giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất an toàn rau - Pdf 43

I.

Khái quát ngành:

1. Khái niệm về rau an toàn:

Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa
quả có chất lượng đúng như đặt tính giống của nó, hàm lượng các hoá chất độc và
mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an
toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ
sinh thực phẩm, gọi tắt là "rau an toàn".
2. Vai trò của rau an toàn:

Sản xuất rau an toàn có vai trò và ý nghĩa rất to lớn trong nhiều mặt của đời
sống, cụ thể là:


Về sức khỏe con người, sản xuất và sử dụng rau an toàn có tác dụng tốt đến
sức khỏe con người, giúp con người hấp thu đầy đủ các vitamin và dưỡng
chất trong rau mà không phải lo lắng về vấn đề ngộ độc thực phẩm hay
những ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe. Hơn nữa, sản xuất rau an toàn còn
góp phần bảo vệ sức khỏe của người sản xuất do giảm thiểu việc tiếp xúc với



hóa chất độc hại.
Về môi trường, bằng việc áp dụng những biện pháp canh tác đảm bảo cho
cây rau hấp thu tốt nhất chất dinh dưỡng, nước mà không để lại tồn dư trong
sản phẩm, sản xuất rau an toàn đã làm giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường và
thực sự trở nên thân thiện với môi trường góp phần xây dựng một nền nông


DH Nam Trung Bộ
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
ĐBS Cửu Long
Tổng

15/1/2017
179,794
96,917
56,727
26,150
133,655
24,821
16,691
20,977
71,165
313,449

15/1/2016
172,420
83,997
68,750
19,673
143,919
23,127
23,782
25,269
71,751
316,339


Australia
Myanma
New Zealand
Ấn Độ
Nam Phi
Hàn Quốc
Malaysia

2016
206,460
186,845
73,256
18,113
37,992
14,054
5,122
13,573
5,398
5,572

2015
410,133
219,396
84,976
42,188
41,762
21,900
11,448
10,408
9,493

hình thông tin thời tiết, môi trường nông nghiệp, hỗ trợ quản lý minh bạch sản xuất
rau an toàn(RAT). Mô hình được xây dựng tại vùng rau an toàn lớn nhất của Hà
Nội hiện nay là Văn Đức, huyện Gia Lâm với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới
(World Bank). Đây là vùng rau đã được Sở NN-PTNT Hà Nội cấp giấy chứng nhận
vùng đủ điều kiện sản xuất rau an toàn với quy mô 50ha.
Các giải pháp đồng bộ của mô hình gồm: Tái cấu trúc sản xuất theo hợp
đồng thông qua HTX, doanh nghiệp với quy mô lớn tập trung; Ứng dụng giải pháp
công nghệ, quản lý quy trình sản xuất RAT. Hỗ trợ ưu đãi về chính sách, vốn,
KHCN, nông nghiệp công nghệ cao và công khai, minh bạch các khâu sản xuất,
chế biến, bao bì, tiêu thụ.
Theo PGS.TS Mai Quanh Vinh, Giám đốc iMetos kiêm Chủ nhiệm dự án,
mô hình sẽ ứng dụng 4 loại trạm, thiết bị thời tiết, môi trường thông minh là:
iMetos 3.3 AG, cung cấp và cảnh báo theo thời gian thực 8 thông số thời tiết, môi
trường (nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ, tốc độ gió, hướng gió, lượng mưa, độ ẩm đất, độ
ướt lá cây). Dự báo thời tiết 24h đạt độ chính xác 90%, 6 ngày - 70%, 14 ngày 50% tại tọa độ đặt trạm, bán kính phục vụ 25km, bán kính dự báo điểm mưa 55km,
dự báo bệnh các loại rau.
Trạm cảnh báo côn trùng điện tử iTrap: Cảnh báo các loại côn trùng như ruồi
đục trái, rầy, loại sâu hại đẻ từ bướm, ngài đêm. Thiết bị camera đồng ruộng (e-


