ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THU NGA CƠ SỞ LÝ LUẬN, XÃ HỘI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TẾ
ĐỂ XÁC ĐỊNH DIỆN THỪA KẾ VÀ PHÂN CHIA HÀNG THỪA
KẾ THEO PHÁP LUẬT TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT
NAM NĂM 2005 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phùng Trung Tập HÀ NỘI - 2009
1
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan
Điều chỉnh các quan hệ thừa kế trong quá trình phát triển
kinh tế, xã hội
20
1.2.2.
Các quy định về diện và hàng thừa kế trong quan hệ pháp
luật dân sự
22
1.3.
Những quy định về diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp
luật trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ phát triển
23
1.3.1.
Thời kỳ trước năm 1945
23
1.3.2.
Thời kỳ từ năm 1945 đến nay
27
Chương 2: DIỆN THỪA KẾ VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2005
39
2.1.
Các yếu tố tác động, chi phối việc xác định diện thừa kế và
39 2
phân chia hàng thừa kế
2.1.1.
Truyền thống lập pháp, phong tục tập quán
62
2.3.3.
Hàng thừa kế thứ ba
65
2.3.4.
Trình tự hưởng di sản theo hàng
67
2.4.
Thừa kế thế vị
67
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ
DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM HIỆN NAY
71
3.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện những quy định về diện thừa kế
và hàng thừa kế theo pháp luật
71
3.1.1.
Tác động của việc quản lý kinh tế của nước ta đến các giao
lưu dân sự
72
3.1.2.
Thực trạng áp dụng pháp luật về diện và hàng thừa kế theo
pháp luật
73
3.2.
Giải pháp hoàn thiện những quy định về diện thừa kế và hàng
thừa kế theo pháp luật
4
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đưa ra
những mục tiêu, chính sách lớn phát triển, đổi mới toàn diện đất nước, xây
dựng Nhà nước pháp quyền với mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh". Để làm được những mục tiêu, chính sách lớn, Nhà
nước đã ban hành các văn bản pháp luật bảo vệ quyền lợi chính đáng của
công dân cũng như các nghĩa vụ cơ bản đối với đất nước nhằm tạo hành lang
pháp lý ổn định, lành mạnh, khuyến khích sự phát triển năng lực cá nhân, sức
mạnh của tập thể, khai thác tối đa tiềm năng con người.
Trong đời sống dân sự, vấn đề thừa kế có một ý nghĩa quan trọng. Tại
Điều 58 Hiến pháp 1992 quy định: "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp
và quyền thừa kế của công dân". Như vậy, "quyền thừa kế" được Hiến pháp
quy định là một quyền cơ bản của công dân.
Năm 1995, Bộ luật Dân sự được ban hành, trong đó tại phần thứ tư
xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ
luật Dân sự Việt Nam năm 2005" cho luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, các đề tài nghiên cứu về thừa kế tương đối nhiều, đề cập
đến các khía cạnh khác nhau của chế định thừa kế. Việc nghiên cứu được thực
hiện ở các cấp độ khác nhau như: Các khóa luận cử nhân, luận văn cao học,
các luận án tiến sĩ.
- Luận án tiến sĩ:
+ Tác giả Phùng Trung Tập với đề tài: "Thừa kế theo pháp luật của
công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay". 6
+ Tác giả Phạm Văn Tuyết với đề tài: "Thừa kế theo di chúc trong Bộ
luật Dân sự Việt Nam".
+ Tác giả Nguyễn Minh Tuấn với đề tài: "Cơ sở lý luận và thực tiễn
của những quy định chung về thừa kế trong Bộ luật Dân sự".
- Luận văn cao học:
+ Tác giả Nguyễn Thị Vĩnh với đề tài: "Thừa kế theo pháp luật trong
Bộ luật Dân sự Việt Nam".
+ Tác giả Nguyễn Thị Hồng Bắc với đề tài: "Một số vấn đề thừa kế
theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam".
+ Tác giả Phan Thị Kim Chi với đề tài: "Diện và hàng thừa kế theo
quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005".
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu, bài viết về thừa kế trong
các tạp chí như: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp
chí Luật học, Tạp chí Dân chủ và pháp luật…
Tuy nhiên, về "Cơ sở lý luận, xã hội và những vấn đề thực tế để xác
định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật
Dân sự Việt Nam năm 2005" chưa có công trình nghiên cứu, bài viết nào tiếp
trước đây đã khắc phục những hạn chế, thiếu sót, bổ sung các quy phạm mới
nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.
