1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÔN ĐẠI CƯƠNG LÝ LUẬN VĂN HỌC
NHÓM PHẢN BIỆN ĐỀ TÀI 1
Văn học luôn gắn liền với cái đẹp và cái thiện. Tuy nhiên, nhiều tác
phẩm văn học lại miêu tả cái xấu, cái ác. Anh, chị lý giải như thế
nào về vấn đề này? Hãy cho biết ý kiến của anh, chị cùng với
những dẫn chứng trong văn học Việt Nam và thế giới.
Giảng viên: ThS Lê Ngọc Phương
Khoa: Văn học và ngôn ngữ
Danh sách thành viên:
Họ và tên
01. Vương Thị Ngọc Hân
02. Lê Quốc Sĩ
03. Vũ Ngọc Minh Tâm (Trưởng nhóm)
04. Phạm Trần Tôn Phương
05. Dương Tuyết Mai
06. Trần Thị Phượng
07. Võ Ngọc Bảo Châu
08. Phạm Thị Ngọc Chi
09. Phạm Thị Hồng Cúc
10. Nguyễn Phú Cường
11. Nguyễn Thùy Dương
12. Lê Thúy Hà
13. Mai Thị Hà
14. Đặng Thị Thúy Hồng
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
Ngôn Ngữ
2
MỤC LỤC
Đề mục
Trang
I.
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 3
II.
PHẦN NỘI DUNG .................................................................................................................... 4
PHAቺ NMƠቶĐAቺ U
“Nếu nhà thơ không tham gia vào việc hoàn thành thế giới thì thế giới đã không được
đẹp đã như thế này” (Gamzatov). Một trong những nhiệm vụ của nhà văn, nhà thơ là tái
hiện lại cuộc sống vào trang sách, phát hiện cái đẹp và thâm nhập những mảnh đời. Bởi
“văn học luôn gắn liền với cái đẹp và cái thiện”. Nhờ đó ta tìm ra chân lý, cho ta lòng yêu
cuộc sống và biết đồng cảm, yêu thương. Nói như Gamzatov thì nhà thơ, nhà văn đã góp
phần nuôi dưỡng cái đẹp trong mỗi chúng ta, làm nên diện mạo đẹp đẽ của thế giới.
“Tuy nhiên, nhiều tác phẩm văn học lại miêu tả cái xấu, cái ác”. Bên cạnh cái đẹp, cái
nên thơ, nhà văn, nhà thơ còn thể hiện cả những giọt nước mắt, cả cái bi thảm, sầu muộn.
Văn học là nhân học. Mỗi cuộc đời và một tác phẩm nghệ thuật, những trang sách, những
áng văn viết về cuộc sống cơ hồ đã là một tác phẩm nghệ thuật. Toàn bộ cuộc sống sống loài
người đều được phản ánh trên những trang sách. Những dân tộc, những con người, những
cuộc tình dang dở, những giọt nước mắt chia ly, những nụ cười hạnh phúc, những cuộc đấu
tranh, những lầm than, những máu và nước mắt…. Cái đẹp mà văn học đem lại không phải
cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật. “Tác
phẩm nghệ thuật đạt tới cái đẹp theo nghĩa: mang được sự thật sâu xa của đời sống bên
ngoài, đồng thời mang được sự thật tâm tình của con người." (Lê Đình Kỵ - Cảm nhận văn
học). Hay như một nhà phê bình từng viết "Những cuộc chiến qua đi, những trang lịch sử
của từng dân tộc được sang trang, các chiến tuyến có thể được dựng lên hoặc san bằng.