Crop View) giám sát hình ảnh trực tuyến đồng ruộng, tình hình tuân thủ quy trình,
phục vụ quản lý, giám sát, minh bạch chuỗi sản xuất RAT.
Thiết bị giám sát trực tuyến chất lượng đất, nước tưới theo công nghệ Thụy
Sỹ và Đại học Khoa học tự nhiên: NPK, nitrat, pH, dư lượng kim loại nặng: As, Pb,
Cd. Xây dựng phần mềm kết nối các trạm thành cổng thông tin quản lý trực tuyến
phục vụ giám sát sản xuất rau tại 1 cánh đồng (50 - 100ha) tập trung.
Bảng 2.1: Thực trạng sử dụng tưới nước và kĩ thuật tưới RAT
ST
T


điều
tra

Tỉ lệ (%)

Giếng khoan

21

70

25

83,33

Tự nhiên ( ao, hồ,
sông)

9

30

5

16,67

Nước thải công
nghiệp, sinh hoạt

0


0

0

Tưới rãnh

15

50

12

40

Tưới gốc

8

26,66

10

33,33

Tưới phun

5

16,67

Phát triển nông thôn ban hành đối với từng sản phẩm, nhóm sản phẩm thủy sản,
trồng trọt, chăn nuôi.VietGAP là những nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ
chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, xử lý sau thu hoạch nhằm đảm bảo an toàn,
nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất
và người tiêu dùng; đồng thời bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản
xuất.
Để hướng dẫn người dân áp dụng VietGap trong trồng trọt, Chính phủ đã
ban hành Nghị định 43/2017/NĐ-CP quy định về nội dung bắt buộc trên nhãn hàng
và Thông tư 50/2016/TT-BYT ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật và mức
tối đa tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm.


Nghị định 43/2017/NĐ-CP có một vài nội dung chính sau:
− Những nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa:


+ Tên hàng hóa.
+ Xuất xứ hàng hóa.
+ Tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa.
+ Những nội dung khác tùy vào tính chất hàng hóa.


Ngày sản xuất, hạn sử dụng được ghi trên nhãn hàng: Theo quy định tại
Nghị định số 43/CP, ngày sản xuất và hạn sử dụng được ghi theo thứ tự
ngày, tháng, năm của năm dương lịch.Trường hợp bắt buộc phải ghi ngày
sản xuất và hạn sử dụng mà nhãn hàng hóa đã ghi ngày sản xuất thì được
phép ghi hạn sử dụng là khoảng thời gian kể từ ngày sản xuất, nếu nhãn
hàng hóa đã ghi hạn sử dụng thì được phép ghi ngày sản xuất là khoảng thời
gian trước sử dụng.Đối với hàng hóa được san, chiết, đóng gói thì theo quy
định tại Nghị định 43 năm 2017 phải thể hiện ngày san, chiết, đóng gói và

Theo báo cáo của Cục Chế biến thương mại nông lâm thủy sản và nghề
muối, năm 2012, diện tích sản xuất rau cả nước là gần 824 nghìn ha, trong đó 120
nghìn ha chuyên canh, 430 nghìn ha luân canh; sản lượng rau đạt 14 triệu tấn. Mặc
dù chủng loại rau rất đa dạng và phong phú, nhưng quy mô sản xuất rau hiện vẫn
nhỏ lẻ, manh mún.
Đáp ứng 14 đến 15% nhu cầu Đối với rau an toàn (RAT), diện tích quy
hoạch đến đầu năm 2013 là 71.728 ha, trong đó diện tích đã được cấp giấy chứng
nhận đủ điều kiện sản xuất RAT là 6.310 ha; diện tích được cấp giấy chứng nhận
VietGAP và các GAP khác là 491 ha; diện tích sản xuất theo hướng an toàn là
16.797 ha.
Theo ông Trần Công Thắng, Viện Chính sách và Chiến lược (Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn), hiện sản lượng RAT, rau hữu cơ vẫn rất hạn chế và
tăng chậm, chỉ chiếm 8 đến 8,5% diện tích rau của cả nước. Ông Thắng cũng đưa
ra thí dụ: Hà Nội hiện có hơn bảy triệu dân, nhu cầu rau xanh khoảng 2.600
tấn/ngày, tương đương 950 nghìn tấn/năm, nhưng sản lượng rau của Hà Nội hiện
mới đạt 600 nghìn tấn/năm, trong đó RAT đáp ứng được 14 đến 15%.
Bên cạnh đó, cũng cần có những chính sách khuyến khích dòng vốn đầu tư
nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp. Mặc dù trong tổng thể chính sách thu hút
đầu tư, nông nghiệp và phát triển nông thôn luôn được coi là lĩnh vực khuyến
khích đầu tư nhưng không nhiều doanh nghiệp nước ngoài cảm thấy mặn mà.


