i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và hoàn thành luận văn vừa qua, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tôi xin bày tỏ lời cảm
ơn đến tất cả các tập thể và các cá nhân đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu vừa qua.
Tôi xin bày lỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy TS.Lê Minh Chính, Trường Đại
học Lâm Nghiệp đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, Ban
Giám đốc cơ sở 2 và quý Thầy (Cô) khoa Sau đại học, những người đã trang bị cho
tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Sở Kế hoạch và Đầu tư, ban Quản lý
các khu công nghiệp tỉnh Bến Tre đã cung cấp tư liệu, các nhà đầu tư, các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực
hiện đề tài.
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc nghiên cứu đã được cảm ơn và các thông tin chỉ dẫn
trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Bến Tre, ngày
tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Trường Chinh
ii
iii
1.1.4. Tiêu chí đánh giá hiệu quả các hoạt động thu hút đầu tư ...........................15
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút các nguồn đầu tư ..................................15
1.2. Cơ sở thực tiễn của thu hút đầu tư phát triển ...............................................20
1.2.1. Kinh nghiệm thu hút đầu tư phát triển ở một số quốc gia trên thế giới .......20
1.2.2. Kinh nghiệm thu hút đầu tư vào các KCN ở một số địa phương ..................22
1.2.3. Bài học kinh nghiệm ......................................................................................26
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đặc điểm cơ bản của tỉnh Bến Tre ................................................................30
2.1.1. Giới thiệu chung về tỉnh Bến Tre ..................................................................30
2.1.2. Điều kiện tự nhiên .........................................................................................31
2.1.3. Các đặc điểm kinh tế xã hội ..........................................................................33
2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................39
2.2.1. Giới thiệu.......................................................................................................39
2.2.2. Cách tiếp cận.................................................................................................39
2.2.3. Các phương pháp sử dụng ............................................................................39
2.2.3.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát .........................................39
2.2.3.2. Phương pháp nghiên cứu tài liệu ..............................................................39
2.2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu ...................................................................40
2.2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu.........................................................................41
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng thu hút đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn
2006 - 2011 ...............................................................................................................42
3.1.1. Về cơ chế, chính sách thu hút đầu tư ............................................................42
3.1.2. Về công tác quy hoạch ...........................................................................................43
3.1.3. Đầu tư hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp .............................................................43
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nghĩa
CCHC
: Cải cách hành chính
CCN
: Cụm công nghiệp
CN-XD
: Công nghiệp và xây dựng
DN
: Doanh nghiệp
DNNN
: Doanh nghiệp Nhà nước
: Kinh tế xã hội
ODA
: Viện trợ phát triển chính thức
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
TTHC
: Thủ tục hành chính
NLTS
: Nông lâm thủy sản
UBND
: Ủy ban nhân dân
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
52
3.6
Một số kết quả đạt được của các KCN
55
3.7
Bảng số liệu chỉ số PCI qua các năm của Bến Tre
59
3.8
Kết quả 9 chỉ số thành phần PCI của Bến Tre năm 2011-2012
60
3.9
Kết quả 9 chỉ số thành phần PCI của Bến Tre năm 2012-2013
62
3.10 Tổng hợp nhu cầu vốn của tỉnh thời kỳ 2011- 2015
68
Bảng đồ quy hoạch chi tiết KCN Giao Long
46
3.2
Bảng đồ quy hoạch chi tiết KCN An Hiệp
47
3.3
Bảng đồ quy hoạch chi tiết KCN Giao Long giai đoạn 2
48
3.4
Thu hút vốn đầu tư phân bổ theo khu vực trong tỉnh
53
3.5
Bảng phân bổ vốn theo địa bàn trong tỉnh
54
3.6
nhiều quy định về chính sách khuyến khích đầu tư cho các nhà đầu tư hoạt động đầu
tư trên địa bàn Bến Tre với mức độ ngày càng ưu đãi hơn.
