Đánh giá tác động của du lịch sinh thái đến việc quản lý vùng ven bờ tại VQG núi chúa - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN



BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐỀ TÀI

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH SINH THÁI
ĐẾN VIỆC QUẢN LÝ VÙNG VEN BỜ TẠI VQG
NÚI CHÚA
Môn học: Quản lý tài nguyên vùng bờ
GVHD: Hoàng Thị Thủy


Đánh giá tác động của du lịch sinh thái đến việc quản lý vùng ven bờ tại VQG Núi Chúa

MỤC LỤC

1. Giới thiệu Vườn quốc gia Núi Chúa
1.1. Quá trình hình thành Vườn quốc gia Núi Chúa
Núi Chúa là khu bảo tồn thiên nhiên theo Quyết định 194/CT ngày 09/08/1986 của
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, với tên gọi Rừng Khô Phan Rang có diện tích 1.000 ha. Khu
bảo tồn thiên nhiên thuộc huyện An Phước (nay là Ninh Phước). Tuy nhiên, rừng của khu
Rừng Khô Phan Rang đã bị phá hủy nghiêm trọng trong những năm giữa thập kỷ 90. Do vậy,
Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận đã lựa chọn một vùng ven biển ở phía bắc có hệ sinh thái
rừng khô hạn, với trung tâm là Núi Chúa để thiết lập một khu bảo tồn thay thế (Lê Trọng Trải
pers. comm.).
Trong năm 1997, Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng đã xây dựng dự án đầu tư và
đổi tên thành Khu Bảo tồn thiên nhiên Rừng khô hạn Núi Chúa (Anon. 1997). Dự án đầu tư
này đã được Bộ NN&PTNT phê chuẩn ngày 12/01/1998 theo Quyết định số 243/BNN-PTLN


Page 3


Đánh giá tác động của du lịch sinh thái đến việc quản lý vùng ven bờ tại VQG Núi Chúa

b. Diện tích
Theo quyết định số 134/2003/QĐ-CP ngày 09/07/2003 của thủ tướng chính phủ, tổng
diện tích tự nhiên Vườn Quốc Gia Núi Chúa là 29.865 ha, trong đó:
- Phần diện tích trên đất liền: 22.513 ha.
- Phần diện tích trên biển: 7.352 ha.
- Vùng đệm của VQG Núi Chúa: 7.350 ha.

-

c. Địa hình
Khu vực Núi Chúa là một khối núi khá liền lạc, nhìn từ ảnh vệ tinh thì Núi Chúa có hình
dạng như một con rùa có đầu quay về phía Nam, đuôi là phần nhô ra của mũi Xốp thò vào
vịnh cam Ranh như đang từ biển bò lên đất liền. Khối núi này có nhiều đỉnh ở các độ cao
khác nhau, mà đỉnh cao nhất là đỉnh núi Cô Tuy có độ cao 1.039 m.
-

Địa hình thấp dần từ trung tâm ra, phần phía bắc và tây có độ dốc lớn hơn phía

nam và phía đông. Phía tây và tây nam địa hình bị chia cắt do có các khối núi nhỏ tạo thành
các thung lũng sườn núi theo hướng đông bắc - tây nam, còn phía bắc, đông và đông nam địa
hình ít bị chia cắt, thấp dần từ đỉnh núi ra biển.
-

Địa hình có độ cao dưới 300 m: phân bố phía đông và nam và các khu vực ở

với mật độ khe suối 0,7 km/km 2. Trong khu VQG có các suối với diện tích lưu vực nước lớn
như: suối Nước Ngọt, suối Kiền Kiền, suối Đông Nha.
Hầu hết các suối trên đều bắt nguồn từ các khu vực núi cao chảy ra biển Đông. Ngoài
ra, VQG Núi Chúa có khoảng hơn 40 km bờ biển trong đó có một số bãi cát và cồn cát nhỏ,
và có một hồ nước nhỏ trên núi Đá Vách, ở gần biển khu vực Vĩnh Hy có nước ngọt tồn đọng
quanh năm, là nơi có khá nhiều thực vật thân thảo, cây bụi và động vật: thú, lưỡng thê, bò sát
sinh sống.
Thủy triều trong khu vực mang tính bán nhật triều không đều, trong ngày có hai lần
triều lên và hai lần triều rút. Độ lớn của thuỷ triều trong kì nước cường khoảng 2 - 3,5 m.