Việt Nam đã phát triển được một số chuỗi quản lý rau an toàn qua một số
dự án của Đan Mạch, Ca-na-đa, Nhật Bản, nhưng khi kết thúc dự án thì rất khó duy
trì do thiếu kinh phí. Do vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mong muốn
tiếp tục nhận được sự hỗ trợ của quốc tế trong vấn đề xây dựng các chuỗi nông sản
an toàn bền vững, trong đó có rau an toàn.
Xây dựng chuỗi giá trị RAT Trong những dự án FDI đầu tư vào nông
nghiệp gần đây, phải kể đến sự đóng góp của Công ty Metro Cash & Carry Việt
Nam (Metro). Vừa qua, doanh nghiệp này phối hợp với Công ty Fresh Studio,

So
sánh
(%)

RAT
Lượng

Sản
Tỉ
lượng trọng
(%)

885,6

136,
5

15,4
1

138

130

94,2
0

12222,5 1774,
5



870,1
5

190,
1

21,8
5

191,9
4

165

85,9
6

16701,8 3136,
7

18,7
8

2011

(Nguồn: Phòng kinh tế huyện Quốc Oai, 2013)


III.

năng mua của người tiêu dùng. Khi thu nhập tăng lên thì cầu cũng tăng và
ngược lại. Đối với mặt hàng rau an toàn khi thu nhập tăng lên cầu tăng do
thói quen mua rau ở chợ của các hộ gia đình khi đó sẽ dần thay đổi. Họ sẽ
chuyển sang mua rau ở các siêu thị hay các chuỗi cửa hàng rau sạch, khi đó



lượng cầu về rau an toàn sẽ tăng.
Giá cả cũng là một yếu tố xác định cầu. Khi giá cả biến động thì lượng cầu
về rau an toàn không thay đổi nhiều. Các hộ gia đình vẫn mua rau theo thói
quen của họ bởi vì rau không phải là một mặt hàng xa xỉ khi giá cả tăng
trong một giới hạn cho phép thì cầu cũng k thay đổi nhiều. Mặt khác, rau
cũng là một mặt hàng thiết yếu không thể thiếu trong mỗi bữa ăn vì thế

2.

người tiêu dùng chỉ có thể thay thế bằng một loại rau khác.
Thực trạng rau hiện nay:


Với thực trạng về nhà sàn xuất và phân phối còn quá nhiều lỏng lẻo vô trách
nhiệm , người tiêu dùng không khỏi lo lắng, mất niềm tin vào thị trường. Khi thị
trường “loạn” thì nhiều người tiêu dùng băn khoăn đi đâu, ở đâu và tại đâu mới có
những sản phẩm rau chất lượng. Việc mất niềm tin, lòng tin vào thị trường đã gây
trở ngại rất lớn cho nhà sản xuất nhà phân phối trong việc chứng minh uy tín cùa
mình đối với người tiêu dùng.
Mong muốn sử dụng rau sạch, tuy nhiên nhiều khách hàng không thể phân
biệt được rau sạch và rau không sạch.Theo như đánh giá nhiều chuyên gia, ti lệ rau
sạch tại Việt nam còn quá khiêm tốn so với nhu cầu mọi người mong muốn sử
dụng nó. Rau sạch là một khái niệm trừu tượng. Với kết quả điều tra nằm trong