Khu công nghiệp Giao Long đang thực hiện giai đoạn 1 với diện tích 98 ha,
trong đó đất công nghiệp có khả năng cho thuê là 65 ha và giai đoạn 2 sẽ là 68 ha;
còn cụm công nghiệp An Hiệp, rộng 76 ha, trong đó đất công nghiệp có khả năng
cho thuê là 48,37 ha. Ông Huỳnh Văn Nuôi, Trưởng ban Ban Quản lý các khu công
2
nghiệp Bến Tre, cho biết tình hình xúc tiến đầu tư trong năm 2007 gặp nhiều thuận
lợi, rất nhiều nhà đầu tư đã đến Bến Tre tìm hiểu để xin đầu tư vào KCN Giao Long
và Cụm công nghiệp (CCN) An Hiệp. Các lĩnh vực xin đầu tư là dệt may, chế biến
thức ăn thủy sản, sản xuất giấy, chế biến thủy sản, phân bón, bao bì, thực phẩm từ
nông sản,… Ban Quản lý các khu công nghiệp Bến Tre đã tiếp xúc trên 60 lượt
doanh nghiệp đến khảo sát xin đầu tư. Hiện tại tỷ lệ lấp đầy diện tích các KCN Giao
Long là 34,37 ha, đạt 52,90%, có tổng số lao động là 1.160 người (nguồn Trưởng
ban Ban Quản lý các khu công nghiệp Bến Tre).
Do vậy, việc làm sao để thu hút các DN đầu tư vào các KCN nói riêng và
Bến Tre nói chung luôn là mối quan tâm hàng đầu của lãnh đạo UBND tỉnh Bến Tre
để thực hiện quá trình công nghiệp hoá và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh. Xuất phát từ thực trạng vấn đề nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Giải pháp góp
phần tăng cường thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến
Tre” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế nông nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc kêu gọi
đầu tư vào khu công nghiệp để phân tích đánh giá và tìm các giải pháp tốt nhất để
vận dụng, tổ chức thực hiện. Phát triển các KCN phải tạo cơ sở đồng bộ, tận dụng
hết các lơi thế của địa phương theo từng lĩnh vực để việc thu hút đầu tư vào các
KCN mang lại hiệu quả cao trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
pháp nghiên cứu.
- Thực tra ̣ng vấ n đề thu hút đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre,
nguyên nhân và các giải pháp đề xuất.
- Kết luận và khuyến nghị.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về đầu tư và thu hút đầu tư phát triển
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm về đầu tư
Theo quan điểm của chủ đầu tư thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để
từ đó thu được số vốn lớn hơn số vốn đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận. Theo quan
điểm xã hội (quốc gia) đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các
hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia. Các nhà kinh tế học dùng
thuật ngữ đầu tư để chỉ việc mua hàng hóa vốn mới, chẳng hạn như máy móc, nhà
xưởng, nhà ở. Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: khái niệm đầu tư là sự
bỏ vốn vào một DN, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như
cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh, hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị,
xây dựng mới, hoặc thực hiện việc hiện đại hoá, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh
lợi hay phát triển phúc lợi công cộng. Có đầu tư sản xuất - xây dựng xí nghiệp,
trang bị tư liệu sản xuất để sản xuất ra của cải và đem lại doanh lợi- và đầu tư dịch
vụ - xây dựng những cơ sở phục vụ lợi ích công cộng như bệnh viện, trường học,
thương mại, du lịch. Trong nghiên cứu này, thuật ngữ đầu tư để chỉ việc mua hàng
hóa vốn mới như mặt bằng xây dựng, nhà xưởng và phục vụ hoạt động SXKD,
mua, lắp đặt máy móc thiết bị, vốn lưu động.
1.1.1.2. Khái niệm về KCN
bằng tiền, nhưng không phải tất cả mọi nguồn tiền đều là vốn; vốn còn là một hàng
hoá đặc biệt; vốn còn thể hiện dưới dạng tiềm năng và lợi thế vô hình.
Như vậy, sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để thực hiện
đầu tư gọi là vốn đầu tư. Để có thể tạo được những tài sản vật chất cụ thể, nhất thiết
phải sử dụng vốn đầu tư thông qua hoạt động đầu tư.
