BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
ĐỖ VĂN THẢO
NGHIÊN CỨU BỔ SUNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ VÀ
PHÂN CẤP CHỈ SỐ LẬP ĐỊA CỦA RỪNG TỰ NHIÊN LÁ RỘNG
THƯỜNG XANH Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2012
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
ĐỖ VĂN THẢO
NGHIÊN CỨU BỔ SUNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ VÀ
PHÂN CẤP CHỈ SỐ LẬP ĐỊA CỦA RỪNG TỰ NHIÊN LÁ RỘNG
THƯỜNG XANH Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
đếm trực tiếp. Để góp phần giải quyết vấn đề khó khăn này, chúng tôi thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu bổ sung phương pháp đánh giá và phân cấp chỉ số
lập địa rừng tự nhiên lá rộng thường xanh ở Việt Nam"
-2Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Ngoài nước
Quản lý rừng và dự báo sinh trưởng sản lượng rừng cần có một thước
đo năng suất lập địa. Có rất nhiều phương pháp để ước lượng năng suất của
một lập địa và để so sánh các phương pháp này cần phải định nghĩa và phân
loại các phương pháp khác nhau. Sẽ rất hữu ích khi phân loại các phương
pháp đánh giá lập địa theo phương pháp luận và quan điểm đánh giá khác
nhau. Leary (1985) [44] đã đề xuất các quan điểm và phương pháp đánh giá
lập địa rừng được tổng hợp ở bảng 1.1. sau đây:
Bảng 1.1. Quan điểm và phương pháp đánh giá lập địa rừng
(theo Leary 1985) [44]:
Quan điểm
Đo sinh khối
Phương pháp
Trực tiếp
Trữ lượng gỗ, sinh khối
Độ ẩm đất và trạng thái
Đánh giá đất đai
chất dinh dưỡng
Bức xạ hữu ích cho
một cách cẩn thận trong việc phân thành bao nhiêu cấp để phản ánh được sự
khác nhau trong sinh trưởng của rừng một cách chắc chắn về mặt thống kê.
Phương pháp đánh giá khối lượng thường linh hoạt và không giới hạn sự mở
rộng, nó loại bỏ được sự cần thiết phải giải quyết vấn đề đường giới hạn giữa
các cấp, nhưng lại có ấn tượng không tốt về độ chính xác. Có rất nhiều nghiên
cứu đã được công bố liên quan đến đánh giá lập địa và cấp năng suất của rừng
trồng đều tuổi, tuy nhiên ở đây chúng tôi chỉ tổng quan các nghiên cứu về
đánh giá và phân cấp lập địa của rừng tự nhiên hỗn loài khác tuổi. So với các
nghiên cứu đánh giá lập địa rừng trồng đều tuổi thì các nghiên cứu về đánh
giá lập địa và phân cấp năng suất cho rừng tự nhiên hỗn loài ít hơn rất nhiều.
Tuy nhiên, một số kỹ thuật đánh giá và phân cấp lập địa cho đối tượng rừng
tự nhiên hỗn loài cũng đã được công bố và sẽ được tổng quan sau đây. Mục
đích của tổng quan này là tìm kiếm một phương pháp đánh giá định lượng lập
-4địa sao cho: (i) có thể tái tạo và thích hợp trong một chu kỳ dài về thời gian;
(ii) chỉ thị được chất lượng lập địa mà không chịu ảnh hưởng đến điều kiện
lâm phần hay lịch sử quản lý; (iii) tương quan với năng suất tiềm năng của lập
địa và (iv) ít nhất là tốt hơn các phương pháp đánh giá năng suất lập địa đã có.