Qua kết quả điều tra, với quy mô mẫu 200 người bao gồm người tiêu dùng
sinh sống trên 2 quận Cầu Giấy và Hoàn Kiếm trên địa bàn Hà Nội. Trong 200
người được phỏng vấn thì 100% người tiêu dùng đều khẳng định rằng: "rau là
thức ăn quan trọng và không thể thiếu trong bữa cơm gia đình'’. Rau cung cấp
nhiều dưỡng chất và vitamin cho cơ thể, giúp cơ thể chúng ta khỏe mạnh vả phát
triển bình thường. Thế nên việc sử dụng rau có đảm bảo vệ sinh, an toàn, đảm bảo
cho sức khỏe là điều mà nhiều người tiêu dùng quan tâm và chú trọng.
Bảng 3.2: Kết quả điều tra về nguồn tìm hiểu thông tin rau sạch của người
tiêu dùng

Rau sạch là thực phẩm cần thiết trong cuộc sống sinh hoạt đời thường, chính
vì thế mà thông tin về rau sạch luôn được người tiêu dùng cập nhật và đánh giá ở
nhiều phương tiện. Trên đây là bảng thống kê và biểu đồ thể hiện sổ liệu điều tra
thu thập được như sau:


Đa sổ người tiêu dùng tìm hiểu thông tin về rau sạch qua ti vi, báo dài (đặc
biệt tivi). Khi cuộc sống ngày càng bận rộn và phát triển hơn. Theo đó, các
chương trình tivi và các giờ phát sóng liên tục đáp ứng nhu cầu người xem.
Kênh VTV2, VTC14,… là các kênh có nhiều chuyên mục nói về nhà nông.
Ngoải ra, chủ đề rau sạch còn đuợc cập nhật nhiều trên các chương trình thời
sự, chương trình café buổi sáng... Để thấy, đây là một kênh truyền thông hữu
hiệu đưa hình ảnh rau sạch hay rau không sạch vào tâm trí người tiêu dùng.




Rau là thực phẩm cần thiết cho cuộc sống, chính vì vậy, người tiêu dùng
(đặc biệt là nguởi phụ nữ) họ tự tìm hiểu việc chọn rau, mua rau sạch, rau

xuất có cơ sở công bố tiêu chuẩn chất lượng rau của mình trên thị trường.
Các cơ quan chức năng cần tham gia vào vấn đề quy hoạch sản xuất rau an
toàn, có quy hoạch thành những vùng tập trung mới quản lý và tổ chức được. Quy


hoạch phát triển sản xuất rau an toàn là vấn đề hết sức quan trọng để có thể sản
xuất có quy mô nhằm mở rộng diện tích, tăng năng suất rau an toàn. Có như thế
mới có thể gia tăng được hiệu quả của sản xuất rau an toàn. Để thực hiện quy
hoạch có hiệu quả cần thực hiện các biện pháp sau:


Tìm hiểu các yếu tố đất đai, thời tiết, khí hậu, lượng mưa hàng năm ở từng



vùng làm cơ sở cho lựa chọn chủng loại rau an toàn phù hợp.
Tiến hành phân bố cải tạo vườn, ruộng hiệu quả kinh tế thấp thành đất trồng



rau an toàn có hiệu quả kinh tế cao.
Chuyển đổi đất bồi bãi, đất chưa sử dụng không có hiệu quả sang trồng rau



an toàn tập trung.
Xây dựng các vùng rau an toàn đẹp, tiên tiến điển hình, có chất lượng, cần
gắn hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn với hiệu quả xã hội và hiệu quả

1.2.

