Nghiên cứu cấu trúc trước và sau khai thác rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại tỉnh đắk lắk - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------

HỒ TRUNG LƯƠNG

NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC TRƯỚC VÀ SAU KHAI THÁC RỪNG
TỰ NHIÊN LÁ RỘNG THƯỜNG XANH TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------

HỒ TRUNG LƯƠNG

NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC TRƯỚC VÀ SAU KHAI THÁC RỪNG
TỰ NHIÊN LÁ RỘNG THƯỜNG XANH TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

Chuyên ngành: Lâm học
Mã Số: 60620201

bản luận văn được hoàn chỉnh hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 3 năm 2014
Tác giả

Hồ Trung Lương


ii

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
MỤC LỤC ......................................................................................................... ii
DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................. v
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... vi
DANH MỤC CÁC HÌNH .............................................................................. viii
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................ 2
1.1. Trên thế giới ............................................................................................... 3
1.1.1. Cấu trúc rừng ........................................................................................... 3
1.1.2. Tái sinh rừng tự nhiên ............................................................................. 7
1.1.3. Nghiên cứu về khai thác chọn ................................................................. 8
1.2. Ở Việt Nam. ............................................................................................. 10
1.2.1. Phân loại rừng phục vụ kinh doanh ...................................................... 10
1.2.2. Nghiên cứu về cấu trúc rừng ................................................................. 12
1.2.3. Nghiên cứu về tái sinh rừng .................................................................. 17
1.2.4. Về phương thức khai thác chọn ............................................................ 20
1.3. Thảo luận .................................................................................................. 21

4.1.2. Cấu trúc rừng ......................................................................................... 43
4.2. Cấu trúc của bộ phận khai thác ................................................................ 58
4.2.1. Trữ lượng khai thác theo cấp kính ........................................................ 58
4.2.2. Trữ lượng bộ phận khai thác phân theo nhóm gỗ ................................. 59
4.2.3. Cường độ khai thác ............................................................................... 60
4.3. Cấu trúc của bộ phận cây đổ gãy do khai thác. ........................................ 61
4.3.1. Phân bố số cây đổ gãy theo cỡ kính Ndg/ha ......................................... 61
4.3.2. Phân bố trữ lượng bộ phận cây đổ gãy theo cấp kính và theo nhóm gỗ63


iv

4.4. Đặc điểm cấu trúc rừng sau khai thác. ..................................................... 66
4.4.1. Về số loài cây và công thức tổ thành .................................................... 66
4.4.2. Quy luật phân bố số cây theo đường kính sau khai thác. ..................... 68
4.4.3. Ảnh hưởng của khai thác đến cấu trúc rừng. ........................................ 70
4.4.4. Phân cấp trữ lượng theo cấp đường kính sau khai thác. ....................... 73
4.4.5. Phân loại hiện trạng rừng sau khai thác. ............................................... 74
4.5. Một số đặc điểm tầng cây tái sinh ............................................................ 76
4.5.1. Tổ thành cây tái sinh trước và sau khai thác. ........................................ 80
4.5.2. Quan hệ giữa tổ thành tầng cây cao và tầng cây tái sinh ...................... 84
4.5.3. Mật độ cây tái sinh và mật độ cây tái sinh có triển vọng ...................... 84
4.6. Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh sau khai thác. .............................. 87
4.6.1. Đối với quá trình khai thác: .................................................................. 88
4.6.2. Giải pháp kỹ thuật lâm sinh sau khai thác. ........................................... 90
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ....................................................... 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO


v


Ô tiêu chuẩn

M/ha

Trữ lượng rừng trên ha (m3/ha)