1.1.1.4. Khái niệm về dự án đầu tư
Theo nghị định 52/CP (1999) Chính phủ thì: Dự án đầu tư là một tập hợp
những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những
cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải
tiến, nâng cao chất lương hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định.
6
Từ khái niệm đó, chúng ta có thể rút ra những đặc trưng sau cho phép ta
nhận định như sau:
+ Mục tiêu của dự án cụ thể là những mục tiêu trước mắt và lâu dài.
+ Thời gian thực hiện dự án cụ thể, mỗi dự án bao giờ cũng có thời gian bắt
đầu và kết thúc xác định (chu kỳ sống xác định).
+ Đặc thù của dự án đó là tính độc nhất vô nhị của dự án.
+ Kết quả của dự án đó là những kết quả cần đạt được để thực hiện được
những mục tiêu đã đề ra của dự án.
Từ khái niệm và đặc trưng như trên ta có thể rút ra được một số đặc điểm
của dự án như sau: Một là, dự án không chỉ là một ý định hay phát thảo mà dự án có
tính cụ thể và mục tiêu xác định nhằm đáp ứng một nhu cầu riêng biệt. Hai là, do có
tính liên quan đến giá trị tương lai, bất ký dự án nào cũng tồn tại rủi ro và bất định.
Ba là, bất kỳ một dự án nào cũng có điểm bắt đầu và kết thúc với những hạn chế về
nguồn lực (theo giáo trình Trần Hữu Dào – 2010, môn quản lý dự án).
1.1.2. Tổng quan về cơ sở lý thuyết
Đầu tư là một hoạt động phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và hiện tại có rất
môi trường pháp lý của từng địa phương mới là yếu tố quan trọng dẫn đến sự khác
biệt về khả năng cạnh tranh của các địa phương khác nhau trong quá trình thu hút
vốn đầu tư. Khi lựa chọn địa điểm đầu tư, các nhà đầu tư quan tâm tới rất nhiều các
yếu tố khác nhau; tuy nhiên, có thể phân làm 2 loại: Cơ sở hạ tầng (cứng) là những
yếu tố có thể đo lường theo các giá trị và ít nhiều mang tính khách quan. Ví dụ, đối
với một địa phương tỉnh thành ở Việt Nam là khoảng cách đến các trung tâm kinh tế
lớn, cảng biển; kết cấu hạ tầng; trình độ dân trí, tay nghề người lao động. Cơ sở hạ
tầng (mềm) là những yếu tố đại diện cho những đặc tính chủ động của một địa
phương trong quá trình tạo ra một môi trường chính sách thông thoáng. Khác với cơ
sở hạ tầng (cứng), cơ sở hạ tầng (mềm) đòi hỏi rất lớn từ triết lý lãnh đạo của các
nhà quản lý địa phương, nó sẽ chi phối quá trình hoạch định các chính sách đầu tư
theo hướng trì trệ hay thúc đẩy.
8
Theo Lương Hữu Đức (2007) cho thấy các nhân tố có thể tác động tới hành
vi đầu tư: (1) sự thay đổi trong nhu cầu; (2) lãi suất; (3) mức độ phát triển của hệ
thống tài chính; (4) đầu tư công; (5) khả năng về nguồn nhân lực; (6) các dự án đầu
tư khác trong cùng ngành hay trong các ngành có mối liên kết; (7) tình hình phát
triển công nghệ, khả năng tiếp thu và vận dụng công nghệ; (8) mức độ ổn định về
môi trường đầu tư: bao gồm môi trường kinh tế vĩ mô, pháp luật; (9) các quy định
về thủ tục; (10) mức độ đầy đủ về thông tin, kể cả thông tin về thị trường, luật lệ,
thủ tục, về các tiến bộ công nghệ. Các yếu tố trên cho thấy rằng, một dự đoán về
tăng nhu cầu trong tương lai sẽ làm tăng đầu tư. Lãi suất có chiều hướng tác động
tuỳ thuộc vào đặc điểm thị trường tài chính và cấu trúc tài chính đặc trưng của các
DN trong từng ngành nhưng nhìn chung lãi suất thấp sẽ làm tăng đầu tư. Chiều
hướng tác động của đầu tư còn tùy thuộc vào cấu trúc của đầu tư. Nhìn chung, đầu
tư cho phát triển hạ tầng cơ bản (giao thông, điện, nước, giáo dục) sẽ có tác động
thu hút đầu tư… Mức độ ổn định về môi trường đầu tư làm giảm thiểu rủi ro trong
doanh thỏa mãn với một địa phương nào đó khi họ hoạt động có hiệu quả tại địa
phương đó. Hiệu quả có thể được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau tùy theo mục
tiêu của công ty. Tuy nhiên, một cách tổng quát, công ty hoạt động có hiệu quả khi
nó đạt được tăng trưởng về doanh thu và lợi nhuận theo ý muốn. Một nhà đầu tư đạt
được mục tiêu của họ, họ sẽ có xu hướng tiếp tục quá trình đầu tư của mình cũng
như giới thiệu cho các công ty khác đầu tư tại địa phương.