Đồng thời cũng cần có các chính sách hỗ trợ của Nhà nước về vốn cho sản
xuất rau an toàn. Huy động nguồn vốn tự có của người dân để phát triển sản xuất
rau an toàn, hỗ trợ vốn cho hoạt động đào tạo tập huấn kỹ thuật, tài liệu, tham
quan, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật sản
xuất rau an toàn. Có chính sách vay vốn, lãi xuất ưu đãi đối với người sản xuất rau
an toàn tùy theo nhu cầu vay vốn: Cho vay ngắn hạn để mua vật tư, chi phí trồng
rau an toàn như hạt giống, cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu, làm đất…; Cho vay
trung hạn chi phí để mở rộng diện tích canh tác, xây dựng cơ bản đồng ruộng để
gieo trồng rau an toàn, đầu tư vào làm nhà lưới, máy bơm nước, hệ thống tưới tiêu;
cho vay dài hạn đối với hộ còn khó khăn để phát triển sản xuất… Tăng cường liên
doanh, liên kết với các tổ chức để tạo vốn đầu tư cho sản xuất rau an toàn.
1.2.

Kiểm tra chất lượng rau an toàn:


Hiện nay quản lý và kiểm tra chất lượng rau an toàn ở Việt Nam còn rất lỏng
lẻo, làm cho người tiêu dùng không an tâm về chất lượng rau an toàn. Vì vậy để
nâng cao hiệu quả sản xuất rau an toàn hiện nay cần quan tâm hơn nữa về vấn đề
quản lý và kiểm tra chất lượng.
Giải pháp sản xuất rau an toàn theo hướng GAP (Good Agricultural
Practices) đang từng bước được phổ biến hiện nay và cần được áp dụng rộng rãi
hơn nữa để đảm bảo rau an toàn và chất lượng cao.
Cần thống nhất phương pháp nhanh kiểm tra chất lượng rau an toàn để mọi
thành phần đều áp dụng được, tự kiểm tra, giám sát…Cần học hỏi kinh nghiệm
kiểm tra chất lượng rau an toàn ở các nước để có thể tiến hành kiểm tra chất lượng
rau an toàn đơn giản và ít tốn kém hơn.
Các cấp chính quyền, đoàn thể cần có sự quản lý, kiểm tra chặt chẽ về rau an
toàn và có hệ thống kiểm tra chất lượng đồng bộ để người tiêu dùng an tâm về chất
lượng rau an toàn cũng như tạo thuận lợi cho những người sản xuất rau an toàn tạo

2.

Các giải pháp về những người sản xuất và các doanh nghiệp trong ngành
hàng:
2.1. Tổ chức sản xuất có quy mô, cần có các doanh nghiệp tham gia sản
xuất và tiêu thụ rau:
Nông dân trồng rau cần phải được tổ chức thành tổ, Câu lạc bộ hay Hợp tác

xã, với các tổ chức này nông dân có thể tự quản, với sự đảm bảo về thương hiệu,
uy tín đối với khách hàng. Chất lượng rau an toàn sẽ được đảm bảo. Các hình thức


tổ tự quản để quản lý sản xuất ngay trên đồng ruộng và có thể cả trong quá trình
vận chuyển, bán hàng.
Cần có sự quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn thành các cơ sở sản xuất rau
an toàn có quy mô rộng lớn để sản xuất có hiệu quả, có thể ứng dụng tiến bộ khoa
học công nghệ trên diện rộng và tránh được sự lây nhiễm sâu bệnh ở các ruộng rau
không an toàn bên cạnh. Tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, thu gom, xây dựng
nhãn hiệu đối với rau an toàn.
Cần có sự liên kết “4 nhà” để tạo thuận lợi cho sản xuất và lưu thng phân
phối rau an toàn. Cần có sự liên kết hài hòa gữa nhà sản xuất, doanh nghiệp kinh
doanh và chính quyền các cấp để mang lại hiệu quả cao. Người sản xuất có thể
cung ứng rau an toàn trực tiếp cho doanh nghiệp kinh doanh sẽ tránh được tình
trạng bị ép giá đối với người sản xuất và tình trạng thiếu sản phẩm của các doanh
nghiệp. Đồng thời cũng cần có sự liên kết giữa các tỉnh lân cận nhau để đảm bảo
phân phối hài hòa và hiệu quả.
Các doanh nghiệp cần tham gia vào lĩnh vực cung ứng rau, với sự giám định,
kiểm tra chất lượng rõ ràng để đảm bảo uy tín và thu được lợi nhuận cao từ sản
xuất rau an toàn. Với sự liên kết với các doanh nghiệp thì người sản xuất rau an
toàn có thể yên tâm về uy tín và nhãn hiệu của mình khi được cung ứng trên thị