Nhưng những tác phẩm đi xuyên qua mọi thời đại, mọi nền văn hóa hay ngôn ngữ, cuối
cùng vẫn nằm ở tính nhân bản của nó. Có thể màu sắc quốc kỳ, ngôn ngữ, hay màu da
chúng ta khác nhau. Nhưng máu chúng ta đều có màu đỏ, nhịp tim đều giống nhau. Văn học
- cuối cùng vẫn là viết về trái tim con người". Đó là lý do vì sao trong văn học lại có sự
nghịch dị “văn học luôn gắn liền với cái đẹp và cái thiện” và cũng “miêu tả cái xấu, cái
ác”. Bởi “suy cho cùng cái đẹp là đứa con ruột của đời sống. Hư vô tuyệt đối không có
gạch đá và vôi vữa, không có hạnh phúc lẫn bi ai, thì lấy gì để mà làm chất liệu tạo hình
nên cái gọi là “Cái đẹp”?”(Miên Di).
thường gắn liền thành hai chữ ‘tốt đẹp’). Cái tốt ở cấp độ bình thường đối với con người là
cái hữu ích. Một cái gì không hữu ích cho thân tâm, thậm chí có hại thì hẳn không thể nói là
5
đẹp. Uống một ít bia, cho vui, cho có không khí gặp mặt, thì đó là một việc đẹp. Nhưng nếu
uống say be bét, không còn tự chủ được, thì đó hẳn là một điều không đẹp, không tốt. Tác
phẩm của nhà văn có thể tả những điều hư hỏng, tệ hại ở tận đáy xã hội. Nhưng nếu tả thực
chỉ để người ta tiếp tục trầm mình trong bản năng thôi, thì hẳn là cuốn sách ấy không đẹp và
không tốt. Sự vươn lên của con người là một điều vừa đẹp và vừa tốt. Cái đẹp của con người
thì nội dung là thiện, hình thức là mỹ, nội dung quyết định hình thức.
1.2. QUAN NIỆM VỀ CÁI THIỆN
Theo nghĩa triết học, Thiện là “điều tốt về phạm vi đạo đức, là lý tưởng thỏa mãn ý chí
con người, cũng như chân thỏa mãn lý trí và mỹ, thỏa mãn tình cảm” (Trần Văn Hiến, Từ
điển và danh từ triết học, Ra khơi, Sài Gòn, 1966). Mạnh tử thì cho rằng “Ai cũng có lòng
thương người…Nếu thình lình thấy một đứa nhỏ sắp ngã xuống giếng, ai cũng có lòng bồn
chồn thương xót”. Đó là minh chứng cho một trong tứ đoan (mầm thiện) gồm: lòng trắc ẩn,
lòng tu ố, lòng từ nhượng, lòng thị phi. Mạnh tử thường dùng “ hiếu, đễ, trung, tín” để nói
lên nội dung cụ thể của thiện :
Hiếu : thể hiện cụ thể mối quan hệ thích đáng giữa con với cha mẹ.
Đễ : thể hiện cụ thể mối quan hệ thích đáng giữa tôi với anh chị em.
Trung : thể hiện cụ thể mối quan hệ thích đáng giữa tôi với tổ quốc hay người chủ.
Tín : thể hiện cụ thể mối quan hệ thích đáng giữa tôi với bạn bè.
Nên thiện thể hiện cụ thể mối quan hệ thích đáng giữa tôi với tha nhân.
Trong Phật giáo, Thiện (Pali :kusala) là lành, tốt, có đạo đức, thuận theo đạo đức có
ích cho mình và cho người, là trạng thái tiêu diệt ác pháp. Pythagore quan niệm “sự thiện
không những như là giá trị luân lý mà còn như cái đẹp chân lý và hạnh phúc”. Trong Công
Giáo, “cái hữu thể tất yếu, cái thiên lý chí thiện đó chính là Thiên chúa, Thiện chính là bản
đẹp là vì nó không chân, không thiện. Một sự vật sở dĩ là chân thật chính là do nó không
đẹp và không thiện. Mà chỉ vì nó không đẹp, không tốt, nó mới là chân. Chân thiện mĩ căn
bản là tách rời nhau chứ không phải thống nhất với nhau.” Weiber cũng cho rằng ba giá trị
chân-thiện-mĩ có tính loại trừ nhau, không nhất thiết phải thống nhất.
