Thừa kế theo pháp luật, thanh toán vàphân chia di sản - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 5
Chủ đề: Thừa kế theo pháp luật, thanh toán vàphân chia di sản


MỤC LỤC

Trang

1.Tổng quan về pháp luật thừa kế……………………………………………… 2
2.Khái niệm thừa kế theo pháp luật……………………………………………... 3
3.Các trường hợp thừa kế theo pháp luật……………………………………….. 4
Trường hợp 1……………………………………………………………….. 5
Trường hợp 2………………………………………………………………

5

Trường hợp 3………………………………………………………………

6

Trường hợp 4…………………………………………………………….

6

Trường hợp 5…………………………………………………………….

7


6.Thanh toán và phân chia di sản……………………………………………...
6.1 Thanh toán di sản………………………………………………..
6.2 Phân chia di sản thừa kế………………………………………
2

2

17
17
20


6.2 a. Phân chia theo di chúc……………………………………. 20
6.2 b. phân chia theo pháp luật……………………………………

3

3

20


1.Tổng quan về pháp luật thừa kế
Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí
quan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các
quyền của công dân. Chính vì vậy, thừa kế đó trở thành nhu cầu không thể thiếu
được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội. Mỗi nhà nước
dù có các xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản
của công dân và được ghi nhận trong đạo luật gốc: Hiến pháp.
Lịch sử phát triển về chế định thừa kế theo pháp luật xuất hiện sớm. Những

property.
- Tiếng Đức:
Wird jemand geisteskrank, soll der nächste männliche Verwandte die
Verfügungsbefugnis über dessen Besitz haben).(Thầy Nguyễn Minh Tuấn-Luật 12
Bảng)
Ở Việt Nam, sớm nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của thừa kế, nên
ngay những ngày đầu mới dựng nước, các triều đại Lý, Trần, Lê cũng đã quan tâm
đến ban hành pháp luật về thừa kế. Pháp luật thành văn về thừa kế ở nước ta, lần đầu
tiên được quy định trong chương "Điền sản" của Bộ luật Hồng Đức dưới triều vua Lê
Thái Tổ. Không chỉ quan tâm đến thừa kế theo di chúc, luật thành văn thời phong kiến
cũng đề cấp đến chế định “thừa kế không theo di chúc”. So với pháp luật phong kiến
thì pháp luật về thừa kế thời Pháp thuộc theo khuôn mẫu của bộ luật dân sự
Napôlêông đã quy định chi tiết hơn trong các bộ Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt
Trung kỳ bộ luật, ghi nhận 2 hình thức : thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp
luật.
Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng CNXH ở nước ta, các quy
định về thừa kế theo pháp luật đã được ghi nhận, mở rộng, phát triển và đặc biệt là
sự ra đời của Bộ luật Dân sự 1995, sau đó Bộ luật Dân sự năm 2005 đã đánh dấu
một bước phát triển của pháp luật Việt Nam nói chung và chế định thừa kế theo
pháp luật nói riêng. BLDS dành 1 chương, cụ thể là chương XXIV gồm 7 điều
(Đ674 – Đ680) quy định về thừa kế theo pháp luật.
2. Khái niệm thừa kế theo pháp luật.
Thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật, nhà nước ghi nhận và bảo
hộ quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản hoặc 1 tập hợp tài sản mà cá nhân đó
có được dựa vào những căn cứ hợp pháp. Lúc còn sống họ có những tài sản đó, khi
họ chết thì có quyền để lại tài sản đó cho người khác còn sống. Nếu người chết có
để lại di chúc và di chúc đó phát sinh hiệu lực pháp luật thì quá trình dịch chuyển
5

5

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
6

6


b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp
luật;
c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ
không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết
cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng
di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.
Trường hợp1: Thừa kế theo pháp luật trong trường hợp không có di chúc:
Không có di chúc ở đây được xác định trong các trường hợp :
-

Người chết không lập di chúc.
Di chúc có nội dung không rõ ràng mà những người thừa kế đã không thống
nhất về cách hiểu nội dung di chúc .
Kể từ thời điểm mở thừa kế di chúc bị thất lạc .
Di chúc bị hủy hoại đến mức không thể hiện được đầy đủ và rõ ràng ý chí
của người lập di chúc.

