BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
PHẠM THÀNH TRUNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
TẠI KHU DU LỊCH SINH THÁI TRÀNG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
PHẠM THÀNH TRUNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
TẠI KHU DU LỊCH SINH THÁI TRÀNG AN
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã Số: 60620115
được sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo, các cơ quan đơn vị, gia
đình và bạn bè về cả tinh thần và vật chất để tôi hoàn thành bản luận văn này.
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
Cô giáo PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền, Phó trưởng khoa Kinh tế và Phát
triển nông thôn, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã tận tình hướng dẫn,
đóng góp những ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong
quá trình nghiên cứu để hoàn chỉnh bản luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Các Thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh,
Khoa Sau đại học Trường Đại học Lâm Nghiệp, cùng toàn thể các thầy giáo,
cô giáo đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm,
đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành bản luận văn này.
- Lãnh đạo, cùng toàn thể cán bộ, công chức: Sở Văn hóa, thể thao và
du lịch Ninh Bình; Ban quản lý Quần thể danh thắng Tràng An đã tạo mọi
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo UBND và nhân dân các xã vùng dự
án, trạm du lịch Tràng An đã cộng tác và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu tại địa phương.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia
đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên và tạo điều kiện để tôi an tâm
học tập và nghiên cứu./.
Hà Nội, ngày.... tháng 10 năm 2014
Tác giả
Phạm Thành Trung
iii
MỤC LỤC
iv
2.1.3. Tiềm năng phát triển DLST của Khu du lịch sinh thái Tràng An ...................41
2.2. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................46
2.2.1. Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu, khảo sát ..........................................46
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu ..........................................................................46
2.2.3. Phương pháp phân tích ....................................................................................47
2.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài ...................................48
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .....................................................................50
3.1. Thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Khu du lịch sinh thái Tràng An .......50
3.1.1. Thực trạng về các tác nhân tham gia hoạt động du lịch tại Khu DLST Tràng
An ..............................................................................................................................50
3.1.2. Thực trạng về các tác nhân tham gia hoạt động du lịch tại Khu DLST Tràng
An ..............................................................................................................................54
3.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch qua các năm tại Khu DLST Tràng An....... 66
3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển DLST tại Khu du lịch sinh thái Tràng An ...74
3.2.1. Thể chế chính sách và tổ chức quản lý Nhà nước ...........................................74
3.2.2. Nhận thức của cộng đồng dân cư và chính quyền địa phương .......................78
3.2.3. Tài nguyên thiên nhiên, môi trường ................................................................80
3.2.4. Nguồn nhân lực lao động trong lĩnh vực du lịch sinh thái ..............................85
3.2.5. Hoạt động xúc tiến quảng bá ...........................................................................88
3.2.6. Cơ sở hạ tầng vật chất của khu du lịch ...........................................................89
3.3. Những thành công, tồn tại trong phát triển DLST tại Khu du lịch sinh thái
Tràng An ...................................................................................................................92
3.3.1. Thành công ......................................................................................................92
3.3.2. Những tồn tại ...................................................................................................94
3.4. Giải pháp góp phần phát triển du lịch sinh thái tại Khu du lịch sinh thái Tràng
An. .............................................................................................................................97
Kinh tế - xã hội
vi
DANH MỤC BẢNG
Tên Bảng
STT
Trang
3.1
Số lượng cán bộ nhân viên hoạt động trong KDL Tràng An
56
3.2
Lượng khách du lịch đến Tràng An qua các năm (lượt)
66
3.3
Đánh giá của hộ gia đình về hoạt động du lịch
70
83
Sự tham gia của DN trong các hoạt động môi trường
84
3.10 Công tác đào tạo nguồn nhân lực của KDL Tràng An
85
3.11 Đánh giá của khách du lịch về chất lượng phục vụ
87
3.9
3.12
Đánh giá của du khách về hệ thống CSHT vật chất tại khu du
lịch
3.13 Sáng kiến để duy trì và phát triển KDL sinh thái Tràng An
91
105
vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
định thì: “Du lịch đóng góp 6% thu nhập của thế giới, là một trong năm
nghành kinh tế lớn nhất của hành tinh”.
Cùng với sự phát triển của ngành du lịch nói chung thì Du lịch sinh thái
(DLST) đã và đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu và trở thành mối quan
tâm lớn của nhiều quốc gia trong chiến lược phát triển du lịch. Ngày nay khi
nền công nghiệp bùng nổ kéo theo môi trường bị ô nhiễm nặng nề thì DLST
có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với con người. Mô hình DLST giúp con người
có điều kiện tiếp cận với thiên nhiên hoang sơ, môi trường trong lành, tìm
hiểu nền văn hóa bản địa đặc sắc, thỏa mãn nhu cầu khám phá và hồi phục
sức khỏe cho con người.
DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm, du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ
trợ cho các mục tiêu bảo tồn tự nhiên và phát triển cộng đồng và đây là loại
hình du lịch có nhiều đóng góp thiết thực cho việc phát triển bền vững, bảo vệ
tự nhiên và mang lại lợi ích kinh tế. Chính vì vậy DLST đã trở thành mục tiêu
phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới về du lịch bởi tính ưu việt của nó.
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía Đông Nam của đồng bằng Bắc bộ, hấp
dẫn du khách bởi quần thể du lịch kỳ thú với những giá trị tự nhiên và văn
hóa nổi bật như: Vườn quốc gia Cúc Phương, Tam Cốc, Bích Động, Cố đô
Hoa Lư, Nhà Thờ đá Phát Diệm Hai năm trở lại đây khu du lịch Tràng An
được đầu tư xây dựng và đưa và khai thác phục vụ du lịch thì du lịch Ninh
Bình càng phát triển với định hướng khai thác du lịch thành ngành kinh tế chủ
yếu của tỉnh.