7
Trong thực tế, chân-thiện-mĩ khó có khả năng thống nhất với nhau. Theo Lão Tử trong
Đạo đức kinh, cái thật và cái đẹp không đi đôi: “Lời thật thì không đẹp, mà lời đẹp thì
không thật. Người tốt không giỏi nói lí, người khéo nói lí thì không tốt; người hiểu đạo
không biết rộng, kẻ biết rộng không biết đạo” (Tín ngôn bất mĩ, mĩ ngôn bất tín; thiện giả
bất biện, biện giả bất thiện; tri giả bất bác, bác giả bất tri). Lời nói thật thì khó nghe. Lời
nói ngọt ngào, bùi tai đều là dối trá. Mà lời đã giả dối thì cũng không có giá trị thiện căn đạo
đức gì cả. Chân, mĩ, thiện, biện, tri, bác là các phương diện khác nhau, không thống nhất với
nhau. Phạm vi của Lão Tử có hẹp hơn. Ông chỉ bàn quan hệ giữa lời thật và lời đẹp, một
quan hệ có tính loại trừ. Nhưng qua đó ta cũng có thể thấy quan hệ của chúng trong văn học,
nghệ thuật ngôn từ. Văn học thật, không đẹp, văn học đẹp không thật.
Trong thời cận đại, nhà thơ tượng trưng Pháp Baudelaire có lẽ là một trong những
người chủ trương duy mĩ, đầu tiên phản đối sự thống nhất đó. Ông nói : “Mục đích của thi
ca không phải là nâng con người lên cao hơn các lợi ích phàm tục, nếu nhà thơ chạy theo
một mục đích đạo đức thì ông ta sẽ làm suy yếu đi sức mạnh của thơ. Thơ không thể đặt
ngang hàng với khoa học và đạo đức, nếu không thơ sẽ suy tàn và chết. Thơ không lấy chân
thực làm đối tượng, nó chỉ lấy bản thân nó làm mục đích.” Một chỗ khác ông viết: “Thơ
không thể lấy bất cứ cái gì ngoài nó làm mục đích, chỉ có những bài thơ viết đơn thuần ra vì
niềm vui mới vĩ đại và cao quý, mới xứng đáng với tên gọi của thơ.” Theo ông cái thật, cái
thiện cái đẹp ở những vị trí khác nhau, có chức năng khác nhau, nếu thống nhất thì cái này
phá hoại cái kia. Thơ chỉ lấy thơ làm mục đích. Quan niệm này có chỗ thống nhất với Lão
Tử. Một thời gian dài chúng ta phê phán quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật, song ngày nay
không thể không thấy tính hợp lí nhất định của nó.
thuật. Ranh giới của sex trong nghệ thuật và khiêu dâm nằm ở chỗ một bên là giá trị tinh
thần, còn bên kia là giá trị vật chất, vật thể. Trong văn học cách mạng trước đây, một nụ hôn
đã bị coi là đồi trụy thì hiện tượng sex trong văn học hôm nay có thể coi là sự kiện thay đổi
nhãn quan về giá trị thẩm mĩ, chân thực và đạo đức. Trong thực tiễn phê bình, nếu ta theo
tiêu chí đạo đức, tức dựa vào tác dụng giáo dục mà dánh giá thì tiêu chí thẩm mĩ có thể bị hi
sinh. Như cụ nghè Ngô Đức Kế đánh giá Truyện Kiều, khi xét theo tiêu chí đạo đức, cụ chỉ
thấy tác dụng xấu của nó: “ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi, tám chữ ấy không tránh
đâu cho khỏi”. Cụ cũng thấy Truyện Kiều văn chương đẹp, nhưng không thấy thống nhất
đâu cả. Trong sáng tác, nếu chạy theo tác dụng tuyên truyền, giáo dục thì tính chân thực
thường bị vi phạm.
9
1.4. VĂN HỌC LUÔN GẮN LIỀN VỚI CÁI THIỆN VÀ CÁI ĐẸP
Văn học là nghệ thuật của ngôn từ. Cái đẹp trong văn học của mỗi tác phẩm lại không
giống nhau, điều đó phụ thuộc vào quan niệm riêng của mỗi tác giả. Cái đẹp trong văn học
thông thường là nhân vật đẹp: phẩm chất đẹp và hành động đẹp, thiên nhiên đẹp, ý nghĩa tác
phẩm…
Cái đẹp trong thiên nhiên chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống, cũng như
trong văn học, nó luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho con người:
Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp.