Trong những trường hợp trên đây, toàn bộ di sản của người chết sẽ được chia cho
những người thừa kế theo quy định của pháp luật.
Trường hợp 2: Người thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường
hợp có di chúc, nhưng di chúc không hợp pháp.
Khi di chúc không đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại điều 652 và
những điều kiện chung của một giao dịch dân sự tại điều 122 BLDS .


chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất 2 người làm chứng và ngay sau đó
những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ. Trong thời
hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì
di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Di chúc không hợp pháp sẽ không có hiệu lực pháp luật, vì vậy mà sẽ không
làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc.Tùy theo phạm vi vi phạm của di chúc
để xác định di chúc đó vô hiệu một phần hay vô hiệu toàn bộ.
- Di chúc vô hiệu một phần là di chúc chỉ có một phần di chúc không hợp pháp
nhưng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của di chúc.
- Di chúc vô hiệu toàn bộ là di chúc có nội dung trái quy định của pháp luật tại
điều 652. Di chúc vi phạm do người lập di chúc không đủ năng lực, không đủ tuổi, vi
phạm ý chí tự nguyện, người lập di chúc không minh mẫn sang suốt. Trong trường
hợp này, toàn bộ di sản của người chết sẽ được chia cho những người thừa kế theo
pháp luật của họ.
Trường hợp 3: Thừa kế theo pháp luật được áp dụng đối với phần di sản
không được định đoạt trong di chúc.
Nếu người để lại di sản chỉ định đoạt một phần di sản, thì phần còn lại sẽ
được áp dụng chia cho những người nằm trong hàng thừa kế (trừ khi họ là người
bị người lập di chúc chỉ rõ chỉ được hưởng phần di sản theo di chúc hoặc bị truất
quyền thừa kế theo di chúc).
Trường hợp 4: Trong trường hợp toàn bộ những người thừa kế chết trước
hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, các cơ quan, tổ chức hưởng di sản
theo di chúc đều không có người thừa kế theo quy định của pháp luật.
Một người thừa kế vừa có thể được hưởng di sản thừa kế theo di chúc lại vừa
được hưởng thừa kế theo pháp luật nếu họ là người tồn tại vào thời điểm mở thừa
8

8


trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm
9

9


hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
2. Những người quy định tại khoản 1 Ðiều này vẫn được hưởng di sản, nếu
người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng
di sản theo di chúc.
Những hành vi nên trên phải thoả mãn một trong các điều kiện sau:
-

Hành vi nói trên xảy ra khi di chúc đã lập mà người lập di chúc không có ý
kiến gì.
Hành vi nói trên xảy ra trước khi di chúc được lập nhưng người lập di chúc
không biết được người đó đã có hành vi đó.

Nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng di
sản thì áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản mà người lập di chúc
để lại.
Nếu chỉ có một hoặc một số người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng
di sản thì chỉ áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản liên quan đến những
người đó.
Trường hợp 6: Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người thừa
kế theo di chúc từ chối quyền hưởng di sản .
Người thừa kế có quyền nhận, cũng có quyền từ chối việc hưởng di sản của
người chết để lại.Nếu việc từ chối quyền hưởng di sản đúng quy định tại Bộ Luật
Dân sự thì phần di sản liên quan đến người từ chối sẽ được áp dụng thừa kế theo
pháp luật để giải quyết.


Quan hệ hôn nhân

Quan hệ hôn nhân ở đây chính là quan hệ vợ chồng. Quan hệ thỏa mãn đầy đủ
các yếu tố quy định của pháp luật về hôn nhân, dựa trên nguyên tắc tự nguyện,
bình đẳng, không vi phạm các quy định về kết hôn theo Luật Hôn Nhân và Gia
Đình.
Xuất phát từ một thực tế, quan hệ hôn nhân làm gắn kết vợ và chồng thành một
thể thống nhất là gia đình. Quan hệ hôn nhân không chỉ làm phát sinh những
ràng buộc về tình cảm, trách nhiệm với đối phương mà còn làm phát sinh
những ràng buộc về tài sản. Trong thời gian hôn nhân, vợ chồng cùng nhau xây
dựng một khối tài sản chung cho gia đình. Không phải lúc nào khối tài sản đó
cũng phân định rạch ròi của anh của tôi. Trong quy định thừa kế theo pháp
luật, khi người chết không để lại di chúc thì người vợ hoặc chồng đang còn
sống sẽ được hưởng tài sản ở hàng thứ nhất. Việc quy định vợ hoặc chồng có
quyền thừa kế tài sản của nhau không những bảo vệ quyền lợi của họ, mặt
khác còn thể hiện sự gắn bó về tình cảm giữa người thừa kế và người quá cố.
11

11


b.