Tăng cường nghiên cứu về giống và bảo tồn giống rau an toàn:
Cần có biện pháp bảo tồn quỹ gen, chống thoái hóa gen, cần đầu tư cho hoạt

động nghiên cứu lai tạo giống và bảo tồn quỹ gen phong phú của nước ta hiện nay.
Cần nghiên cứu công nghệ sinh học để tuyển chọn, lai tạo một số giống cây
ăn quả, rau, đậu có chất lượng và năng suất cao, chuyển giao quy trình sản xuất các
loại giống sạch bệnh...


Nghiên cứu để đưa vào sản xuất những giống cây trồng mới phù hợp với
điều kiện địa lý và khí hậu nhiệt đới gió mùa ở Việt Nam. Tạo ra nguồn giống
phong phú để tận dụng ưu thế sản xuất rau phong phú, quanh năm của nước ta.
Bên cạnh đó, cần có quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn một cách có hiệu
quả để chống xói mòn quỹ gen, thoái hóa giống do tâm lý thích sử dụng giống rau
nhập nội của nông dân..
2.4.

Tổ chức sản xuất rau an toàn theo đúng quy trình kỹ thuật:
Khuyến khích sử dụng nhà lưới và áp dụng các quy trinh sản cuất rau an

toàn mới đảm bảo chất lượng rau an toàn và cho năng xuất cao như: trồng rau thủy
sinh, trồng rau theo phương pháp sinh học…
Khuyến khích người dân tích cực tham gia các lớp huấn luyện, đào tạo ngắn
và dài hạn của các cơ quan chức năng nhằm trang bị kiến thức, thay đổi tư duy
hướng đến vì sức khỏe cộng đồng, chống ô nhiễm môi trường.
Cần đề cao cảnh giác và trung thực trong quá trình sản xuất bằng số liệu cụ
thể thông qua các biểu mẫu theo dõi, nhật ký đồng ruộng… mà các cán bộ kỹ thuật
đã hướng dẫn, để đảm bảo tính pháp lý có sẵn khi đến nơi mà người tiêu dùng có
thể chấp nhận được.
Thực hiện tốt 5 điều cấm trong chuỗi sản xuất đến cung ứng là:


triển nông thôn ban hành.
Đúng liều lượng: sử dụng đúng nồng độ và liều lượng hướng dẫn trên bao bì



cho từng loại thuốc và từng thời gian sinh trưởng của cây trồng.
Đúng cách: áp dụng biện pháp phun xịt, tung vãi hoặc bón vào đất theo đúng
hướng dẫn của từng loại thuốc để đảm bảo hiệu quả, an toàn cho người và



môi trường.
Đúng thời gian: sử dụng thuốc đúng thời điểm theo hướng dẫn để phát huy
hiệu lực của thuốc và tuân thủ thời gian cách ly được quy định cho tưng loại



thuốc, từng loại rau.
Thực hiện sơ chế, chế biến, đóng gói, bảo quản kịp thời ngay sau thu hoạch.
Để đảm bảo chất lượng rau an toàn, rau không bị dập nát, hư thối và có bao

2.5.

bì nhãn mác rõ ràng.
Mở rộng diện tích, tăng năng suất sản xuất rau an toàn:
Hiện nay diện tích và sản lượng rau an toàn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của

người tiêu dùng, chính vì vậy cần đẩy mạnh tham gia sản xuất rau an toàn, mở
rộng diện tích, dần dần thay thế rau thường bằng rau an toàn trong tương lai để