N%

Tỷ lệ % mật độ

G%

% tiết diện ngang

IV%

Chỉ số quan trọng

Dbq

Đường kính bình quân

I%

Cường độ khai thác

Ikt%

Cường độ đổ gãy do khai thác


Số cây khai thác

Nđg

Số cây đổ gãy do khai thác

TTR

Trạng thái rừng

KL

Kết luận
Tổng


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng

STT

Trang

4.1

Kết quả phân loại trạng thái rừng trước khai thác


55

4.7

Phân loại trữ lượng các loài cây theo nhóm gỗ

57

4.8

Trữ lượng cây khai thác phân theo cấp kính

59

4.9

Trữ lượng bộ phân cây khai thác phân theo nhóm gỗ

60

4.10

Tổng hợp cường độ khai thác của ôtc

61

4.11

Mô phỏng phân bố thực nghiệm cây gãy đổ bằng phân bố



67

4.17

Số cây và tỷ lệ số cây mất đi

70

4.18

Tương quan giữa số cây khai thác và số cây gãy đổ

71

4.19

Trữ lượng và cường độ khai thác

72

4.20

Phân cấp trữ lượng theo cấp đường kính sau khai thác

73

4.21

Tỷ lệ giữa các cấp kính trước và sau khai thác


rừng IIIB
4.26a Tổ thành tầng tái sinh trạng thái rừng IVB

82

4.26b Tổ thành tầng tái sinh trạng thái rừng IVB

82

4.26c Tổ thành tầng tái sinh trạng thái rừng IVB

83

4.27

Mật độ cây tái sinh ở các trạng thái rừng

85

4.28

Mật độ cây tái sinh có triển vọng ở các trạng thái rừng

86


viii

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.5
4.6

Phân bố số cây theo đường kính trước khai thác khai thác và sau
khai thác

70

Đường cong tương quan giữa Nkt và Ndg

72


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Số liệu theo dõi diễn biến tài nguyên rừng cho thấy, giai đoạn 19761990, diện tích rừng liên tục bị suy thoái về cả số lượng lẫn chất lượng. Từ
năm 1991 đến năm 2000, nhờ các chương trình trồng rừng (chương trình 327
giai đoạn 1992-1998 và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 19982010), tính đến năm 2005, cả nước có trên 12,6 triệu ha rừng (trong đó: rừng
tự nhiên có gần 10,3 triệu ha, rừng trồng hơn 2,3 triệu ha), nâng độ che phủ
rừng đạt 37% . Tuy nhiên chất lượng rừng vẫn đang suy giảm.
Hiện nay, rừng tự nhiên vùng Tây Nguyên đã và đang suy giảm một cách
nhanh chóng về cả diện tích và chất lượng. Trong vòng 5 năm từ 2005 đến năm
2010, diện tích rừng tăng lên 700.258 ha, trong đó rừng tự nhiên tăng 89.056 ha
và rừng trồng tăng 611.212 ha; nhưng riêng vùng Tây Nguyên, diện tích rừng tự
nhiên giảm 93.256 ha, rừng trồng tăng 86.460 ha. Tỷ lệ diện tích rừng bị mất lớn
nhất là Đắk Nông 5,9%, tiếp đến là Đắk Lắk 2,9%, Gia Lai 0,5% và Lâm Đồng
0,2%. Chỉ có tỉnh Kon Tum là có diện tích rừng tăng 8,9%.
Có rất nhiều nguyên nhân khiến rừng bị suy thoái cả về số lượng và
chất lượng, nhưng phần lớn đều do tình trạng khai thác rừng bừa bãi, cụ thể là

những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở để đề xuất
các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp. Có nhiều tác giả nghiên cứu và đã
thành công trong lĩnh vực này.
Đầu tiên, chúng ta phải kể tới Baur G.N. (1976) [1] đã đi sâu nghiên cứu
các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa
tự nhiên. Theo tác giả, các phương thức xử lý đều nhằm vào hai mục tiêu cụ thể:
“Mục tiêu thứ nhất là nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và
không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và vô dụng để tạo
không gian thích hợp cho các cây còn lại sinh trưởng. Mục tiêu thứ hai là tạo lập
tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo hoặc giải phóng
lớp cây tái sinh sẵn có đang ở trạng thái ngủ để thay thế cho những cây đã lấy ra
khỏi rừng trong khai thác hoặc trong chăm sóc nuôi dưỡng rừng sau đó". Chính
nhờ quan điểm như vậy, tác giả đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về
các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh.


4

Sau đó, Catinot (1965) [5] đã nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông
qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng. Thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng,
nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái nhờ việc mô tả phân loại theo các khái
niệm dạng sống, tầng phiến...tác giả cho rằng muốn ổn định hệ sinh thái rừng
nhất thiết phải nắm vững quy luật vận động, biết cách điều tiết mối quan hệ trong
sự phức tạp.
Trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái của Tanslay A.P (1935), Odum E.P
(1971) [27] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái. Và từ đó khái niệm hệ sinh
thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm
sinh thái học.
Những kết quả của các tác giả đã làm sáng tỏ các khái niệm về hệ sinh
thái rừng trên quan điểm sinh thái học. Nó chính là nền tảng vững chắc cho các