Quan hệ huyết thống.

Xét trên phạm vi hẹp, quan hệ huyết thống là quan hệ giữa bố mẹ và con do
mình sinh ra, tức là có mối liên hệ dòng máu trực hệ. Việc người con được
hưởng di sản không hề phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của bố mẹ. Tức là
cả khi là con ngoài giá thú, nếu xác định đó chính là con ruột của người đã


c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột,
cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là
bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết
là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở
hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng
di sản hoặc từ chối nhận di sản
a. Hàng thừa kế thứ nhất.
Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm : vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi của người chết. Trong hàng thừa kế này có 2 loại quan hệ : quan hệ
thừa kế giữa vợ và chồng và quan hệ thừa kế là cha mẹ và các con.
 Quan hệ giữa vợ và chồng.

Quan hệ thừa kế này dựa trên quan hệ hôn nhân được quy định trong Luật Hôn
Nhân và Gia Đình .
Điều 31. Quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng
1. Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa
kế.
2. Khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống
quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định
người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác
quản lý di sản.
3. Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng
nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên
còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế
được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định; nếu hết thời

13

án nhân dân tối cao giải thích: “ các trường hợp sống chung sau khi Luật hôn
nhân và gia đình 1986 có hiệu lực mà không đăng kí thì chỉ có trường hợp
nào mà hai người chung sống có tạo ra tài sản chung. Vợ chồng đã ly dị
nhưng sau đó quay lại sống nhưng không có đăng ký kết hôn trước năm
1968 Luật Hôn Nhân Gia Đình có hiệu lực, việc sống chunng được thừa
nhận thì coi đó như hôn nhân thực tế. Vì vậy vợ chồng vẫn được thừa kế di
sản của nhau.

Tuy nhiên, khi thực hiện việc chia tài sản thừa kế giữa vợ chồng cần lưu ý:
1 Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội, Giáo trình Luật La Mã, NXB Đại học quố gia, 2004, tr.169.

14

14


-

Trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại,
sau đó một người chết thì người kia vẫn được hưởng di sản.

-

Trong trường hợp vợ chồng đã xin ly hôn mà chưa được tòa án chấp nhận
hoặc đã được toàn án cho ly hôn bằng văn bản nhưng chưa có hiệu lực pháp
luật , nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

-

Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết, thì

15


32/2002 NĐ-CP ngày 27/3/2002 của chính phủ quy định thì quan hệ giữa cha mẹ
nuôi và con nuôi thực tế đó vẫn được công nhận.( Quy định việc áp dụng Luật Hôn
nhân và Gia đình đối với các dân tộc thiểu số)
Điều 17. Các trường hợp nhận nuôi con nuôi trước ngày 01 tháng 01năm 2001
nhưng không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Nhữngtrường hợp nhận nuôi con nuôi được xác lập trước ngày 01 tháng 01
năm 2001,ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật, mà
chưa đăng kýtại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng có đủ điều kiện theo quy
định củaLuật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và trên thực tế, quan hệ giữa cha mẹ
nuôi vàcon nuôi đã được xác lập, các bên đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa
vụ củamình, thì được pháp luật công nhận và được Nhà nước khuyến khích và tạo
điềukiện thuận lợi cho việc đăng ký nuôi con nuôi. Nếu có tranh chấp liên quan
đếnviệc xác định quan hệ giữa cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và
ngườiđược nhận làm con nuôi thì do Toà án giải quyết.

Điều 678 BLDS quy định : “ con nuôi và cha mẹ nuôi được thừa kế di sản
của nhau và được thừa kế di sản theo quy định tại điều 676 và 677 của Bộ
Luật này”.
Căn cứ theo điều trên, một người là con nuôi vừa được thừa kế di sản của cha
mẹ nuôi, vừa được thừa kế di sản của cha mẹ đẻ. Người nhận con nuôi vừa
được thừa kế của con nuôi, vừa được thừa kế của con đẻ. Quy định trên cần
được hiểu theo những ý sau:
-

Đối với cha mẹ, vừa có quan hệ với con đẻ và con nuôi trong việc thừa kế.