Nhóm 2

Page 5


Đánh giá tác động của du lịch sinh thái đến việc quản lý vùng ven bờ tại VQG Núi Chúa

f. Khí hậu và thời tiết
Nhiệt độ và lượng mưa: Chế độ nhiệt của khu vực mang những nét đặc trưng của
chế độ nhiệt miền Nam, không có mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình năm xấp xỉ 26 0C, nhiệt
độ tháng lạnh nhất không xuống thấp hơn 230C (do địa hình thấp, đồng bằng), nền nhiệt độ
các tháng trong năm khá ổn định theo kiểu chuyển tiếp khí hậu xích đạo - nhiệt đới. Các yếu
tố cực trị về nhiệt có thể thấy qua các trị số cực tiểu như nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thể đạt
14 - 150C ở đồng bằng và giảm thêm theo độ cao.
Độ ẩm không khí liên quan đến chế độ nhiệt và mưa như trên nên độ ẩm trung bình chỉ
khoảng 80%, trong các tháng mùa mưa thì cũng chỉ đạt khoảng 85%, trong các tháng mùa
khô, độ ẩm tối thấp tuyệt đối có thể xuống dưới 20 - 25%.
Khí hậu: Khu vực VQG Núi Chúa nằm lọt hoàn toàn trong khu vực khí hậu ven biển
miền Trung thuộc vùng khí hậu nam Trung Bộ với đặc điểm là khô hạn cao trong toàn bộ chế
độ mưa - ẩm, mà đặc điểm này liên quan đến vị trí bị che khuất của vùng này bởi các vòng

3)

Kiểu chuông gai hạn nhiệt đới.

4)

Kiểu trảng cây to cây bụi cỏ cao khô nhiệt đới.

5)

Kiểu rú kín lá cứng hơi khô nhiệt đới.

6)

Kiểu rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới núi thấp.
Qua điều tra đã ghi nhận được 1.265 loài thực vật bậc cao có mặt trên cạn nằm trong
85 bộ, 147 họ và 596 chi thuộc 7 ngành thực vật khác nhau (Việt Nam có 8 ngành thực vật
bậc cao có mặt hiện hữu thì ở VQG núi chúa có tới 7 ngành, chiếm tới 87%, chỉ thiếu ngành
cỏ Tháp Bút) bao gồm:
Những loài thực vật đã được ghi nhận có những giá trị khác nhau:
Cây có giá trị kinh tế về gỗ: Có khoảng 19 họ, 24 chi, 42 loài, với một số loài

-

điển hình: Gõ đỏ, Cẩm lai, Cẩm thị,Thông lông gà, Kim giao Trung bộ.
Cây có giá trị dược liệu: Có khoảng 94 họ, 309 loài, phổ biển là: Xá xị, Mã

-

tiền, Quế chi, Trầm hương, Đỗ trọng trắng, Sa nhân.


Đánh giá tác động của du lịch sinh thái đến việc quản lý vùng ven bờ tại VQG Núi Chúa
Hệ động vật rừng: Kết quả điều tra năm 2001 - 2002 về hệ động vật như sau:
Bảng 1.3.Hệ Động Vật tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa
STT
1
2
3
4
Tổng

Lớp
Thú
Chim
Bò sát
Ếch nhái

Bộ
8
17
3
1
29

Họ
Loài
23
72
49
181

Khoảng 98 loài chim gồm các loài Dẽ, Mòng Biển, Nhàn, các loại Cò và 24 loài bò sát, ếch
nhái. Đặc trưng nhất cho dạng sinh cảnh này là nhóm Rùa biển: Rùa da (Dermochelys
coriacea), Vích (Chelonia mydas), Đồi mồi (Eretmochelys imbricata) và Quảng đồng