và thông qua đó, ta thấy được sự suy thoái mạnh mẽ của rừng bằng việc càng
ngày sự đa dạng đó càng giảm. Và cần có những biện pháp kỹ thuật lâm sinh
nhằm khôi phục lại sự đa dạng của rừng mưa nhiệt đới sau này.
1.1.1.3. Về cấu trúc tầng thứ
Sự đa dạng và phong phú về tổ thành các loài cây trong rừng mưa nhiệt
đới là lý do tạo nên tính chất phức tạp của sự phân tầng. Có rất nhiều nghiên
cứu về vấn đề này nhưng còn có ý kiến không thống nhất nhau trong cách
phân chia tầng thứ của các tác giả. Một số tác giả cho rằng, rừng lá rộng thường
xanh có từ 3 đến 5 tầng. Còn một số tác giả khác lại phân tầng thứ theo hướng định
tính với các tầng sinh thái khác nhau và đưa ra giới hạn độ cao của các tầng như:
Richards P.W (1952) [44] phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng với cự ly chiều cao
giữa các tầng là 6m. Webb (1956) [48] thống nhất quan điểm của Richards đã phân
chia rừng thành 3 - 4 tầng, trong đó có tầng trội hoặc không, nhưng lại cho rằng việc
phân chia tầng thứ là tùy ý mà thôi.

Bên cạnh đó, Catinot.R (1965)[5] cũng cho rằng rừng ẩm nhiệt đới có sự
phân hoá mạnh, những tầng trong quần thụ rõ nét, cụ thể là có một tầng vượt tán


6

với những cây có chiều cao trên 40 m và những tầng bên dưới. Ngoài ra tác giả
đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng phẫu diện đồ ngang và đứng.
Ngược lại với ý kiến trên, có tác giả cho rằng ở kiểu rừng này chỉ có một
tầng cây gỗ. Odum E.P (1971) [27] cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một
tầng riêng biệt nào cả.
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ rừng tự nhiên đều
nhắc đến sự phân tầng nhưng mới dừng lại ở mức nhận xét hoặc đưa ra những kết
luận định tính, phân chia tầng thứ dựa vào cấp chiều cao mang tính cơ giới nên phần
nào chưa phản ánh đúng tính phức tạp của cấu trúc rừng nhiệt đới.

1.1.2. Tái sinh rừng tự nhiên
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu lâm học, hiệu quả của tái sinh rừng
được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc
điểm phân bố. Vai trò của cây con là thay thế cây già cỗi, vì vậy hiểu theo nghĩa
hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng
cây gỗ. Do vậy có thể nói những nghiên cứu về tái sinh đã góp phần làm sáng

tỏ các quy luật tồn tại và phát triển của rừng cả trong quá khứ, hiện tại và
tương lai.
Davis và Richards (1933-1934), trong khi nghiên cứu rừng mưa ở khu
vực sông Moraballi, Guana, đã thống kê số cây thứ tự từ thấp đến cao, đầu
tiên là số mầm non dưới 2 m, kế đến là số cây non có đường kính dưới 10 cm
và chiều cao trên 4,6 m, sau đó mới đến số cây gỗ có đường kính trên 10 cm,
với cỡ đường kính bốn tấc Anh (10 cm); cây tái sinh đã được thống kê từ
dưới hai mét cho đến chiều cao 4,6 m với đường kính dưới 10 cm. (Dẫn theo
Tô Đức Hiện, 2010)[11]
Van Steniss (1956)[51] đã nêu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng
nhiệt đới là kiểu tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và kiểu
tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng. Tái sinh phân tán liên tục, rừng mưa
nhiệt đới có tổ thành loài cây phức tạp, khác tuổi nên thời kỳ tái sinh của quần
thể diễn ra quanh năm. Đặc điểm tái sinh này có nguồn gốc sâu sa bắt nguồn
từ bản chất của rừng mưa nhiệt đới và cũng là tiền đề tạo ra một thế hệ rừng
mới hỗn loài, khác tuổi. Một đặc điểm tái sinh khác phổ biến ở rừng mưa
nhiệt đới, thích hợp với loài cây ưa sáng là tái sinh vệt.