Mây gió trăng hoa tuyết núi sông
("Cảm tưởng đọc thiên gia thi" của Hồ Chí Minh)
Vẻ đẹp trong thiên nhiên là thước đo đầu tiên của vẻ đẹp trong đời sống con người.
Thế giới do con người sáng tạo nên chỉ là thiên nhiên thứ hai. Thứ hai bởi vì nó là sự mô
phỏng của thiên nhiên thứ nhất, khi sáng tạo theo qui luật của cái đẹp, con người đã mượn
thiên nhiên như một khuôn mẫu, một thước đo. Chẳng hạn, màu sắc, âm thanh trong hội
họa, trong âm nhạc, trong đời sống của con người là sự mô phỏng những màu sắc, âm thanh
trong tự nhiên. Thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận, niềm say mê của con người, là đối
Một xe trong cõi hồng trần như bay”
Ngoài thiên nhiên tâm trạng Nguyễn Du còn dành những câu thơ đẹp nhất để miêu tả
thiên nhiên theo bốn mùa. Đó là cảnh ngày xuân:
“ Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Màu xanh của cỏ làm nền cho bức tranh màu trắng của hoa lê tô điểm cho bức tranh
thêm trong sáng tinh khôi, nhẹ nhàng mà quyến rũ.
Hay là một đêm hè:
11
“ Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông”
Một cảnh chiều thu:
“ Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”
Cảnh một ngày đông:
“ Trời hôm mây kéo tối sầm
Dầu dầu ngọn cỏ đầm đầm cành sương”
Và chỉ một câu thơ thôi mà Nguyễn Du tả đủ cả bốn mùa trong năm:
“ Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”
Nguyễn Du đã chỉ ra đặc trưng của từng mùa trong năm và kết hợp các mùa ấy trong
một câu thơ. Để thấy được sự luân chuyển của quy luật tự nhiên về các mùa. Qua Truyện
Kiều, Nguyễn Du đã khắc họa rấ thành công vẻ đẹp của thiên nhiên.
Trong Vội vàng của Xuân Diệu, đó là một thiên đàng nơi hạ giới, một người tình
quyến rũ, thanh tân :
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
thành cái đẹp.
Ngoài cái đẹp của thiên nhiên, trong văn chương, đặc biệt và quan trọng hơn cả, là Cái
đẹp của con người. Con người là sản phẩm cao nhất và hoàn thiện nhất của tự nhiên, xã hội.
Shakespeare ca ngợi con người "Kì diệu thay là con người! Con người cao quí làm sao về lí
trí, vô tận làm sao về năng khiếu. Về hình dung và vóc dáng, nó đẹp tựa thiên thần, về trí tuệ
nó có thể sánh tài thượng đế. Thật là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài". Trong
quá trình phát triển của lịch sử, có rất nhiều quan niệm khác nhau về sự hình thành của con
13
người và cái đẹp của con người (Quan điểm của Thiên chúa giáo, quan điểm Ấn độ giáo,
quan điểm của Empédocle...). Chúng ta cho rằng để trở thành con người như ngày hôm nay,
nhân loại đã phải trải qua một quá trình lao động và cái đẹp của con người cũng không thể
tách rời khỏi quá trình lao động. Cái đẹp của con người thường gắn liền với những vấn đề
đạo đức và những hoàn cảnh xã hội. Nếu người đàn bà đẹp trong quan niệm của phương
Ðông nói chung là công, dung, ngôn, hạnh thì Tsêkhôp cũng có ý kiến tương tự về con
người nói chung: “Tất cả mọi thứ trong con người đều phải đẹp, từ mặt mũi áo quần đến
tâm hồn, tư tưởng”. Ðánh giá, nhìn nhận cái đẹp của con người thật khó có thể tách rời với
những vấn đề đạo đức, chính trị và hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể.