Nhóm 2

Page 9


Đánh giá tác động của du lịch sinh thái đến việc quản lý vùng ven bờ tại VQG Núi Chúa
(lepidochelys olivacea). Ngoài ra còn có các loài Nhông cát (Leiolepis spp.), Rắn cát
(psamdomophis condanarus), Rắn nước (Xenochrophis oiscator),v.v.
b. Tài nguyên biển
Nằm trong giới hạn từ Mũi Đá vách phía bắc cửa đẩm Vĩnh Hy kéo dài đến Hòn
Chông, chiều dài đường bờ khoảng 24,5 km và nơi có chiều rộng nhất là 4,5 km - là nơi phân
bố của nhiều loài sinh vật biển với thành phần như sau:
Về san hô: Tổng cộng có khoảng 307 loài san hô cứng tạo rạn thuộc 59 giống, 15 họ.
Trong đó có 46 loài được ghi nhận phân loại mới. Hầu hết các dãy rạn san hô đều trong tình
trạng khá tốt với độ bao phủ san hô cứng trung bình là 30%, phân bố từ dưới 10% đến ở 50%,
độ che phủ cao nhất ở những điểm nước cạn như Hòn Đeo, Bãi Lớn với tỷ lệ tình trạng sống chết hết sức khả quan là 3:1. Số san hô chết là rất thấp (trung bình 9%).
Điểm đặc biệt là sự phát triển rộng các dãy rạn chịu ảnh hưởng của thủy triều kéo dài
ngoài khơi từ các khu vực lân cận Mỹ Hòa - Thái An- Hang Rái, sâu từ 8 đến 15 m. Xa dần
về phía Bắc, mức độ các dãy rạn phát triển theo độ dốc hình thành dãy rạn riềm hẹp ven bờ
(khu vực Hòn Tai và Bình Tiên) và các dãy rạn nhỏ nối với nhau (Bãi Nhỏ). Các khu vực
phong phú nhất như Bãi Nhỏ, Bãi Hõm, Hang Rái có hơn 1/3 trên tổng số san hô cứng (>110
trong số 307 loài).
Chiều dài rạn san hô ở Hang Rái, Mỹ Hòa có thể kéo dài 1 km từ bờ.
Phần lớn các rạn san hô trong khu vực này thuộc vào dạng rạn riềm với 2 loại: rạn
riềm điển hình (chiếm tỷ lệ lớn) và không điển hình, điều đó chứng tỏ rạn san hô trong khu
vực này có điều kiện phát triển thuận lợi trong một thời gian dài.

dân đều đã được định cư. Đặc biệt có hai thôn người dân tộc Raglay có số hộ ít nhất nhưng
lại phân bố vào sâu trong vườn (thôn Cầu Gẫy và thôn Đá Hang xã Vĩnh Hải).
Ngành nghề chính là sản xuất nông nghiệp nhưng do đất đai khô cằn, chưa chủ động
được nguồn nước tưới tiêu nên hàng năm lương thực sản xuất ra không đủ tự cấp, tự túc. Tình
trạng dựa vào rừng để săn bắn chim thú, đốt than, phát rừng làm rẫy, trồng hoa màu, cây ăn
quả đổi lấy lương thực vẫn còn phổ biến. Vì vậy diện đói nghèo ở đây còn rộng, chủ yếu vào
các hộ thuần nông và đồng bào dân tộc Raglay. Đặc biệt ở 2 xã Lợi Hải, Công Hải tỷ lệ hộ
đói và nghèo chiếm trên 30%. Nguyên nhân do diện tích đất canh tác nông nghiệp ruộng 02
vụ ít và lại chưa có trình độ thâm canh, mặt khác do phong tục tập quán hủ lậu còn nặng nề.
Đến nay tuy đã khắc phục được phần nào nhưng vẫn chưa triệt để.
Nghề chăn nuôi: Chủ yếu là bò, dê, cừu theo tập quán thả rong. Do đó có những tác
động xấu không chỉ với hoa màu, cây lương thực mà còn đối với cả rừng trồng.
Ngành nghề khác: Đánh bắt hải sản và làm muối. Các hộ dân sống bằng nghề này có
mức sống cao hơn so với nghề nông thuần túy. Tuy nhiên, số lao động đầu tư cho lĩnh vực
này chiếm tỉ trọng thấp (7%). Một bộ phận hộ dân tiểu thương buôn bán nhỏ và làm dịch vụ
vẫn là hộ luôn có thu nhập cao và khá ổn định.
Văn hóa, giáo dục: Các xã đều có trường mẫu giáo và tiểu học, riêng phổ thông cơ
sở và trung học tập trung ở hai xã Nhơn Hải và Khánh Hải nằm ngoài vùng quy hoạch.
Số người mù chữ hiện nay vẫn còn chiếm tỉ lệ khá cao, đây là một thực trạng rất cần
được quan tâm đầu tư để nâng cao dân trí.
Do điều kiện kinh tế và sinh hoạt hết sức khó khăn ở vùng sâu và xa, tại nhiều thôn
người dân tộc Raglay còn thiếu giáo viên, đặc biệt là đối với hệ tiểu học, CSVC của nhà
trường bị xuống cấp và còn nhiều thiếu thốn. Mặc dù đã có sự cố gắng của chính quyền địa
phương song vẫn gặp không ít khó khăn.

