từ khi thanh xuân cho
tới khi sắp sửa ra đi, nhân vật “tôi” đã trải qua bao nhiêu sóng gió, rất nhiều sự việc
trong đời có tiềm năng trở thành sự kiện như sự hi sinh của người yêu ở Galixia,
cuộc hôn nhân với một người lính đã đứng tuổi có tâm hồn tuyệt vời, cái chết của
người chồng,… Nhưng thời gian văn bản dành cho những sự việc này không đủ dài,
tất cả lướt qua như một thước phim tua vội. Toàn văn bản chỉ vỏn vẹn gần 7 trang,
nhà văn dành tới hơn 4 trang để viết về cuộc chia tay của gia đình và nhân vật “tôi”
với người cô yêu trước khi ra chiến trường. Toàn bộ thời gian ba mươi năm sau khi
nghe tin về sự hi sinh của người yêu được kể lại trong phần dung lượng ngắn ngủi
còn lại. Những sự kiện trong đời nhân vật “tôi” được kể lại rất nhanh, chỉ có phần
kết quả mà không có cái gốc, cái nguyên cớ dẫn dắt. Phải chăng đó cũng là một
dụng ý của nhà văn. Ba mươi năm qua nhân vật “tôi” vẫn sống, vẫn chịu đựng được
cái chết của người yêu thuở thanh xuân nhưng dường như cuộc sống ấy rất hời hợt,
“những gì còn lại chỉ là một giấc mơ thừa.” Giấc mơ thật sự đã chôn vùi trong buổi

Trích đoạn Sự giao thoa của vô thức và ý thức Hình tƣợng tƣợng trƣng Hình tượng phụ nữ Nga Hình tượng con người nhỏ bé Thời gian ấn tƣợng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status