Con người là sản phẩm của tự nhiên, vì vậy cái đẹp của con người trước hết phải mang
tính vật chất. Có thể coi đó là vẻ đẹp, cái đẹp bên ngoài được thể hiện qua dung nhan, sự cân
đối của cơ thể…Không nên coi nhẹ vẻ đẹp này vì cái răng, cái tóc là góc con người.
Nguyễn Du đã ca tụng vẻ đẹp của chị em Kiều:
"Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
lãng mạn coi cái Đẹp ở sự thành thực của trái tim, xúc cảm. Cái Đẹp trong văn chương đi từ
cái đẹp thiêng đến cái đẹp phàm tục trần thế, cái đẹp lí tưởng của thời đại tới cái đẹp của cá
nhân, cá tính; từ cái đẹp con người không thể với tới, đạt được (cái đẹp viển vông) đến cái
đẹp con người có khả năng chiếm lĩnh trong đời sống này, từ cái đẹp ý niệm đến cái đẹp
khách quan. Lưu Hiệp nói: “Việc thấy được cái đẹp, gốc ở tình cảm và tư tưởng nhà
văn”. Xuân Diệu ngỡ ngàng sung sướng khi nhận ra thiên đường trên mặt đất, thi sĩ cho
rằng cuộc sống đương mơn mởn xanh non, tràn đầy hương sắc âm thanh rạo rực xuân tình là
16
đẹp. Hồ Dzếnh thấy “tình chỉ đẹp khi còn dang dở”, còn Thế Lữ xem cái Đẹp ở chốn bồng
lai tiên cảnh. Nguyễn Tuân quan niệm người giữ vững thiên lương là đẹp, Thạch Lam coi
cái Đẹp ở khao khát thay đổi cuộc sống ao tù, bằng phẳng, tăm tối. Với Nam Cao, con
người đẹp phải biết giữ vững nhân cách trước cái đói miếng ăn, môi trường sống đẹp là môi
trường phải vun đắp cho tài năng nảy nở, nâng đỡ ước mơ cao đẹp của con người, hoặc ít ra
đảm bảo những điều kiện tối thiểu cho con người được sống đời lương thiện. Trong cảm
quan của nghệ sĩ này “cái đẹp cứu vớt nhân loại”, nhưng trong nhãn quan của nhà văn kia
thì người đẹp, người tài thường gặp cảnh khốn cùng. Số khác thì miêu tả cái Đẹp thường
mang tới tai hoạ “khuynh quốc khuynh thành”. Không ít nhà văn qua cái bi, cái hùng đã chỉ
ra cái Đẹp nhân văn.
Theo Nguyễn Đình Thi: “Nói nghệ thuật tức là nói đến sự cao cả của tâm hồn. Đẹp
tức là một cái gì cao cả. Đã nói đẹp là nói cao cả. Có khi nhà văn miêu tả một cái nhìn rất
xấu, một tội ác, một tên giết người nhưng cách nhìn cách miêu tả phải cao cả.” Còn Sê
khốp thì cho rằng: “Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái đẹp cái
nhân đạo của lòng”
Đọc Nam Cao, ta lại hình dung đến không khí ngột ngạt của những năm 1930– 1945
với những con người từng bước chông chênh trên con đường đi tìm nhân cách. Chí Phèo
đắm mình trong một chuỗi cơn say triền miên để phút cuối cùng tự đốt cháy mình lên với
những câu hỏi nhức nhồi “Ai cho ta lương thiện?”, một anh Hộ luôn đề cao nguyên tắc tình
cuộc đời phức tạp, góp phần “thanh lọc” tâm hồn và lương tâm con người để cuộc sống tốt
đẹp hơn. Văn học – cuộc sống mãi mãi không thể tách rời nhau và cả hai đều xuất phát, đều
hướng về tâm điểm duy nhất: Con người. Văn học là chiếc gương phản ánh và chiêm
nghiệm về đời sống nên văn học cũng lấy con người làm tâm điểm trên những trang thơ,
trên những dòng truyện ngắn hay trang tiểu thuyết đồ sộ. Trong nghệ thuật, cái chân (cái
thật) là cái có trước tuyệt đối, là cái không chịu phụ thuộc bất cứ cái gì có trước nó. Cái tốt
(cái thiện) là cái cần phải có, so với cái hiện có, gắn với lí tưởng của nhà văn. Cái thẩm mĩ
là cái dùng để tạo hình thức cho thế giới nghệ thuật.