Từ lý do trên, nghiên cứu đề tài "Cơ sở lý luận, xã hội và những vấn
đề thực tế để xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật
trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005" để thấy được: Sự hoàn thiện của
Bộ luật Dân sự trong việc quy định diện và hàng thừa kế theo pháp luật, đánh
dấu bước phát triển của pháp luật về thừa kế của nước ta trong thời kỳ đổi
mới, hội nhập và phát triển. Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu đề tài nhằm
hoàn thiện nội dung khoa học các quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp
luật trong Bộ luật Dân sự hiện hành. Phân tích nội dung các quy định về diện 8
và hàng thừa kế góp phần làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của các quy
định trên, tìm ra những bất cập, hạn chế của các quy định về diện và hàng
thừa kế, đề xuất hướng hoàn thiện những quy định này trong Bộ luật Dân sự
năm 2005.
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn nghiên cứu các vấn đề sau:
- Những vấn đề lý luận về diện và hàng thừa kế theo pháp luật.
- Các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội tác động, ảnh hưởng
đến việc xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật.
- Nội dung quy định về diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật
trong Bộ luật Dân sự năm 2005.
- Thực tiễn áp dụng các quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật.
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài
Kế thừa và phát triển luật dân sự Việt Nam trước đây, Bộ luật Dân sự
năm 2005 đã quy định "Thừa kế" là một chế định quan trọng. Với những quy
định cụ thể và chi tiết về thừa kế, đặc biệt là sự bổ sung, mở rộng hơn trong
các quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật, Bộ luật Dân sự năm
2005 đã góp phần đảm bảo xã hội ổn định, phát triển, phát huy truyền thống
Chương 2: Diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật
Dân sự Việt Nam năm 2005.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện những quy định về diện và hàng thừa
kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành. 10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DIỆN THỪA KẾ
VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
1.1. KHÁI NIỆM QUYỀN THỪA KẾ, DIỆN THỪA KẾ VÀ HÀNG THỪA
KẾ THEO PHÁP LUẬT
1.1.1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế
Thừa kế là một quan hệ xã hội, là việc chuyển dịch tài sản của người
đã chết cho những người còn sống. Thừa kế xuất hiện đồng thời với quan hệ
sở hữu và quá trình phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của lịch sử loài
người. Thừa kế tài sản trong xã hội nguyên thủy là sự kế thừa mang tính tự
nhiên, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của gia đình, thị tộc và xã hội.
Ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người đã xuất hiện quan hệ sở
hữu, do vậy, thừa kế đã có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ này. Ở
thời kỳ đầu của xã hội cộng sản nguyên thủy, những điều kiện về kinh tế, xã
hội và hôn nhân phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc,
nên việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người đã chết cho những người
còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống, những phong tục tập
quán của thị tộc và được tổ chức theo chế độ mẫu hệ (hay mẫu quyền).
Khi nghiên cứu về nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà
nước, Ph. Ăngghen đã chỉ ra rằng: "Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào
mà dòng dõi chỉ tính theo bên mẹ và tập quán kế thừa lúc ban đầu trong thị
tộc thì chỉ những người thân trong thị tộc mới được kế thừa những thành viên
kế thì thừa kế là phương tiện duy trì, củng cố và phát triển quan hệ sở hữu.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của cải xã hội ngày
càng được làm ra nhiều hơn và có dư thừa. Đời sống trong mỗi gia đình và xã
hội đã có sự thay đổi. Những người có địa vị trong thị tộc, bộ lạc đã lợi dụng 12
chức phận để chiếm đoạt một phần sản phẩm của thị tộc. Những người đó đã
trở thành những người giàu có trong xã hội và xã hội nguyên thủy bắt đầu tan
rã, xã hội có giai cấp đã xuất hiện. Sự phân hóa này về cơ bản dựa theo mức
độ, giá trị tài sản, tư liệu sản xuất mà các tầng lớp người trong xã hội chiếm
hữu được khác nhau, từ đó hình thành nên chế độ tư hữu về tài sản. Hình thức
thừa kế phù hợp với chế độ tư hữu về tài sản hình thành, đánh dấu bước ngoặt
mới trong quan hệ tài sản và quan hệ thừa kế tài sản.