Các phương pháp đo sinh khối: Các thước đo sinh khối như là chỉ số
lập địa được sử dụng rộng rãi để đánh giá năng suất lập địa của rừng trồng vì
nó có thể đo đếm và là những dự báo tốt của năng suất lập địa. Chỉ số lập địa
thường yêu cầu một lâm phần đều tuổi và phát triển đồng nhất, tuy nhiên
nhiều tác giả đã cố gắng áp dụng phương pháp này cho rừng hỗn loài bằng
cách chia rừng hỗn loài thành nhiều lâm phần đồng tuổi. Stage (1963) [52] đề
xuất một phương pháp dựa trên chiều cao, tuổi và tỷ lệ sinh trưởng của đường
kính ban đầu nhằm loại bỏ sự ức chế giai đoạn đầu. Việc lựa chọn cẩn thận
các cây mục tiêu có thể vượt qua được một số vấn đề, nhưng nhiều khó khăn
vẫn không khắc phục được và kỹ thuật này rất ít giá trị sử dụng khi không xác
định được tuổi cây. Thuộc nhóm các phương pháp đo sinh khối có các kỹ
phản ánh chiều cao tối đa tiềm năng của một loài lựa chọn đạt được ở lập địa
cần đánh giá. Phương pháp này tương tự chỉ số lập địa được xác định dựa vào
chỉ số tuổi. Chiều cao trung bình của các cây ưu thế và đồng ưu thế còn lại
sau khai thác đã được sử dụng như là một chỉ số năng suất lập địa của rừng họ
dầu ở Philippines (Canonizado 1978 [31], Mendoza và Gumpal 1987 [46]).
Một khó khăn trong sử dụng chiều cao lâm phần là đỉnh của tán cây trong
rừng tự nhiên rất khó nhìn thấy. Trong trường hợp này có thể sử dụng chiều
cao dưới cành để thay thế. Các vấn đề khác bao gồm sự hiện diện của các cây
tầng trội, việc khai thác các cây lớn và ngọn cây bị gãy do gió. Ở những nơi
các cây lớn thích hợp cho đánh giá lập địa không có thì đường cong tương
quan chiều cao - đường kính được sử dụng để ước lượng chiều cao. Điều này
-6có thể thực hiện thông qua một phương trình dạng như:
h-1 = bo + b1d-1
cho nhiều cặp số đo chiều cao (h) và đường kính (d) của các cây cá thể và ước
lượng chiều cao tối đa của lâm phần theo hmax = bo-1 . Tuy nhiên, việc suy diễn
kiểu này có thể dẫn đến những sai số và cần hết sức cẩn thận trong giải thích
các kết quả. Một số phương trình phi tuyến tính có thể được đề xuất để suy
diễn tốt hơn phương trình đơn giản. (iv) Tương quan chiều cao - đường
kính: để tránh phải suy diễn tương quan chiều cao - đường kính, chiều cao tại
một đường kính lựa chọn được dùng làm chỉ số cho thước đo năng suất lập
địa; các tác giả đề nghị gọi chỉ số này là dạng lập địa để tránh nhầm lẫn với
chỉ số lập địa được xác định bằng tương quan chiều cao và tuổi. Reinhardt
(1982) [49] đã nghiên cứu tương quan chiều cao - đường kính - lập địa trong
rừng thông rụng lá (larch) ở USA và phát hiện một xu hướng đa dạng được
biểu diễn bằng phương trình:
h = 1,3 +8,23Sh,s0,59 (1 - e-0,04d)0,092Sh,s
trong đó, h là chiều cao (m), d là đường kính (cm) và Sh,s là chỉ số lập địa (m)
tại tuổi 50. Reinhardt (1982 [49], 1983 [50]) đã dùng số liệu đo đếm từ các
rừng là rất khó và cần phải được chuẩn hoá. Thể tích gỗ sữ dụng được là một
chỉ tiêu không mấy thích hợp vì tiêu chuẩn gỗ sử dụng được thay đổi theo thời
gian và địa phương. Assmann (1961) [27] khuyến nghị sử dụng khái niệm
khối lượng gỗ lớn (derbholz) được định nghĩa là thể tích gỗ không vỏ của
khúc thân và cành có đường kính không vỏ lớn hơn 7 cm. Đề xuất này là
thích hợp đối với cây lá kim vì nó phản ánh tốt tiêu chuẩn sử dụng ở nhiều
vùng khác nhau, tuy nhiên đối với những loài cây có nhiều gỗ cành nhánh
việc đo đếm thể tích gỗ cành nhánh sẽ gặp nhiều khó khăn. Năm 1888, Hội
các Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Đức đã phê chuẩn lấy lượng sản xuất gỗ
của rừng ở tuổi 100 làm tiêu chuẩn cho năng suất lập địa. Một số tác giả khác
(ví dụ Bradley et al., 1966 [29]) lại cho rằng lượng tăng trưởng thể tích ở
điểm đạt tối đa là một cơ sở tốt hơn để so sánh năng suất của các lập địa, tuy
nhiên việc đo đếm chỉ tiêu này chỉ áp dụng cho các lâm phần thuần loài, đều
tuổi. Trong rừng hỗn loài với nhiều loài cây có đặc tính sinh trưởng khác nhau
thì sẽ khó khăn hơn nhiều.