Bất cứ nhà văn chân chính nào cũng đặt ra cho mình một lý tưởng thẩm mỹ, một quan
niệm nghệ thuật để từ đó phấn đấu vươn theo nó. Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm
cái đẹp, thậm chí trước Cách mạng tháng Tám, ông đã coi cái đẹp như là tôn giáo của mình
và “Nghệ Thuật” là hai chữ viết hoa. Ông lúc nào cũng muốn lăn cả cái vỏ của mình trên
18
trái đất, thêm những cảm giác mạnh, thèm được đi nhiều để thay đổi thực đơn cho giác
quan. Có khi ông tự nhận mình là lữ khách lang thang đi tìm cái đẹp cho cuộc đời. Cái đẹp
tựa hơi thở, tựa nguồn sống trong các sáng tác của Nguyễn Tuân. Cái đẹp trong văn chương
của Nguyễn Tuân không chỉ cho người đọc giá trị trông nhìn và thưởng thức mà còn giúp
con người trân trọng và nâng niu nó. Với Nguyễn Tuân quan niệm nghệ thuật của ông đồng
nghĩa với quan niệm cái đẹp. Ông là người đi theo quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật”.
Nguyễn Tuân quan niệm “viết văn không khuynh hướng” khát vọng lớn lao theo đuổi suốt
cuộc đời ông chính là hướng tới cái đẹp, cái đẹp duy nhất.. Chữ người tử tù, mà trực tiếp là
cảnh cho chữ trong nhà ngục, là sự thể hiện một cách đầy đủ quan điểm mĩ học của ông.
Trong tác phẩm Chữ người tử tù, truyện được dựng nên từ một tình huống vô cũng gay cấn
về thời gian và không gian. Về thời gian, người tử tù chỉ còn sống duy nhất qua một đêm vì
sáng sớm hôm sau sẽ bị đưa đi xử tử. Thời gian cuối cùng của một đời người trong tình cảnh
bi hùng ấy đã đẩy đến đỉnh điểm mọi sự lựa chọn và quyết định khi người tử tù lại được
người cai ngục hạ mình tận cùng cầu xin ban cho “Chữ”. Tất cả sự việc đó được diễn ra
“những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con
người”. Khi viết xong, ông thở dài, buồn bã không vì thán phận mình mà vì người biết được
giá trị của cái đẹp như thầy Quản mà phải làm cái nghề này và phải ở một nơi khó giữ thiên
lương cho lành vững và rồi đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi. Điều đó chứng tỏ cái
đẹp có thể sinh thành nơi không đẹp nhưng không thể tồn tại nơi ấy.
Cái đẹp có sức cải hóa con người: Viên quản ngục là chức quan cao nhất nơi ông Huấn
Cao bị giam giữ. Trước cảnh cho chữ, ông ta quý Huấn Cao ở cái tài (lần gặp đầu tiên, bị
Huấn Cao đuối khéo, ông chỉ lễ phép lui ra với một câu: Xin lĩnh ý). Khi Huấn Cao cho chữ,
thầy quản khúm núm (thái độ với cái đẹp). Nhưng sau khi Huấn Cao khuyên bảo, thái độ và
tình cảm của quản ngục càng khác trước: Ngục quan cảm động, vái người tù một cái, chắp
tay nói một cái mà nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ ngu muội này xin bái
lĩnh”. Đó là sự thay đổi không chỉ về tư tưởng (Kẻ ngu muội này xin bái lĩnh) mà còn là tình
cảm (chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào).