-

và bố dược không làm ảnh hưởng tới quyền thừa kế của con riêng với di sản của
cha mẹ ruột.
b. Hàng thừa kế thứ hai.
Hàng thừa kế này bao gồm : ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị
ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội,
bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
Hàng thừa kế này tồn tại 2 mối quan hệ:

17

-

Quan hệ thừa kế giữa ông bà với cháu.

-

Quan hệ thừa kế giữa anh, chị, em ruột với nhau.
17


 Quan hệ thừa kế giữa ông, bà với cháu:

Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là hàng thừa kế thứ hai của cháu nội,
cháu ngoại của mình. Ngược lại cháu nội, cháu ngoại cũng là hàng thừa kế thứ
hai của ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Tuy nhiên, các cháu chỉ được
hưởng di sản khi bố mẹ của họ không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hay
từ chối nhận di sản ở hàng thừa kế thứ nhất mà không còn ai được hưởng ở
hàng này. Pháp luật đưa ra các dự liệu như vậy nhằm bảo vệ quyền lợi của các
cháu đối với di sản thừa kế của ông bà nội, ngoại tránh việc bị phụ thuộc vào
quy định về thừa kế thế vị trong trường hợp cha mẹ của cháu chết.

thứ ba của cụ, ngược lại khi chắt chết trước thì các cụ là người thừa kế ở hàng
thứ ba của chắt.Tuy nhiên các chắt chỉ được hưởng thừa kế khi hàng thứ nhất và
hàng thứ hai không còn ai hưởng thừa kế. Pháp luật đưa ra các dự liệu như vậy
nhằm bảo vệ quyền lợi của các chắt đối với di sản thừa kế của các cụ tránh việc
bị phụ thuộc vào quy định về thừa kế thế vị trong trường hợp cha mẹ của cháu
chết trước cụ.
 Quan hệ giữa bác ruột, chú ruột, cô ruột, dì ruột, cậu ruột với cháu ruột

Bác ruột, chú ruột, cô ruột, dì ruột, cậu ruột của một người là anh, chị,
em ruột của bố mẹ đẻ của người đó, là căn cứ xác định quan hệ huyết thống.
Đây là những người được hưởng di sản của nhau ở hàng thứ ba. Tức là khi
cháu chết trước bác, cô, dì, cậu ruột nếu tại thời điểm đó mà họ còn sống thì
họ sẽ là người thừa kế theo pháp luật của cháu và ngược lại.

5.Thừa kế thế vị.
Theo nguyên tắc chung của pháp luật thừa kế, thì người thừa kế phải là
người còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, trong thực tế có những
trường hợp rất đặc biệt là khi con của người chết để lại di sản chết trước người để
lại di sản thì cháu của người đó được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu
được hưởng nếu còn sống. Nếu cháu cũng đã chết trước người để lại di sản thì chắt
được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Những trường hợp này gọi là thừa kế thế vị.

19

19


Ngoài ra, theo quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự thì: cha, mẹ chết cùng thời
điểm với ông hoặc bà thì cháu thay thế vị trí của cha hoặc mẹ nhận di sản của


Theo quy định tại điều 683 BLDS thì nghĩa vụ của người chết để lại được chia
làm 2 loại:
20

20


Thứ nhất: Chi phí mai táng cho người chết và những chi phí bảo quản trông coi di
sản
Những chi phí này không phải là nợ do người chết để lại mà những khoản
liên quan đến di sản do cái chết của người để lại di sản. Nó được phát sinh sau thời
điểm mở thừa kế nhưng lại gắn liền với di sản thừa kế. Vì thế, mặc dù các khoản
này không phải là nợ của người chết nhưng khi thanh toán nghĩa vụ phải lấy từ di
sản người chết để lại. Bao gồm:
-

Chi phí mai táng: chi phí cho lễ tang theo phong tục tập quán của từng địa
phương.
Chi phí cho việc quản lý di sản: chi phí cho kiểm kê tập hợp di sản, chi phí
bỏ ra để lấy lại tài sản “từ tay” người khác đang chiếm hữu hợp pháp.
Khoản tiền trả thù lao cho người quản lý di sản.