-8Các phương pháp đánh giá đất đai và lập địa
Các phương pháp đánh giá lập địa bằng đo sinh khối dựa trên đo đếm
các nhân tố điều tra rừng cho nên không thích hợp đối với những diện tích đất
lâm nghiệp chưa có rừng. Việc đánh giá tiềm năng đất đai và dự báo cấp năng
suất của lập địa trước khi trồng rừng là hết sức quan trọng và đã được quan
tâm nghiên cứu. Trong quản lý rừng tự nhiên có thể không cần phải đánh giá
lập địa các diện tích đất trống, nhưng các phương pháp đánh giá tiềm năng lập
địa cũng rất hữu ích cho cả những nơi đã có rừng. Sau đây là một số nhân tố
chính được sử dụng để đánh giá tiềm năng lập địa: (i) Chỉ số khí hậu: Chỉ số
khí hậu của sinh trưởng rừng được biết đến nhiều nhất là chỉ số CVP của
Paterson, chỉ số này được thiết kế để dự đoán sinh trưởng tối đa tiềm năng về
thể tích trên một diện tích rộng lớn (Johnston et al., 1967 [43]). Nó dựa trên
lượng bay hơi, biên độ nhiệt, lượng mưa hàng năm, thời gian của mùa sinh
theo thời gian và không gian. (iv) Các nhân tố hữu sinh: nhiều đặc trưng của
lập địa như lượng nước hữu ích và nồng độ dinh dưỡng không phải dễ dàng
để đo đếm, một phương pháp thay thế là đo các biến số chỉ thị như thành phần
thảm thực bì. Không hàm ý quan hệ nhân quả, nhưng đã giả thiết rằng giữa
thảm thực bì và sản xuất gỗ chịu ảnh hưởng của những đặc trưng như nhau
(Cajander 1949) [30]. Daubenmire (1976) [36] đã phác thảo sáu nguyên tắc
cơ bản để thuyết phục rằng thảm thực bì là phương pháp tốt nhất để đánh giá
năng suất lập địa: (1) Thảm thực vật phản ánh tổng của tất cả các yếu tố môi
trường quan trọng với thực vật rừng ; (2) Loài có năng lực cạnh tranh cao nhất
là chỉ thị tốt nhất; (3) Rừng bao gồm nhóm ưu hợp được hình thành trong các
tổ hợp khác nhau trên các cảnh quan; (4) Mỗi ưu hợp này rất nhạy cảm với
những khía cạnh đặc trưng của lập địa; (5) Có nhiều đặc tính của thảm thực
vật có khả năng chỉ thị cho năng suất sinh thái của lập địa; (6) Kiểu sinh cảnh
- 10 là đơn vị sinh thái cơ bản của canh quan.
Trong cách tiếp cận, có thể phân thành hai trường phái: cách tiếp cận
phân cấp (trường phái Châu Âu hay Braun-Blanquet) sử dụng thảm thực vật
cực đỉnh và cách tiếp cận chỉ thị (trường phái Anh Mỹ hay Clements) sử dụng
thực vật chỉ thị.