“Chữ người tử tù” thể hiện niềm tin mãnh liệt của Nguyễn Tuân về sự bất diệt của cái
đẹp, rằng “Cái đẹp không bao giờ chết”. Dù thực tại tăm tối, tàn bạo đến đâu cũng không
thể tiêu diệt được cái đẹp. Cái đẹp là bất khả chiến bại. Đó chính là giá trị nhân văn rất sáng
20
giá của Nguyễn Tuân trong “Chữ người tử tù”. Ta chợt nhớ tới câu danh ngôn bất hủ
của Dostoyevski: "Cái đẹp sẽ cứu vớt con người”. Cái đẹp và cái thiện xuất hiện đan xen và
tô nét thêm cho cảnh cho chữ thêm đặc sắc và là cảnh “xưa nay chưa từng có”.
Còn trong tác phẩm Chí Phèo, ở đoạn cuối của tác phẩm (Chí Phèo say rượu rồi gặp
thị Nở…) Chí Phèo đã có ý thức vươn lên khao khát được làm người lương thiện. Động lực
thúc đẩy là tình thương của thị Nở và bát cháo hành của thị. Nếu như trước đây, Chí chỉ biết
uống rượu, chửi bới, dọa nạt, cướp giật, nằm vạ… thì giờ đây khi được ăn bát cháo hành của
thị Nở, “hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ. Ổi sao mà
hắn hiền…” Bát cháo có gì đâu, một chút cháo, vài cọng hành và ba hạt muối mà hiệu quả
thật không ngờ, bát cháo hành quả là liều thuốc giải độc. Nó vừa giúp Chí Phèo thoát ra
ngoài , nhà văn tìm thấy ở họ những phẩm chất tốt đẹp . Mị thà phải lao động vất vả hơn
làm con dâu nhà giàu, A Phủ dám đánh lại con nhà giàu để bênh vực cho lẽ phải, không hề
khóc lóc van xin khi bị cha con thống lí đánh đập tàn nhẫn. Bên ngoài cái xác không hồn
của Mị, Tô Hoài nhận thấy tiềm tàng một sự phản kháng, một sức mạnh kì diệu, một ngọn
lửa tự do vẫn còn âm ỉ. Và hơn thế nữa sự yêu thương cưu mang lẫn nhau giữa những người
cùng khổ. Mị đã cứu A Phủ và cả hai đã cùng chạy trốn , cùng nương tựa nhau mà sống: “A
Phủ nói : “Đi với tôi”. “Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống núi”. Sức mạnh ở
những con người ấy, nếu biết giác ngộ, biết tổ chức lại thì nó sẽ tạo nên sức mạnh diệu kì
làm kẻ thù khiếp sợ. Hiểu được điều này, Tô Hoài đã đặt trọn niềm tin vào khả năng cách
mạng của Mị và A Phủ.
Trong nền văn hóa phương đông, ta còn nhận thấy sự nhuốm màu tôn giáo trong cảm
quan thẫm mỹ, đặc biệt là những tôn giáo lớn như Phật giáo, Hồi giáo và những tôn giáotriết lý cũ như Nho giáo, Đạo giáo. Đối với Đạo giáo cái đẹp là những cái tự nhiên nó có, tự
nhiên nó tồn tại, không có sự tác động của con người, như đá, núi, cỏ cây, thiên nhiên, và
con người đẹp là con người sống hòa hợp với thiên nhiên; quan niệm của Nho giáo cũng
tương tự song con người tốt, đẹp còn phải gắn với lòng trung tín với quân vương, còn với
Phật giáo toàn thể chúng sinh đều tốt đẹp, Phật đề cao lòng nhân nghĩa, từ bi nơi con người.