8

Ánh sáng là nhân tố sinh thái ảnh hưởng mạnh đến sinh trưởng của cây
tái sinh, là quan điểm được nhiều nhà khoa học thống nhất. Blanford (1929)


quả suy thoái rừng mới dần dần nghiên cứu áp dụng các biện pháp lâm sinh
trong khai thác chọn.
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng làm cơ sở cho hoàn thiện các giải
pháp lâm sinh, phục vụ yêu cầu kinh doanh rừng cũng sớm được đặt ra và vào
đầu thế kỷ 20 mới được chý ý nhiều hơn về phương pháp nghiên cứu. Tuy
nhiên đối với sự phức tạp, đa dạng của rừng nhiệt đới ẩm thì vấn đề nghiên
cứu cấu trúc rừng vẫn đang còn nhiều khó khăn.
Trên thế giới có một số công trình nghiên cứu về phương thức khai thác
chọn như:
Baur G.N (1976)[1]: Cơ sở sinh thái học kinh doanh rừng mưa do
Vương Tấn Nhị dịch nói về kết quả áp dụng phương thức khai thác chọn ở
Bắc Queensland. Tạp chí Tropical forest managementupdate (1991) đánh giá
phương thức khai thác rừng nhiệt đới vùng Châu Á – Thái Bình Dương.
Tóm lại, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc
rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều
công trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh
rừng. Những kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ việc nghiên cứu đặc điểm cấu
trúc và tái sinh rừng thường xanh nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng. Tuy
nhiên, khi ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam lại cần phải có một sự điều chỉnh
phù hợp bởi vì nhiều nguyên do khác nhau. Thứ nhất, những nghiên cứu này
được thực hiện tại những khu vực có điều kiện lập địa hoàn toàn khác so với
điều kiện ở Việt Nam. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh tự
nhiên ở mức độ trạng thái rừng còn thiếu. Cho nên việc vận dụng các kết quả
này để đề xuất các biện pháp lâm sinh vào điều kiện thực tế của rừng tự nhiên
nước ta là vấn đề cần cân nhắc và nghiên cứu sâu thêm. Đây cũng chính là cơ
sở để lựa chọn nghiên cứu cấu trúc rừng trong Luận văn này.


10

11

Việt Nam một cách tổng quát. Ông cho rằng: không thể dùng quần hợp thực
vật làm đơn vị phân loại cơ bản như các tác giả đã sử dụng ở những vùng ôn
đới vì lý do rừng nhiệt đới đa dạng và phong phú về số lượng loài hơn nhiều
lần so với rừng ôn đới. Vì thế ông đã đề xuất dùng kiểu thảm thực vật làm
đơn vị phân loại cơ bản và lấy hình thái, cấu trúc quần thể làm tiêu chuẩn
phân loại. Những nhóm nhân tố sinh thái tham gia tác động trong quá trình
hình thành các kiểu thảm thực vật gọi là những nhóm nhân tố sinh thái phát
sinh. Thái Văn Trừng phân biệt thành 5 nhóm nhân tố: Địa lý - địa hình; Khí
hậu – thuỷ văn; Đá mẹ – thổ nhưỡng; Khu hệ thực vật; Sinh vật và con người.
Đây là cấp phân loại lớn, kiểu thảm thực vật chưa phải là cấp phân loại cơ bản
nhỏ nhất, để từ đó đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho từng đối
tượng.
Khi bàn về vấn đề phân chia rừng theo hệ thống phân loại kinh doanh
Vũ Biệt Linh (1984)[22] đã xác định cần phân chia rừng, đất rừng theo mục
đích, nội dung, phương thức biện pháp kinh doanh nhằm tổ chức và định
hướng tác nghiệp kinh doanh theo các đối tượng khác nhau để đạt được hiệu
quả cần thiết. Việc làm này mang một ý nghĩa thiết thực trong việc định
hướng cho công tác điều tra, kinh doanh rừng.
Ngoài ra còn nhiều cách phân chia trạng thái rừng theo các quan điểm
khác nhau: như việc dựa vào các đặc trưng nhóm như: nhóm sinh thái tự
nhiên, giai đoạn phát triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng
con đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm địa hình, đặc điểm thổ nhưỡng . Tác giả
Vũ Đình Phương (1987-1988)[29],[30] đã phân chia rừng thành những lô
khác nhau phục vụ điều chế rừng. Tác giả Đào Công Khanh (1996)[19] đã
căn cứ vào tổ thành các loài cây mục đích để phân loại rừng phục vụ cho việc
xác định các biện pháp lâm sinh.