Nhóm 2

Page 11



Để hấp dẫn khách du lịch, Vườn quốc gia Núi Chúa cần nâng cao hơn nữa công tác
bảo tồn, tăng cường công tác đầu tư tu bổ phù hợp với cảnh quan môi trường thiên nhiên
nguyên thủy. Được vậy, phát triển du lịch sẽ tạo điều kiện cho việc bảo tồn cảnh quan thiên
nhiên một cách bền vững.
Với sự gia tăng của hoạt động buôn bán bất hợp pháp các loài hoang dã trên phạm vi
toàn cầu, các loài rùa biển đang bị đe dọa nghiêm trọng. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của các cơ
quan quản lý và các cơ quan nghiên cứu cùng sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, hoạt động
bảo tồn rùa biển tại Việt Nam đã đạt được những kết quả khích lệ. Một số bãi rùa đẻ ở Vườn
quốc gia Núi Chúa, Côn Đảo, Phú Quốc được bảo vệ tốt, trở thành mô hình du lịch phát triển
kinh tế địa phương. Các lực lượng thực thi pháp luật và chính quyền địa phương các cấp luôn
đóng vai trò chủ lực trong việc tuần tra, khảo sát, cứu hộ và chăm sóc, bảo vệ rùa biển, góp
phần nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của rùa biển.
- Việc nâng cấp cơ sở hạ tầng.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và lưu trú của du khách thì việc cải tạo, nâng
cấp và xây dựng mới các cơ sở hạ tầng ở Vườn quốc gia Núi Chúa (phương tiện vận chuyển,
hệ thống đê bao, hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc, đài quan sát…) là
cần thiết. Thông qua các hoạt động này, cơ sở hạ tầng ở Vườn quốc gia sẽ từng bước được
phát triển.
- Việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ và tăng cường chất lượng môi
trường.
Du lịch phát triển kéo theo sự gia tăng lượng khách trong nước và quốc tế. Thông qua
trao đổi và giao tiếp với du khách, cộng đồng địa phương sẽ hiểu biết và nâng cao ý thức bảo
vệ môi trường sinh thái cho hoạt động du lịch. Đồng thời, việc quy hoạch cảnh quan, thiết kế
xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc cho phát triển du lịch sẽ huy động
cộng đồng có những sáng kiến làm sạch môi trường, kiểm soát chất lượng không khí, nước,
đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác.