1.2. Trong nước
Nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến sinh trưởng và
năng suất rừng (vấn đề phân chia cấp đất hay cấp năng suất) là nhiệm vụ hàng
đầu trong điều tra sản lượng rừng, nó là cơ sở để đánh giá chính xác năng
suất, sản lượng rừng. Các nghiên cứu phân cấp đất chủ yếu được tiến hành
cho đối tượng rừng trồng thuần loài, đều tuổi. Nguyễn Ngọc Lung (1987 [13],
1985 [14]) đã khảo sát hàng loạt các hàm sinh trưởng của các tác giả như:
Gompertz (1825), Verhult - Rovertson (1845), Koller (1878), Terazaki
(1907), Schumacher (1935), Drakin - Vuebski (1940), Korf (1973), Nagglund
(1973),… và đã chọn hàm Schumacher để biểu diễn sinh trưởng chiều cao
2 phương pháp. Hồ Viết Sắc (1984) [23] đã sử dụng tương quan H-D để phân
rừng khộp ở Tây Nguyên, ông đã lựa chọn đường kính cơ sở là 36 cm để phân
thành thành 4 cấp năng suất như sau:
- Cấp I: sinh trưởng tốt:
D=36 cm => H≥20 m;
- Cấp II: sinh trưởng khá:
D=36 cm => H=17-20 m;
- Cấp III: sinh trưởng trung bình: D=36cm => H=14-17 m; và
- Cấp IV: sinh trưởng kém:
D=36 cm => H≤14 m.
Trần Văn Con (1991) [1] đã dựa trên tương quan H-A có dạng
- 12 -
h = 40,3463 (Si /40,3463)(tg/t)
0,4125
để phân rừng khộp thành 4 cấp năng suất với chỉ số lập địa Si = 9, 12, 15 và
18. Si là chiều cao của cây đạt được ở tuổi gốc là 50 tuổi. Tuy nhiên do việc
xác định tuổi của rừng khộp rất khó khăn, nên tác giả cũng đã nghiên cứu
chuyển đổi quan hệ H-A thành quan hệ H-D để dễ sử dụng trong thực tiễn, và
đã nhận thấy rằng phân cấp năng suất dựa trên quan hệ H-A và H-D có sự
)
D
Gần đây nhất Ngô Út (2010) [24] đã sử dụng tương quan H-D theo
phương pháp của Vanclay và Henry (1988) [56] để phân cấp dạng lập địa cho
rừng phục hồi sau khai thác kiệt ở vùng Đông nam bộ. Ngô Út và Trần Văn
Con (2010) [25] đã công bố kết quả áp dụng tương quan H-D để xác định chỉ
số dạng lập địa cho rừng phục hồi sau khai thác kiệt ở vùng Đông nam bộ.
Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Vũ Tấn Phương (2005) [22] đã nghiên
cứu và hoàn thiện hệ thống đánh giá đất lâm nghiệp cũng như xây dựng được
cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng ở Việt Nam theo các tiêu chí: Đánh
giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp; phân hạng đất lâm nghiệp; đánh giá và
phân chia lập địa trong lâm nghiệp. Đánh giá và phân chia lập địa dựa theo
các thành phần chính là: khí hậu, địa hình, và thổ nhưỡng. Hệ thống phân chia
lập địa cho toàn quốc bao gồm 7 cấp: miền lập địa, á miền lập địa, vùng lập
địa, tiểu vùng lập địa, dạng đất và dạng lập địa [20, 21].
1.3. Thảo luận và xác định vấn đề nghiên cứu
Sự biến động trong năng suất lập địa có thể được mô tả bằng khái niệm
chất lượng lập địa, được hiểu như là khả năng mà một khu đất tạo nên thảm
thực vật với những đặc trưng cụ thể và được xác định thông qua những điều
kiện môi trường cụ thể (Carmean, 1975 [32]; Haegglund, 1981 [39]). Phần
- 14 lớn các nghiên cứu đánh giá lập địa thường được tiến hành cho rừng đều tuổi
(kể cả rừng trồng và rừng tái sinh tự nhiên). Một số phương pháp đánh giá
chất lượng lập địa đã được phát triển và áp dụng bao gồm các phương pháp
dựa trên cơ sở điều tra đo đạc rừng (Clutter et al., 1983 [33] ; Vanclay, 1994
[55]) cũng như dựa vào các loài chỉ thị và tổ thành thảm rừng (Daubenmire,
1976 [36] ; Shafer, 1989 [51]). Tuy nhiên, các phương pháp này đều sử dụng
cho rừng đồng tuổi là chủ yếu. Các nghiên cứu đánh giá chất lượng lập địa
tiềm năng của lập địa và (iv) ít nhất là tốt hơn các phương pháp đánh giá năng
suất lập địa đã có.