Từ khi Nhà nước ra đời cùng với sự phân chia xã hội thành giai cấp và
chế độ tư hữu được hình thành, việc chiếm giữ những của cải vật chất giữa
người với người được điều chỉnh bằng pháp luật theo hướng có lợi cho giai
cấp thống trị xã hội. Thông qua những quy phạm pháp luật, Nhà nước điều
chỉnh quan hệ thừa kế trong việc xác định phạm vi chủ thể, nội dung, hình
thức, điều kiện chuyển dịch tài sản thừa kế và những vấn đề khác có liên quan
đến việc thừa kế tài sản.
Với những phân tích trên có thể thấy, thừa kế tài sản là một phạm trù
pháp luật, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội
có phân chia giai cấp dựa trên cơ sở tư hữu về tài sản, thể hiện ở sự dịch
chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo trình tự, thủ tục
pháp luật quy định.
Trong xã hội có giai cấp, Nhà nước dùng pháp luật điều chỉnh quan hệ
thừa kế, vì vậy quan hệ thừa kế là đối tượng điều chỉnh của pháp luật. Như
vậy, để phát sinh quan hệ pháp luật thừa kế, khái niệm quyền thừa kế mới
xuất hiện. Nếu thừa kế là nhóm những quan hệ xã hội phát sinh ngay cả trong
Như vậy, quyền sở hữu và quyền thừa kế có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Hình thức sở hữu quyết định việc thừa kế trong xã hội, do đó, quyền
thừa kế mang bản chất giai cấp sâu sắc. Trong chế độ phong kiến và tư sản,
giai cấp bóc lột chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì di
sản của họ để lại cho con cháu không chỉ truyền lại về quyền lực kinh tế mà
truyền lại quyền lực chính trị để duy trì sự áp bức, bóc lột của những giai cấp 14
đó đối với nhân dân lao động. Chức năng xã hội của pháp luật thừa kế trong
xã hội bóc lột là nhằm duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác các quan hệ tư
hữu về tư liệu sản xuất và bằng chính cách đó đảm bảo cho giai cấp thống trị
khả năng chiếm hữu thành quả lao động của người khác nhờ có sở hữu của mình.
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, chế định thừa kế bảo vệ phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa, do đó, một số nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng và
vô chính phủ đã truyền bá những quan điểm sai lầm về khả năng cải tạo xã
hội tận gốc rễ chỉ bằng cách hủy bỏ thừa kế. Họ khẳng định, hủy bỏ quyền sở
hữu tư bản chủ nghĩa chính là đi đến tiêu diệt chế độ tư bản chủ nghĩa, bởi vì
tư bản sẽ không được chuyển giao theo thừa kế. Các quan điểm này đã bị các
nhà mácxít tiền bối phê phán kịch liệt và chứng minh rằng quyền thừa kế
không phải là nguyên nhân mà là hậu quả của sự bất công về xã hội và kinh tế
trong một xã hội dựa trên tư hữu. Bởi vậy, hủy bỏ thừa kế không thể là cơ sở
để cải tạo xã hội. Công cuộc cải tạo đó chỉ có thể đạt được bằng cách xóa bỏ
xã hội bóc lột và quyền tư hữu tư liệu sản xuất.
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã
hội thuộc về nhân dân lao động, vì vậy, chế độ thừa kế trước hết nhằm đảm bảo
cho người lao động yên tâm, tích cực phấn khởi lao động sản xuất để được
hưởng thành quả lao động của mình, chuyển thành quả đó cho người thừa kế.
Ở nước ta, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công,
Nhà nước dân chủ cộng hòa non trẻ đứng trước nhiệm vụ cấp thiết phải xóa
La Mã đến nay, pháp luật về thừa kế quy định có hai hình thức thừa kế, đó là
thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
Thừa kế theo di chúc là sự dịch chuyển tài sản của một người đã chết
cho những người khác còn sống theo sự định đoạt của người lập di chúc. Việc
định đoạt của người có tài sản được thể hiện trong di chúc là căn cứ để những
người được chỉ định trong di chúc hưởng di sản khi người lập di chúc chết.