2.6.

rau an toàn.
Mở rộng thị trường tiêu tụ rau an toàn:
Để mở rộng thị trường tiêu thụ rau an toàn, trước hết phải lấy được lòng tin

của người tiêu dùng. Chính vì vậy cần phải thực hiện những giải pháp cần thiết sau
đây:


Mở rộng các kênh phân phối trực tiếp từ người trồng rau tới những người
tiêu dùng tập thể và các gia đình. Ngoài việc thiết lập thêm các điểm bán rau
an toàn cố định của mình, người trồng rau trước mắt nên mở rộng đối tượng
cung ứng tới các nhà máy chế biến, nhà ăn tập thể và cơ sở dịch vụ của các
cơ quan nhà máy chế biến, nhà ăn tập thể và cơ sở dịch vụ của các cơ quan,
nhà máy, xí nghiệp, trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp…
Ngoài ra người trồng rau an toàn có thể tăng cường tiếp thị và bán rau an
toàn trực tiếp cho người tiêu dùng cá nhân thuộc các cơ quan trên. Để nâng
đỡ nghề trồng rau an toàn như một xu hướng tiến bộ trong sản xuất và tiêu


dùng và mới hình thành, các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp cần có thái độ ủng
hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho người trồng rau an toàn tiêu thụ sản phẩm


của mình.
Củng cố mạng lưới bán rau an toàn qua siêu thị, cửa hàng hoặc quầy hàng
chuyên doanh rau quả. Đây là mạng lưới bán rau an toàn bấy lâu nay được





Đặc biệt, các giống rau nhiệt đới sẽ càng có điều kiện để xuất khẩu sang các nước
EU.
Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ rau xanh trong nước và thế giới ổn định và
ngày càng tăng. Thị trường rau an toàn trong nước ngày càng tăng nhanh do đời
sống người dân càng ngày càng được nâng cao. Vấn đề sức khỏe dần được đưa lên
làm vấn đề quan tâm hàng đầu. Nhìn chung, nhu cầu về rau an toàn càng ngày càng
gia tăng, đặc biệt nếu rau an toàn đảm bảo chất lượng thì người tiêu dùng sẽ sẵn
sàng sử dụng rau an toàn. Dân số thế giới ngày càng gia tăng, nhu cầu về rau cũng
theo đó mà gia tăng thêm. Đó là cơ hội lớn cho sản xuất rau an toàn phát triển. Sản
xuất rau an toàn hiện nay ở Việt Nam phải có những giải pháp phát triển hợp lý để
có thể nắm bắt được cơ hội này.
Trong những năm tới phương hướng phát triển sản xuất rau an toàn đã được
xác định trong “Quy hoạch phát triển rau quả đến năm 2020 và tầm nhìn 2030” của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Cụ thể là:


Tiếp tục chương trình phát triển rau quả trên cơ sở khai thác lợi thế về điều
kiện khí hậu, sinh thái đa dạng (nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới) của các vùng.
Kết hợp cải tạo vườn tạp, thâm canh vườn cây hiện có với trồng mới theo
hướng sản xuất chuyên canh, sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi
trường; Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và



phục vụ xuất khẩu.
Tập trung phát triển các loại cây, rau có lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế






đoạn 2016 – 2020.
Đậu đỗ thực phẩm các loại dự kiến kế hoạch năm 2020 đạt 330 nghìn ha, sản
lượng 363 nghìn tấn.
Bảng 4.1: Dự kiến bố trí cây rau đậu các loại đến năm 2020

Hạng mục
1.

2.

Rau các loại
- Diện tích
- Năng suất
- Số lượng
Đậu các loại
- Diện tích
- Năng suất

TĐ tăng bình quân
20112016-2020
2015

2010

2015

2020

7,06
2,24

5,71
0,74



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status