Nhóm 2

Page 13

trục giao thông chính, gây hại cho cây cối, động vật hoang dại và các công trình xây dựng
bằng đá vôi và bê tông. Bụi và các chất gây ô nhiễm không khí xuất hiện chủ yếu là do các
hoạt động giao thông, do sản xuất và sử dụng năng lượng. tăng cường sử dụng giao thông cơ
giới là nguyên nhân đáng kể gây nên bụi bặm và ô nhiễm môi trường. trạng thái ồn ào phát
sinh do việc tăng cường sử dụng các phương tiện cơ giới như thuyền, phà gắn máy, xe máy…
cũng như hoạt động của du khách tại các điểm du lịch tạo nên những hậu quả trước mắt cũng
như lâu dài
• Tài nguyên đất
Xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động du lịch giải trí: lợi thế kinh tế
trực tiếp cũng được tạo ra bởi các hoạt động du lịch và theo đó đã có sự bùng nổ về du lịch
với việc xây dựng hàng loạt khách sạn, nhà nghỉ, cửa hàng ăn uống và các bãi biển nhân tạo
dọc bờ biển đã được cảnh báo là mối đe dọa lớn nhất đối với môi trường ven biển thế giới.

Nhóm 2

Page 14


Đánh giá tác động của du lịch sinh thái đến việc quản lý vùng ven bờ tại VQG Núi Chúa
Các diện tích đất hay mặt nước vùng ven bờ sẽ được dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng, làm
giảm dần diện tích đất và mặt nước.
• Tài nguyên sinh vật
Ô nhiễm môi trường sống cùng với việc mất đi những cảnh quan thiên nhiên, những
khu đất chăn nuôi là những nhân tố làm cho một số loài thực vật và động vật dần dần bị mất
nơi cư trú.
Một số hoạt động thái quá của du khách như chặt cây bẻ cành, săn bắn chim thú tại
những khu rừng tự nhiên cũng là nguyên nhân làm giảm sút cả số lượng lẫn chất lượng sinh
vật trong phạm vi khu du lịch.
Các yếu tố ô nhiễm như là rác và nước thải không được xử lí đúng mức sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến các hệ sinh thái ở dưới nước.

Page 15


Đánh giá tác động của du lịch sinh thái đến việc quản lý vùng ven bờ tại VQG Núi Chúa
3. Hiện trạng công tác quản lý các nguồn tài nguyên vùng bờ ở VQG Núi Chúa.
Vùng biển của Núi Chúa còn được biết đến như là một trong vài địa điểm sinh sản của
các loài rùa biển quý hiếm ở Việt Nam. Thống kê của Quỹ Bảo tồn Quốc tế (WWF), tại VQG
Núi Chúa hiện có 5 trong số 7 loại rùa biển trên thế giới, gồm (rùa xanh, vích, đồi mồi, rùa
đầu to, rùa da. Hàng năm, từ tháng 6 đến tháng 9, rùa biển thường về các bãi biển để đẻ
trứng. VQG Núi Chúa đang có chương trình thu gom bảo vệ trứng rùa, ấp nhân tạo và sau đó
thả về biển. Mỗi năm, vườn đang thả về biển khoảng 1.000 con rùa xanh non.
VQG Núi Chúa tỉnh Ninh Thuận được xem là nơi duy nhất trên dải đất liền Việt Nam
có rùa biển lên đẻ trứng. Tại VQG Núi Chúa hiện có 3 loài là: Đồi mồi, rùa xanh, đồi mồi
dứa.
Trước đây, rùa biển được xem là loại thực phẩm dễ dàng kiếm ra nhất và nhiều nhất
cho người dân các thôn giáp với vùng VQG Núi Chúa. Có bãi biển được đặt tên là “Bãi Thịt”
vì nơi này là địa điểm rùa biển lên đẻ trứng chính, người dân chỉ cần ra đây là có thể lấy được
thịt rùa về dùng. Tình trạng đánh bắt rùa biển khá phổ biến và nghiêm trọng đã làm cho số
lượng và số đợt rùa biển lên đẻ trứng suy giảm nghiêm trọng.
Đứng trước tình trạng nguy cấp cần phải bảo vệ và bảo tồn 3 loại rùa biển tại VQG
Núi Chúa, năm 2002, tổ chức WWF đã hỗ trợ cho VQG Núi Chúa bảo tồn rùa biển, góp phần
thay đổi nhận thức cộng đồng trong bảo tồn rùa biển, xây dựng được các đội tình nguyện viên
từ cộng đồng dân cư vùng biển. Từ năm 2004 đã chấm dứt gần như hoàn toàn nạn đánh bắt
rùa biển của người dân vùng biển VQG Núi Chúa. Hình tượng của một ngư dân chuyên
nghiệp trong đánh bắt rùa biển trước đây đã tự nguyện tham gia vào đội tình nguyện viên bảo
vệ rùa biển, đó là hình tượng ông “Ba Nuôi”. Đến nay, hình tượng rùa biển tại VQG Núi
Chúa là niềm tự hào của người dân vùng biển vì họ biết rằng tại Việt Nam chỉ có duy nhất tại
VQG Núi Chúa còn có rùa biển đẻ trứng.
Từ năm 2001 đến 2003, được sự hỗ trợ của tổ chức quốc tế và các ngành chức năng
của tỉnh: Sở KH&CN, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản, Vườn quốc gia Núi Chúa đã thực