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp di chúc làm phát sinh các quan hệ 16
pháp luật về thừa kế. Thực tiễn cuộc sống cho thấy có những trường hợp tuy có
di chúc nhưng ý chí định đoạt di sản của người có di sản không được bảo đảm
như bị cưỡng ép hay tạm thời bị mất năng lực hành vi dân sự khi lập di chúc;
hoặc sự định đoạt của họ không phù hợp với các quy định của pháp luật; hoặc ý
chí định đoạt đó thể hiện không đầy đủ đối với khối di sản mà họ có, vì vậy
không thể phân chia di sản theo di chúc của người có di sản để lại. Trong trường
hợp này, theo quy định của pháp luật, di sản thừa kế sẽ được để lại cho những
người còn sống có quan hệ thân thích theo điều kiện, trình tự hàng thừa kế,
nói cách khác, việc chia di sản sẽ thực hiện theo ý chí của Nhà nước, không
phụ thuộc vào ý chí của người để lại di sản. Đó chính là thừa kế theo pháp luật.
Như vậy, thừa kế di sản theo pháp luật được thực hiện trong trường
hợp người chết không để lại di chúc hoặc tuy có để lại di chúc nhưng di chúc
không hợp pháp, di chúc không thể thực hiện được. Pháp luật về thừa kế của
các nước trên thế giới đều quy định chung về căn cứ để xác định thừa kế theo
pháp luật. Tuy nhiên, ở mỗi nước quy định những căn cứ để xác định thừa kế
theo pháp luật có sự khác nhau.
Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định tại Điều 1620: "Khi
một người qua đời không để lại di chúc hoặc đã làm di chúc nhưng di chúc của
người đó không có hiệu lực, thì toàn bộ tài sản của người đó sẽ được phân chia
cho những người thừa kế theo pháp luật" [10]; "Khi một người qua đời có để lại
- Có hình thức thừa kế theo di chúc nhưng người có tài sản lập di chúc
chỉ định đoạt một phần tài sản;
- Có di chúc nhưng di chúc không thực hiện được (trong các trường
hợp người được thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản, từ chối
quyền hưởng di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di
chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc nhưng không còn vào
thời điểm mở thừa kế). 18
Nếu thừa kế theo di chúc là sự dịch chuyển tài sản của một người theo
ý chí của người đó khi còn sống cho người được chỉ định bằng di chúc là bất
kỳ ai (kể cả tổ chức và Nhà nước) thì thừa kế theo pháp luật chỉ là cá nhân và
được pháp luật quy định trong số những người thuộc diện thừa kế của người
để lại di sản. Những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật được pháp luật
chỉ định hưởng di sản theo trật tự ưu tiên là hàng thừa kế. Hưởng di sản theo
trật tự hàng thừa kế tuân theo nguyên tắc pháp luật, hàng trước loại trừ hàng
sau trong việc hưởng di sản. Tuy nhiên, người thuộc hàng thừa kế phải là
người có quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật.
Có thể nói, thừa kế theo pháp luật là một trong hai hình thức thừa kế
do pháp luật quy định vừa bảo đảm quyền đương nhiên của người có tài sản
được để lại tài sản sau khi chết, vừa bảo vệ quyền của những người thuộc diện
thừa kế của người có tài sản để lại. Đây là hình thức thừa kế truyền thống
được bảo tồn trong quá trình phát triển của xã hội loài người nhằm củng cố cơ
sở vật chất của mối quan hệ huyết thống, gia đình.
1.1.3. Khái niệm diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật
1.1.3.1. Khái niệm diện thừa kế theo pháp luật
Một trong những vấn đề chính yếu của thừa kế theo pháp luật là việc
xác định phạm vi những người có quyền thừa kế theo pháp luật. Tính đến thời
điểm hiện nay, pháp luật thừa kế của nước ta chưa từng có quy định như thế
Các nguyên tắc cơ bản trong việc xác định diện thừa kế theo pháp luật
được dựa trên cơ sở hiến định. Điều 9 Hiến pháp năm 1946 quy định: "Đàn bà
ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện". Theo những nguyên tắc
chung được quy định trong Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950, theo những
hướng dẫn trong các Thông tư số 1742-BNC ngày 18/9/1956 của Bộ Tư pháp,
Thông tư số 594-NCPL ngày 27/8/1968 của Tòa án nhân dân tối cao ghi nhận
quyền bình đẳng của vợ, chồng trong gia đình, quyền bình đẳng giữa nam, nữ
trong việc hưởng di sản; các con của người để lại di sản không phân biệt giới 20
tính, độ tuổi, có năng lực hành vi hay không có năng lực hành vi dân sự đều
thuộc diện thừa kế theo pháp luật và họ được thừa kế tại hàng thừa kế thứ
nhất, được hưởng phần di sản ngang nhau. Nếu pháp luật của chế độ phong
kiến luôn coi trọng quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và lấy đó làm
căn cứ để quy định phạm vi những người thừa kế theo pháp luật, thì pháp luật
thừa kế của chế độ dân chủ, nhân dân ở nước ta còn coi trọng quan hệ hôn
nhân và theo đó, diện thừa kế theo pháp luật còn bao gồm vợ, chồng của
người để lại di sản. Đặc biệt, kể từ khi Pháp lệnh Thừa kế ngày 30/8/1990 và
Bộ luật Dân sự năm 1995 được ban hành, diện thừa kế theo pháp luật đã được
mở rộng theo quan hệ huyết thống trực hệ và bàng hệ. Diện thừa kế theo pháp
luật còn được mở rộng hơn nữa khi Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban hành.