Thứ hai: Nghĩa vụ di sản đúng ra phải do chính bản thân người chết thực hiện
nhưng chưa thực hiện hoặc đang thực hiện thì chết. Những nghĩa vụ này phát sinh
từ những hành vi của những người này “tạo ra” để phục vụ cho nhu cầu của họ.
Khi người đó chết thì được xác định là nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại.
Các nghĩa vụ này được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên trước và sau tại Điều 683
BLDS về nguyên tắc tất cả các loại nghĩa vụ về tài sản theo quy định trên đề phải được
thanh toán nếu chủ thể mang quyền yêu cầu. Khi thanh toán có 3 khả năng xảy ra:

Theo thứ tự trên, khi thanh toán tài sản phải thanh toán từng nghĩa vụ
một. Nghĩa vụ tiếp theo chỉ được thanh toán khi những nghĩa vụ trước đó đã được
thanh toán hoặc đã được thanh toán theo đúng yêu cầu của người có quyền.
Như vậy: Di sản thừa kế là phần còn lại trong khối di sản của người chết
sau khi đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác liên quan.
Người có nghĩa vụ thực hiện việc trả nợ là người hưởng thừa kế, do đó, trong
trường hợp người thừa kế từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 Bộ luật
Dân sự 2005 thì người đó không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người đã chết.
6.2 Phân chia di sản thừa kế.
Sau khi mở thừa kế thì bất cứ lúc nào người thừa kế cũng có quyền yêu cầu
chia di sản nhưng trên thực tế rất ít khi di sản được đem chia ngay,thường là qua
một thời gian dài hay ngắn kể từ thời điểm mở thừa kế, tuỳ thuộc thoả thuận của
những người được thừa kế. Di sản mà người chết để lại có thể được phân chia cho
những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.
a.

Phân chia theo di chúc.

Khoản 1 điều 684 BLDS quy định việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí
của người lập di chúc. Theo cách phân chia này ý chí của người lập di chúc được
tôn trọng và thực hiện. Để việc chia di sản thừa kế theo đúng ý nguyện của người
lập di chúc,việc phân chia di sản phải đúng một trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất: di sản được chia theo tỷ lệ. Trong trường hợp di chúc chỉ xác định
phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên
giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.

22

22


Tương tự như vậy, vấn đề phân chia di sản có thể di chuyển xuống các
hàng tiếp theo. Trong trường hợp, di sản không có người nhận thừa kế thì
tài sản sẽ thuộc về Nhà nước ( theo quy định tại điều 644, Bộ luật Dân sự
2005).

-

Những người thừa kế cùng hàng được phân chia di sản đều nhau ( theo
quy định tại khoản 2, điều 676 Bộ luật Dân sự: “ Những người thừa kế
cùng hàng thì được hưởng di sản thừa kế bằng nhau”).

2 Học viện Tư pháp, Giáo trình Luật dân sự, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2007, tr.562.

23

23


-

Trong trường hợp trong hàng thừa kế có người thừa kế đã thành thai thì
phải để dành một phần di sản tương ứng với những người trong hàng
thừa kế cho người đó. Trong trường hợp thai nhi chết trước khi sinh thì
phần thừa kế này được chia đều cho những người được thừa kế khác.
Trong trường hợp chết sau khi sinh thì phần di sản thuộc về người thừa
kế của người này theo quy định của pháp luật.


Phương thức phân chia:



24


giá ra tiền mặt để chia cho người hưởng thừa kế. Phương thức này được
áp dụng khi:
Thứ nhất, Mọi người thừa kế đều có nhu cầu nhận hiện vật. Thứ hai,
không có ai đồng ý nhận hiện vật. Thứ 3, di sản là tài sản không chia
được. Thứ tư, chỉ có 1 người được nhận hiện vật. Như vậy, khác với hình
thức phía trên người thừa kế được sở hữu hiện vật thì theo phương thức
này, người thừa kế sẽ được hưởng một khoản tiền tương ứng tỉ lệ mà
mình được hưởng tính trên tổng giá trị khối lượng tài sản mà người chết
để lại. Giá trị ở đây có thể do các bên thoả thuận hoặc do Toà án định giá.
Để đảm bảo lợi ích kinh tế, hiện vật thường được ưu tiên chia cho những
người đang trực tiếp quản lý, sử dụng hay đang khai thác hoặc quản lý để
sản xuất kinh doanh. Khi đó, người được hưởng hiện vật có thể có nghĩa
vụ hoàn lại cho những người thừa kế khác một khoản tiền tương ứng với
phần những người đó được hưởng trên tổng tài sản được phân chia.

25

25



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status