- 16 Chương 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
- Góp phần nghiên cứu các cơ sở khoa học để phát triển phương pháp
đánh giá và phân cấp chất lượng lập địa rừng tự nhiên hỗn loài khác tuổi ở
Việt Nam.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Lựa chọn được một số chỉ số thích hợp để đánh giá và phân cấp năng
suất lập địa của rừng tự nhiên hỗn loài khác tuổi.
- Phát triển phương pháp phân cấp lập địa cho rừng tự nhiên dựa trên
chỉ số thích hợp đã lựa chọn và đề xuất chỉ số đánh giá chất lượng lập địa cho
các đối tượng rừng nghiên cứu.
2.2. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là rừng tự nhiên lá rộng thường
xanh ở các vùng sinh thái khác nhau. Tài liệu và vật liệu nghiên cứu là cơ sở
dữ liệu được thu thập từ hệ thống ô tiêu chuẩn định vị để nghiên cứu lâm học
của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thiết lập trong khuôn khổ của đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm lâm học một số hệ sinh thái rừng chủ yếu ở Việt
Nam” do PGS.TS. Trần Văn Con chủ trì.
- Phạm vi nghiên cứu: Toàn quốc.
- Nội dung nghiên cứu: chỉ giới hạn trong vấn đề đánh giá chất lượng
lập địa của rừng thông qua tương quan H-D của rừng tự nhiên lá rộng thường
xanh.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Đề tài sẽ thiến hành các nội dung nghiên cứu sau:
- 18 Bảng 2.1. Hệ thống ÔTC định vị thu thập số liệu cho luận văn
TT
Ký hiệu
ÔTCĐV
Vị trí toạ độ
Ngày thiết
lập
1. BQL rừng phòng hộ Đam Rông, Xã Liêng Srông, Huyện Đam Rông, Tỉnh
Lâm Đồng
1
2
3
ĐR-1
ĐR-2
ĐR-3
N: 12o 05’ 39,8”; E: 108o 08’ 06,6”
ĐC: 864 m; ĐD: 15o
N: 12o 05’ 39,8”; E: 108o 08’ 06,6”
ĐC: 864 m; ĐD: 15o
N: 12o 04’ 32,2”; E: 108o 07’ 34,8”
ĐC: 864 m; ĐD: 15o
8
9
10
11
KHN-1
KHN-2
KHN-3
KHN-4
KHN-5
N: 14o 10’ 28’’; E: 108o 38’ 58,7’’
8/4/2004
ĐC: 698m; ĐD: 8 độ
N: 14o 09’ 41,3’’; E: 108o 39’ 19,8’’
10/4/2004
ĐC: 708m; ĐD: 7
N: 14o 10’ 28’’; E: 108o 38’ 58,7’’
KHN-8
KHN-9
KHN-10
N: 14o 10’ 09,1’’; E: 108o 39’ 46’’
16/4/2004
ĐC: 697m; ĐD:
N: 14o 11’ 14,7’’; E: 108o 39’ 25,3’’
17/4/2004
ĐC: 714m; ĐD:
N: 14o 11’ 48,4’’; E: 108o 10’ 19,8’’
18/4/2004
ĐC: 698m; ĐD:
N: 14o 11’ 48,6’’; E: 108o 40’ 19,8’’
20/4/2004
ĐC: 697m; ĐD:
N: 14o 11’ 53,7’’; E: 108o 40’ 31,7’’
22/4/2004
VQ-1
21
VQ-2
22
VQ-3
23
VQ-4
24
VQ-5
Vũ Quang, Hà Tĩnh
25
VQ-6
Vũ Quang, Hà Tĩnh
22/8/2007
24/8/2007
48539382E; 2020911N; ĐC: 90m
- 20 28
PC-3
7/8/2007
29
PC-4
8/8/2007
30
PC-5
9/8/2007
31
PC-6
10/8/2007
6. VQG Xuân Sơn, Phú Thọ