tự vùng biển quê hương.
4. Giải pháp phát triển du lịch sinh thái và quản lý tài nguyên vùng bờ:
Hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững, đối với hệ thống cơ sở lưu trú du
lịch, công tác bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn hiện
nay. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với môi
trường. Sự suy giảm của môi trường đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch. Vì
vậy, bảo vệ môi trường tự nhiên trong kinh doanh du lịch là điều kiện quyết định sự phát
triển kinh tế và cần sự chung tay của mọi người bằng nhiều giải pháp cụ thể, hữu hiệu chứ
không thể phó mặc cho thiên nhiên.
4.1 Giải pháp tổ chức quản lý môi trường du lịch.
- Cần phải cải tiến và hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý ngành du lịch nhằm đưa ra
và thực hiện các giải pháp quản lý môi trường nói chung và môi trường du lịch nói riêng.

Nhóm 2

Page 17


Đánh giá tác động của du lịch sinh thái đến việc quản lý vùng ven bờ tại VQG Núi Chúa
- Phân rõ chức năng và nhiệm vụ cho từng cấp quản lý, các tổ chức xã hội.
4.2 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường du lịch:
4.2.1. Giáo dục trong trường học.
Đưa những vấn đề về tài nguyên, môi trường, văn hóa và xã hội vào các chương trình
đào tạo để phát triển nguồn nhân lực của ngành.
Trong quá trình đào tạo cần chú trọng nâng cao hiểu biết về bản chất phức tạp của du
lịch hiện đại trong mối quan hệ với tài nguyên và môi trường, đề cao ý thức trách nhiệm và tự
hào của mỗi người.
4.2.2 . Giáo dục cộng đồng địa phương.
Thông báo cho cộng đồng địa phương về những lợi ích tiềm tàng cũng như những
thay đổi tiềm ẩn do hoạt động phát triển du lịch gây nên, qua đó cùng cộng đồng địa phương