Có rất nhiều yếu tố về môi trường đầu tư có khả năng tác động vào sự thỏa
mãn của khách hàng đầu tư tại một địa phương. Cơ sở lý luận về tiếp thị địa phương
và những nghiên cứu trước đây cho thấy những yếu tố tác động vào sự thỏa mãn
của nhà đầu tư có thể chia thành ba nhóm chính, đó là: (1) cơ sở hạ tầng đầu tư; (2)
chế độ, chính sách đầu tư và (3) môi trường làm việc và sinh sống, trích từ Nguyễn
Đình Thọ (2005). Nghĩa là, một địa phương cần phải duy trì và phát triển một cơ sở
hạ tầng cơ bản tương thích với môi trường thiên nhiên (điện, nước, thoát nước,
thông tin liên lạc, giao thông vận tải). Cung cấp những dịch vụ cơ bản có chất lượng
đủ đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh và cho cộng đồng (sự hỗ trợ của các cơ quan
chính quyền địa phương, các dịch vụ hành chính, pháp lý, ngân hàng, thuế, các
thông tin cần thiết cho quá trình đầu tư và kinh doanh). Tạo ra môi trường sinh sống
10
và làm việc có chất lượng cao (môi trường tự nhiên, hệ thống trường học, đào tạo
nghề, y tế, giải trí, chi phí sinh hoạt).
Theo cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam (VCCI) năm 2005-2009 1, nghiên cứu năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh thông qua nghiên cứu các yếu tố môi trường đầu tư mềm nhằm đánh giá
năng lực điều hành kinh tế của địa phương. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của
Việt Nam (PCI) năm 2009 gồm 9 yếu tố: (1) chi phí gia nhập thị trường; (2) tiếp cận
đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; (3) tính minh bạch và tiếp cận thông tin; (4)
chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước; (5) chi phí không chính
1.1.3.1. Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh tế
- Tác động đến cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu
của toàn bộ nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm
từ 24 đến 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới.
Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn. Gia tăng
đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD) tăng (nếu các yếu tố khác không đổi).
AD = C + I + G + X – M = C + I + G + NX
Trong đó:
C: Tiêu dùng;
I: Đầu tư;
G: Tiêu dùng của chính phủ;
X: Xuất khẩu;
M: Nhập khẩu và NX = X – M.
Mối quan hệ giữa đầu tư với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là mối
quan hệ biện chứng, nhân quả, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Đây
là cơ sở lý luận để giải thích chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng ở nhiều nước
trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng chậm.
- Tác động đến cung: Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là
cung trong nước và cung từ nước ngoài. Bộ phận chủ yếu cung trong nước là một
hàm của các yếu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ..., thể hiện qua
phương trình như sau:
Trong đó:
Q = P (K, L, T, R)
K: Vốn đầu tư;
L: Lao động;
T: Công nghệ;
ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả cao hay thấp đều ảnh hưởng đến tốc
độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề
vật chất để phát triển các ngành mới... do đó, làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành.