Ở nước Trung Hoa rộng lớn, màu sắc tôn giáo ảnh hưởng sâu rộng đến những tác phẩm văn
học như Kinh thi, Tam quốc diễn nghĩa... là những tác phẩm chịu ảnh hưởng bởi Nho giáo,
những tác phẩm thơ ca Phật giáo có những bài tụng, kệ... Ở Việt Nam, những quan niệm
trong tôn giáo, tín ngưỡng ăn sâu vào người Việt, nên từ văn học dân gian đến văn học
thành văn sau này, ý thức thẫm mỹ đều có phần nào đó chịu sự chi phối của tôn giáo, tín
ngưỡng và văn hóa nông nghiệp lúa nước lâu đời. Từ truyền thuyết, thần thoại, sử thi ta
nhận thấy được nét văn hóa nông nghiệp và tín ngưỡng thờ thần tự nhiên trong văn học Việt
23
Nam, truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ với hình tượng nhân vật cha Rồng, mẹ Tiên
sinh ra dân tộc Việt, sự nhìn nhận cái đẹp của dân gian lúc này là hình tượng của sức mạnh
thiên nhiên, người con trai thì khỏe mạnh, phi thường, người con gái như cỏ cây mềm mại
cầm quyền có chế độ hà khắc, tuy nhiên cái tốt, đẹp vẫn được đề cao biểu hiện qua hình ảnh
nhân vật mồ côi, xấu xí... có kết thúc tốt đẹp. Trong Cinderella, cô bé lọ lem Cinderella đến
cuối cùng vẫn có được hạnh phúc với hoàng tử, cái đẹp được đề cao ở đây không còn là cái
đẹp của hình thức mà là cái đẹp của tâm hồn, khi con người hướng đến những tư tưởng tốt
đẹp thì tự nhiên chúng ta cũng trở nên đẹp đẽ, mô tuýp này gần với truyện cổ tích phương
Đông.
Nhận thức về cái đẹp, cái thiện còn chịu sự chi phối của thời gian lịch sử, trong những
giai đoạn lịch sử khác nhau thì cái đẹp cũng được con người hiểu theo những quan niệm
khác nhau, cái đẹp trong văn học qua thời gian cũng có những sự biến đổi. Bước sang chế
độ có tư hữu, có nhà nước phong kiến việc nhận thức cái đẹp cũng thay đổi. Phụ nữ đẹp
tuyệt mỹ ở phương Đông là như Thúy Vân, Thúy Kiều “mười phân vẹn mười”, hoặc như
Tây Thi, Dương Quý Phi…“nghiêng nước nghiêng thành”. Nam nhi đại trượng phu phải
như Từ Hải "vai năm tấc rộng thân mười thước cao", nhưng phụ nữ trong triều đại phong
kiến do ảnh hưởng của Nho giáo nên chỉ được xem trọng, đề cao cái đẹp hình thức còn phủ
định phần lớn cái đẹp của trí tuệ.
Trong khi đó ở các nước phương Tây, đặc biệt là châu Âu, họ đang có những bước
chuyển mình lớn trong xã hội cũng như trong nhận thức. Họ bước vào “đêm trường trung
cổ” khiến cho những giá trị văn minh trong đó có giá trị thẫm mỹ hầu như bị hủy diệt hoàn
toàn, xã hội châu Âu bước vào thời kỳ đen tối, ánh sáng của văn minh mờ dần, con người bị
che đi dưới sự thống trị của tôn giáo (Kitô giáo), những cái đẹp lúc này được nhận thức luôn
gắn với giáo điều, giáo lý tôn giáo, đó là sự thần thánh hóa cực độ, có thể nói đến vô tưởng.
Trong Đồi gió hú của Emili Bronte, bối cảnh lịch sử là đầu thế kỉ XIX, nhân vật
Heathciff – một anh chàng thô kệch, điên rồ, được nhặt về nuôi bởi một ông chủ đồn điền ở
Yorksine đem lòng yêu cô tiểu thư – con gái ông chủ mình, một cô gái xinh đẹp, có địa vị xã
hội, học thức và lễ giáo. Tình yêu của họ là mãnh liệt đến ám ảnh, dữ dội đến hủy diệt mà
cái chết mới là cái bắt đầu. Ở đây ta nhận thấy rằng cái đẹp đã chuyển đổi, từ nhận thức các
quý cô châu Âu an phận đến sự bùng nổ của con người, phần tính người trong mỗi người.
Emilli Bronte đề cao những cái thuộc về bản tính con người ở nhân vật mình đó là khát