32
XS-1
6/9/2007
8/9/2007
37
BB-3
38
BB-4
39
BB-5
48564154E; 2476893N; ĐC: 239m
14/9/2007
40
BB-6
48564933E; 2477908N; ĐC: 262m
10/9/2007
ĐC: 315m; ĐD: 20%
48563836E; 2476537N
lựa chọn phương trình để mô phỏng tương quan H-D có dạng:
H = a +b*Ln(D1,3)
(2.1)
Các tham số của phương trình được xác định bằng phương pháp bình
phương nhỏ nhất. Cụ thể là dung trình lệnh Regression trong phần mềm Excel
để xác định các tham số a và b của phương trình (2.1). Sau khi xác định được
các tham số a và b của tương quan H-D tất cả 40 ô tiêu chuẩn điều tra, tiến
hành vẽ đồ thị H-D lên một trục toạ độ và dùng phương pháp phân nhóm để
phân ra thành các cấp lập địa.
- 22 2.4.3.2. Phương pháp phân cấp chỉ số lập địa
Chỉ số lập địa Si được định nghĩa là chiều cao lâm phần đạt được tại
một đường kính cơ sở Dcs. Trong các nghiên cứu của Vanclay và Henry
(1988) [56] hay của Herrera-Fernandez (2004) [42] đều lựa chọn đường kính
cơ sở là 25 cm với lý do đường kính này thường xuất hiện nhiều trong các
lâm phần nghiên cứu, và tại cỡ kính này cây vẫn còn tiếp tục sinh trưởng
mạnh. Đối với rừng phục hồi sau khai thác kiệt ở Đông Nam bộ, Ngô Út và
Trần Văn Con (2010 [24] đã chọn đường kính cơ sở là 20 cm. Luận văn sẽ lựa
chọn đường kính cơ sở thích hợp cho số liệu nghiên cứu của các ô tiêu chuẩn
rừng tự nhiên lá rộng thường xanh.
Để mô phỏng chỉ số lập địa bằng tương quan H-D, hàm tương quan
phải tuân theo hai điều kiện:
(i) h=1,3 m khi D1,3 =0cm; và
(ii) Đồ thị H-D phải đi qua điểm đường kính cơ sở (Dcs) khi mà h=Si
(m).
Do đó, các tham số của hàm sử dụng phải được xác định sao cho thỏa
mãn được hai điều kiện này.
d / dcs
(2.3)
Trong đó: Sh,d là chỉ số biểu thị cấp năng suất của lập địa có ý nghĩa là
chiều cao mong đợi đạt được ở cây có đường kính bằng đường kính cơ sở
(dcs) tính bằng cm ở các lập địa khác nhau. Vanclay và Henry (1988) [56] đã
xác định tương quan:
a = -10,87 +2,46Si
Phương pháp này đã được Ngô Út và Trần Văn Con (2010) [24] sử
dụng để xác định chỉ số lập địa cho rừng phục hồi ở Đông Nam Bộ.
(2) Sử dụng mô hình có dạng:
h = a + bd
(2.4)
Trong đó a=1,3 để thỏa mãn điều kiện (i) và b=(Si-1,3)/dcs để thỏa mãn
điều kiện (ii). Mô hình này đã được Herrera-Fernandez et al. (2004) [42] lựa
chọn để nghiên cứu năng suất lập địa của rừng thứ sinh ở Costa Rica. Phương
trình (2.4) có thể viết lại là:
h = 1,3 + (Si-1,3)d/dcs
(2.5)
Vấn đề bây giờ là phải lựa chọn đường kính cơ sở thích hợp và ước
lượng các tham số của mô hình.