13
Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về
phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình
trạng đói nghèo; phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa kinh tế, địa
chính trị... của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy
những vùng khác cùng phát triển (theo giáo trình TS.Lê Minh Chính – 2012, môn
kinh tế đầu tư).
1.1.3.3. Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng
trưởng. Việc tăng qui mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân tố
rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổng hợp
(TFP), tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế... . Do đó, nâng cao chất
lượng tăng trưởng kinh tế.
Đầu tư có ảnh hưởng quan trọng không chỉ đến tốc độ tăng trưởng cao hay
thấp mà còn đến chất lượng tăng trưởng kinh tế. Trên góc độ phân tích đa nhân tố,
vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế thường được phân tích cụ thể theo
biểu thức sau:
g = Di + Dl + TFP
Trong đó: g: Tốc độ tăng trưởng GDP
Di: Phần đóng góp của vốn đầu tư vào tăng trưởng GDP
Dl: Phần đóng góp của lao động vào tăng trưởng GDP
TFP: Phần đóng góp của tổng các yếu tố năng suất vào tăng trưởng
sang giai đoạn thứ 3 cũng là quá trình chuyển từ đầu tư ít sang đầu tư lớn, thay đổi
cơ cấu của đầu tư. Như vậy, không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành
công của quá trình chuyển đổi và sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Trình độ khoa học, công nghệ mà doanh nghiệp hay của một quốc gia có
được có thể là do nhập khẩu từ bên ngoài hoặc tự nghiên cứu và ứng dụng. Dù được
nhập khẩu hay do tự nghiên cứu để có công nghệ mới, hiện đại thì cũng đều đòi hỏi
phải có lượng vốn đầu tư rất lớn. Mỗi doanh nghiệp, mỗi nước khác nhau cần phải
có bước đi phù hợp để lựa chọn công nghệ thích hợp. Trên cơ sở đó, đầu tư có hiệu
quả để phát huy lợi thế so sánh của từng đơn vị cũng như toàn nền kinh tế quốc dân
(theo giáo trình TS.Lê Minh Chính – 2012, môn kinh tế đầu tư).
15
1.1.3.5. Đầu tư ảnh hưởng đến phát triển cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ
Đầu tư quyết định sự ra đời tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Để tạo dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào đều cần phải xây dựng
nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến
hành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự
hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất - kỹ thuật vừa tạo ra. Các hoạt
động này chính là hoạt động đầu tư đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
đang tồn tại. Sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở
này hao mòn, hư hỏng. Để duy trì được sự hoạt động bình thường cần định kỳ tiến
hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất kỹ thuật hoặc đổi mới để thích
ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học kỹ thuật và nhu cầu tiêu
dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các thiết bị mới thay thế cho các trang
thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải qua đầu tư.
1.1.4. Tiêu chí đánh giá hiệu quả các hoạt động thu hút đầu tư
- Số lượng sử dụng lao động;
- Quy mô trung bình của vốn so với các dự án đầu tư;
lượng cao, thứ nhất họ sẽ tham gia vào sản xuất tốt hơn vì những kiến thức của họ
đã có bao gồm cả những kiến thức cơ bản và kinh nghiệm qua thời gian.
Mặt khác, họ sẽ tiếp thu nhanh hơn khoa học kỹ thuật, giảm bớt chi phí đào
tạo cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, vấn đề cơ cấu lao động cũng có ảnh hưởng không
nhỏ đến các nguồn vốn đầu tư, cơ cấu ở đây bao gồm cơ cấu về lao động đã và chưa
qua đào tạo, cơ cấu về các bậc, chuyên ngành giữa các lao động đã qua đào tạo.
Nhìn chung, hiện nay người sử dụng lao động có nhu cầu cao về công nhân kỹ thuật
lành nghề hơn là các cán bộ quản lý. Vì vậy, việc điều chỉnh cơ cấu cũng là vấn đề
không nhỏ đối với các quốc gia.
- Tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên thiên nhiên bao gồm tài nguyên khoáng
sản của một quốc gia, số và trữ lượng của từng loại tài nguyên khoáng sản, khả
năng khai thác là hữu hạn. Mặt khác, việc khai thác tài nguyên khoáng sản đã gây ra
nhiều hậu quả nghiêm trọng cho môi trường. Do đó, Chính phủ các nước đã phải
đưa ra các chính sách quản lý chặt chẽ tài nguyên thiên nhiên, khuyến khích việc
thăm dò, tìm kiếm tài nguyên một cách hiệu quả và tiết kiệm… Xuất phát từ hữu
17
hạn của tài nguyên đã khiến các nhà đầu tư thường tìm kiếm nơi có nhiều tài
nguyên thiên nhiên và có chính sách thông thoáng để đầu tư.
1.1.5.2. Sự phát triển của nền kinh tế
Để đánh giá một nền kinh tế được coi là có phát triển hay không người ta
dựa vào một số chỉ tiêu chính như: GDP hàng năm, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kinh
tế, các chỉ tiêu về phúc lợi công cộng và chăm sóc con người. Để có thể tạo ra sự
phát triển, trước hết, phải có mức tăng trưởng hàng năm thông qua giá trị tổng sản
phẩm. Sự tăng trưởng này ảnh hưởng đến việc thu hút các nguồn vốn đầu tư ở hai
góc độ:
Một là, khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh sẽ có mức tiết kiệm cao hơn và từ
đó tăng cường vốn đầu tư. Ta không xét đến việc thu hút thêm các nguồn vốn từ bên
mục đích mà thể chế chính trị nhằm tới, nó giữ vai trò định hướng, chi phối toàn bộ
các hoạt động trong xã hội, trong đó hoạt động của các nhà đầu tư thông qua vai trò
của nhà nước. Với vai trò tạo lập, thúc đẩy, điều chỉnh và duy trì tốc độ phát triển
kinh tế, nhà nước tạo một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, quy định những
khuôn khổ pháp lý, duy trì trật tư kỷ cương trong xã hội và các hoạt động kinh tế.
Các nhân tố về chính sách có ý nghĩa rất lớn và ảnh hưởng lớn đến môi
trường thu hút đầu tư. Chính sách tốt sẽ làm cho các nhà đầu tư yên tâm, tạo điều
kiện hỗ trợ nhà đầu tư mới thành lập, hoặc hỗ trợ động viên tinh thần hoặc cung cấp
hạ tầng kỹ thuật như điện nước, hoặc chính sách về thuế, đào tạo lao động.v.v...
1.1.5.4. Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô ở đây được nhìn nhận thông qua: sự ổn
định về kinh tế xã hội, ổn định về chính trị, môi trường kinh doanh và ổn định trong
các chính sách tiền tệ. Một quốc gia muốn thu hút vốn đầu tư cho phát triển KT-XH
trước hết, đó phải là nơi không xảy ra các cuộc chiến tranh, các cuộc nội chiến và
khủng bố. Đó phải là một quốc gia có các chính sách kinh tế ổn định, không có sự
thay đổi liên tục về chính sách pháp luật vì khi đó sẽ ảnh hưởng rất lớn và theo xu
hướng tiêu cực đối với các nhà đầu tư. Các chính sách tiền tệ phải làm sao hạn chế
được lạm phát và chống giảm phát, ổn định tỉ giá và lãi suất. Kinh tế không thể phát
triển mà không có lạm phát, song vấn đề là ở chỗ làm sao để kiểm soát được lạm
phát ấy, giữ nó ở một tỉ lệ có lợi cho phát triển, tránh mất giá đồng tiền quá lớn. Các
nhà đầu tư không thể yên tâm và ổn định sản xuất tại một nước mà giá trị đồng tiền
của nước đó liên tục thay đổi, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất nhập khẩu của
doanh nghiệp. Hơn nữa, giá trị của đồng nội tệ còn ảnh hưởng đến lợi nhuận thực tế
mà các nhà đầu tư thu được tại một thị trường xác định. Lãi suất sẽ có ảnh hưởng