Dự báo về nguồn khách du lịch : các chỉ tiêu dự báo về khách du lịch gồm tổng số
lượt du khách trong và ngoài nước. Cơ cấu du khách quốc tế, số ngày lưu trú trung bình, tổng
số ngày lưu trú của du khách trong nước và du khách quốc tế. Cơ cấu chi tiêu của du khách.
Các thị trường mục tiêu và thị trường gửi khách. Từ đó có thể sắp xếp và giảm thiểu tối đa tác
đọng của du khách tới môi trường.
4.4.2. Các giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cưc đến môi trường.
Tất cả mọi hoạt động của du lịch đều có tác động hai chiều đến tài nguyên và môi
trường, để giảm thiểu các tác động tiêu cực, chúng ta phải áp dụng nhiều biện pháp bảo vệ và
khôi phục các tài nguyên, tôn trọng giá trị nguyên thủy của nó. Thu hút cộng đồng vào bảo vệ
môi trường sử dụng một phần vốn công ích và thu nhập cho du lịch đầu tư cho thu gom, xử lý
chất thải, triển khai phát triển mô hình làng du lịch xanh và sạch.
Đầu tư cho giáo dục du khách và cộng đồng về giá trị của tài nguyên du lịch nhằm bảo vệ và
phát huy giá trị văn hóa truyền thống, môi trường và du lịch, lôi cuốn cộng đồng vào các hoạt
động kinh doanh du lịch và bảo tồn tài nguyên du lịch. Cần xây dựng và triển khai các luật du
lịch và các qui định trong việc phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, các cấp quản lý, các tổ
chức xã hộ trong việc bảo tồn, khai thác giá trị tài nguyên.
Có kế hoạch phân vùng chức năng trên địa bàn để xác định khu vực bảo vệ, và khu
vực tham quan của danh thắng, khu di tích lịch sử, khu dự trữ sinh quyển, các vườn quốc
gia.Có thời gian để khôi phục tài nguyên hợp lý. Tăng cường công tác thống kê, và áp dụng
các phương pháp tiên tiến của khoa học kĩ thuật trong việc bảo tồn và phát huy tài nguyên du
lịch.
4.5. Giải pháp tăng cường đầu tư trong đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực du lịch.
Trong đào tạo du lịch, bên cạnh các bài giảng về lý thuyết, cần tăng cường thực hành,
tổ chức nhiều chuyến đi thực tế, lý luận có gắn liền với thực tiễn thì lý luận đó sẽ không phải
là lý thuyết suông. Cần nâng cao cơ sở vật chất trong môi trường đào tạo.Cơ sở vật chất càng
đầy đủ, tiện nghi thì việc tiếp thu bài học sẽ tốt hơn. Cần phải đào tạo nguồn nhân lực nâng
cao hiểu biết về bảo vệ môi trường cho họ nhằm truyền đạt cho du khách.
4.6. Hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường du lịch .
Do ngành du lịch liên quan rất chặt chẽ giữa các nước trên thế giới. Chính vì vậy mà
cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia nhằm phát triển du lịch một cách bền vững cũng

- UBND tỉnh phê duyệt điều chỉnh đề án thu phí tham quan du lịch du tại Vườn quốc gia Núi
Chúa.
- Hỗ trợ vườn quốc gia trong công tác lượng giá rừng, tính phí cho thuê môi trường rừng,
sớm triển khai cơ chế chi trả dịch vụ môi trường, tạo thêm nguồn kinh phí cho công tác bảo
tồn của vườn quốc gia.
- Phát triển du lịch sinh thái cộng đồng như một sinh kế thay thế nhằm bảo tồn các nguồn tài
nguyên thiên nhiên VQG Núi Chúa. Khai thác tiềm năng du lịch nghiên cứu văn hóa, lịch sử
trong Vườn quốc gia.
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hỗ trợ Vườn quốc gia Núi Chúa đứng ra làm đầu mối để
liên kết các bên liên quan xây dựng quy chế phối hợp và quy chế quản lý bền vững các hoạt
động du lịch sinh thái tại Vườn./.

6. Tài liệu tham khảo:
- Thạc sĩ Hoàng Thùy Thủy, Tài lêu “Quản Lý Tài Nguyên & Du Lịch Sinh Thái”, Đại Học
Nông Lâm TP Hồ Chí Minh.
- Website Vườn quốc gia Núi Chúa, Vườn quốc gia Núi Chúa (Ninh Thuận) - Điểm du
lịch sinh thái lý tưởng
http://www.vqgnuichua.vn/chitiettin.aspx?id=69
-

Website Luanvan.co, Tiểu luận “Ảnh hưởng của du lịch đến môi trường”

Nhóm 2

Page 20


Đánh giá tác động của du lịch sinh thái đến việc quản lý vùng ven bờ tại VQG Núi Chúa
http://luanvan.co/luan-van/tieu-luan-nghien-cuu-ve-tac-dong-cua-du-lich-toi-moi-truong39741/


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status