13

Từ những nghiên cứu này, ta thấy rằng việc phân tầng rừng ở nước ta
thường là 5 tầng và dựa vào định tính là chủ yếu, thiếu sự định lượng hóa. Vì
vậy cần có những nghiên cứu kỹ hơn để giải quyết vấn đề này.
1.2.2.2. Phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3)
Nghiên cứu sự phân bố số cây theo đường kính ở rừng tự nhiên cho thấy,
phân bố N/D1.3 của tầng cây cao (D6cm) có 2 dạng chính sau: Một là dạng
giảm liên tục và có nhiều đỉnh phụ hình răng cưa. Thứ hai là dạng một đỉnh
hình chữ J. Ngoài ra ở một số khu rừng có cấu trúc gần ổn định và những khu
rừng có tác động để tạo thành mô hình rừng chuẩn thì có dạng phân bố chuẩn
lệch trái và có nhiều đỉnh răng cưa. Tùy từng dạng phân bố cụ thể mà các tác
giả đã chọn ra những mô hình toán học khác nhau để mô phỏng nó. Cụ thể
như sau:
Đồng Sỹ Hiền (1974)[12] đã nghiên cứu nhiều lâm phần trên các địa
phương khác nhau và đi đến kết luận chung là: dạng tổng quát của phân bố
N/D là phân bố giảm nhưng do quá trình khai thác chọn thô không theo quy
tắc, nên đường thực nghiệm thường có dạng hình răng cưa. Với kiểu phân bố
thực nghiệm như vậy, tác giả đã dùng hàm Meyer và họ đường cong Pearson
để mô phỏng quy luật cấu trúc đường kính cây rừng và đã đạt được kết quả
như ý muốn.
Tiếp theo tác giả Nguyễn Văn Trương (1983)[41] trong nghiên cứu của
mình, đã thử nghiệm dùng các hàm mũ, logarit, phân bố Poisson và phân bố
Pearson để biểu thị cấu trúc N/D của rừng tự nhiên hỗn loài.
Dạng hàm phân bố khoảng cách được tác giả Nguyễn Hải Tuất
(1986)[36] sử dụng để mô tả phân bố thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát
cỡ kính bắt đầu đo. Bảo Huy (1993)[13] thử nghiệm mô phỏng phân bố thực
nghiệm N/D cho rừng ưu thế Bằng lăng ở Đắk lắk theo các dạng phân bố:




15

nuôi dưỡng rừng, trên cơ sở khắc phục những tồn tại lớn mà sự ngẫu nhiên
của thiên nhiên mang lại.
Sau đó, Nguyễn Hồng Quân (1983)[31] đã xây dựng mô hình cấu trúc
cho các kiểu rừng trên cơ sở sử dụng hàm mũ theo dạng Meyer để phân cấp
các lâm phần chặt chọn bằng cách thay đổi hệ số góc của phương trình khi
điều kiện hoàn cảnh thay đổi. Lê Minh Trung (1991)[33]đã vận dụng phương
pháp này để xây dựng cấu trúc mẫu trên 3 cấp năng suất cho rừng tự nhiên
hỗn loài ở Đắk Nông, làm cơ sở đề xuất hướng khai thác và nuôi dưỡng rừng.
Tiếp theo, Vũ Biệt Linh (1984)[22] đưa ra kết cấu chuẩn và coi đó là kết
cấu được lấy làm mức cần phải đạt được trong mục tiêu tạo rừng cho mỗi loại
rừng mục đích, ở các giai đoạn phát triển khác nhau của mỗi loại rừng đó và
đặc biệt là ở giai đoạn đưa vào sử dụng. Nguyễn Ngọc Lung (1985)[23] đã
cho rằng, trong thực tiễn sản xuất, sau khi phân chia rừng ra các loại, mỗi loại
thuần nhất về một số mặt nào đó như tổ thành, tầng thứ, phân bố số cây theo
kích cỡ có thể chọn được một loại trong lô tốt nhất, có trữ lượng cao, năng
suất cao, sinh trưởng tốt, tổ thành hợp lý nhất, có đủ thế hệ cây gỗ và cho sản
lượng ổn định, ta coi là mẫu chuẩn tự nhiên. Và đây cũng chính là cái mà con
người cần hướng tới trong quá trình kinh doanh rừng. Xuất phát từ lý thuyết
mẫu chuẩn tự nhiên của Nguyễn Ngọc Lung, Bảo Huy (1993)[13] đã lựa chọn
và xác lập các mô hình N/D mẫu cho từng đơn vị phân loại của rừng Bằng
lăng ở Tây Nguyên. Từ đó, tác giả đã đề xuất điều chỉnh cấu trúc N/D theo
cấu trúc mẫu hoặc đồng dạng trong phạm vi bé hơn đường kính giới hạn khai
thác.
Tác giả, Phùng Ngọc Lan (1986)[21], Vũ Đình Phương (1987)[29] đã
quan niệm: mô hình cấu trúc mẫu là mô hình có khả năng tận dụng tối đa tiềm
năng của điều kiện lập địa, có sự phối hợp hài hoà giữa các nhân tố cấu trúc
để tạo ra một quần thể rừng có sản lượng, tính ổn định và chức năng phòng hộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status