Căn cứ vào quy định các hàng thừa kế tại Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005,
diện những người thừa kế theo pháp luật đã được mở rộng hơn so với quy
định về diện thừa kế theo pháp luật được quy định tại Bộ luật Dân sự năm
1995. Bề trên có các cụ nội, ngoại; ông bà nội, ngoại; bố, mẹ, chú, bác, cô, dì,
cậu ruột của người để lại di sản; ngang bậc có vợ, chồng; anh, chị, em ruột
của người để lại di sản; bề dưới có các cháu, các chắt và các cháu ruột mà
người để lại di sản là chú, bác, cô, dì, cậu ruột.
Theo quy định tại Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì người thừa
Pháp luật bao giờ cũng là sự phản ánh của một chế độ xã hội nên chế
định thừa kế cũng mang tính chất lịch sử qua từng thời kỳ nhất định. Xuất
phát từ đặc điểm này cũng như đã nhận định ở trên: Cách xác định diện thừa
kế của nước ta qua từng thời kỳ khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là
do quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ gia đình chi phối. Tuy
nhiên, trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội thì quan điểm lập pháp
cũng không giống nhau nên những quy định về việc xác định diện thừa kế
theo pháp luật cũng ở mức độ rộng, hẹp khác nhau.
Qua những phân tích về diện thừa kế theo pháp luật có thể nhận định:
Diện thừa kế theo pháp luật là phạm vi những người có quyền hưởng
di sản thừa kế được chia theo pháp luật mà khi còn sống người để lại di sản có 22
mối quan hệ huyết thống. quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng với những
người trong phạm vi thuộc một hoặc các mối quan hệ đó.
1.1.3.2. Khái niệm hàng thừa kế theo pháp luật
Diện thừa kế theo pháp luật là là phạm vi những người có quyền hưởng
di sản thừa kế được chia theo pháp luật. Như vậy, không phải mọi cá nhân
thuộc diện thừa kế theo pháp luật đều được hưởng di sản thừa kế mà việc
hưởng di sản thừa kế luôn được xác định theo trình tự hàng.
Luật thực định của các nước đều có quy định các hàng thừa kế song
chưa có quy định thế nào là hàng thừa kế. Tuy nhiên, khái niệm này cũng ít
nhiều được đề cập tới trong một số tài liệu chuyên khảo.
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học: "Hàng thừa kế là nhóm
người có quan hệ cùng tính chất gần gũi với người để lại di sản" [40, tr. 64].
Khái niệm này đã nêu bật vấn đề cơ bản là hàng thừa kế theo pháp luật luôn
luôn bao gồm những người có quan hệ gần gũi với người để lại di sản.
Theo Từ điển Luật học: "Trong trường hợp không có di chúc thì hàng thừa
kế là thứ tự ưu tiên hưởng di sản theo quy định của pháp luật" [43, tr. 182-183].
TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC QUY
ĐỊNH VỀ DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ
1.2.1. Điều chỉnh các quan hệ thừa kế trong quá trình phát triển
kinh tế, xã hội
Trong mỗi quốc gia, pháp luật luôn đóng vai trò quan trọng, là công
cụ điều hành và quản lý xã hội của Nhà nước, đồng thời là phương tiện không
thể thiếu nhằm hướng dẫn các cá nhân, chủ thể trong xã hội thực hiện các
hành vi xử sự đúng theo quy định, vừa đảm bảo được lợi ích của cá nhân, vừa
đảm bảo lợi ích chung của xã hội.
Pháp luật dân sự luôn có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật,
với mục tiêu chính là điều chỉnh các quan hệ tài sản nhằm thúc đẩy phát triển