2
Tràng An là một khu du lịch sinh thái nằm trong Quần thể danh thắng
Tràng An thuộc tỉnh Ninh Bình đã được Chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích
quốc gia đặc biệt quan trọng. Khu du lịch sinh thái Tràng An có diện tích
2.168 ha, nằm trên địa bàn 8 xã, phường thuộc huyện Hoa Lư, huyện Gia
An.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch
sinh thái;
+ Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Khu du lịch sinh
thái Tràng An;
+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch sinh thái tại
Khu du lịch sinh thái Tràng An;
+ Đề xuất các giải pháp góp phần phát triển du lịch sinh thái tại khu
Khu du lịch sinh thái Tràng An.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề về phát triển du lịch sinh thái tại Khu du lịch
sinh thái Tràng An.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá các hoạt động
du lịch sinh thái tại du lịch sinh thái Tràng An.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu Khu du lịch sinh thái Tràng An nằm
trong quần thể Danh thắng Tràng An trên địa bàn 8 xã, phường thuộc huyện
Hoa Lư, huyện Gia Viễn và thành phố Ninh Bình.
- Về thời gian: Số liệu được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 2011 2013, các giải pháp cho giai đoạn 2014 - 2020.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN
DU LỊCH SINH THÁI
1.1. Cơ sở lý luận về DLST và phát triển DLST
1.1.1. Khái niệm về phát triển
Thuật ngữ phát triển đã được dùng trong các văn kiện, trong nghiên
trọng của các quốc gia và thế giới. Thực sự đã có nhiều nhà khoa học danh
tiếng tiên phong nghiên cứu lĩnh vực này, điển hình như:
Hector Ceballos-Lascurain - một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch
sinh thái (DLST), định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: "Du
lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị
xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: Nghiên cứu, trân trọng và thưởng
ngoạn phong cảnh và giới động - thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị
văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này".
Đến năm 1993, khái niệm DLST mới có được một định nghĩa của
Lindberg và Hawkins phản ánh khá đầy đủ về nội dung và chức năng của
DLST. Theo đó, “DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là
công cụ để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa
phương”17.
Năm 1994 nước Úc đã đưa ra khái niệm “DLST là Du lịch dựa vào thiên
nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên
được quản lý bền vững về mặt sinh thái”.
Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích
với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi
trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội
để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính
cho cộng đồng địa phương” [17].
Tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN) cũng đưa ra định nghĩa khá
đầy đủ hơn:“DLST là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại
6
các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc
điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến
khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan
khác nhau tùy theo nhận thức, quan điểm các nhà nghiên cứu của các tổ chức
và tùy vào điều kiện đặc thù của các Quốc gia, các khu vực địa lý, hành
chính khác nhau. Nơi có ý thức trách nhiệm đối với thiên nhiên cao hơn thì
tiêu chí thiên nhiên hoang dã được đề cập đến nhiều hơn. Nơi ý thức bảo tồn
thiên nhiên và yếu tố giáo dục môi trường, sinh thái được chú trọng thì tiêu
chí về quản lý bền vững được chú trọng nhiều hơn.
Nhận định chung: Cách nhìn nhận du lịch sinh thái hiện nay cũng khá mở
và cho dù có những khác biệt nhất định nhưng đa số các chuyên gia và tổ chức
quốc tế đều thống nhất những nội dung cơ bản mà du lịch sinh thái cần phải
có, đó là:
- Du lịch sinh thái là một loại hình phát triển du lịch bền vững, được
quản lý bền vững;
- Là loại hình dựa vào thiên nhiên là chính;
- Có hỗ trợ bảo tồn (không làm thay đổi tính toàn vẹn của hệ sinh thái,
nguồn thu được từ hoạt động du lịch sinh thái được đầu tư cho công tác bảo
tồn, bảo vệ môi trường…);
- Có các hoạt động, hình thức giáo dục về môi trường và sinh thái;
- Có sự tham gia chia sẻ lợi ích cộng đồng (khuyến khích sự tham gia cộng
đồng trong các hoạt động và dịch vụ cho du lịch sinh thái như hướng dẫn viên
địa phương, kinh doanh lưu trú, ăn uống, tạo các sản phẩm bổ trợ khác…).
Quan điểm trên có thể làm cơ sở để đối sánh những hoạt động du lịch
đang diễn ra hiện nay tại Việt Nam, đồng thời có thể định hướng giúp các
nhà hoạch định chiến lược phát triển du lịch sinh thái của nước ta, từ đó có
thể đưa ra những chiến lược, kế hoạch khai thác và phát triển Du lịch sinh
thái ở Việt Nam.
Trên thực tế ở Việt Nam, quan điểm về Du lịch sinh thái cũng có những
yếu tố chưa được hiểu một cách thống nhất giữa những người làm du lịch và
8
9
đến môi trường. Điều này liên quan đến công nghệ và vật liệu sử dụng trong
xây dựng và quản lý hoạt động của du lịch sinh thái.
- Tính giáo dục cao về môi trường, sinh thái, văn hóa: Các hoạt động du
lịch sinh thái thường mang lại những kiến thức đa dạng về hệ sinh thái, về đa
dạng sinh học và các giá trị văn hóa truyền thống. Qua đó, khách du lịch sinh
thái có thể nâng cao nhận thức về môi trường và có trách nhiệm hơn với việc
bảo vệ môi trường tự nhiên và nền văn hóa truyền thống.
- Tính chuyên nghiệp cao: Hoạt động du lịch sinh thái yêu cầu trình độ
quản lý chuyên nghiệp bởi đội ngũ nhân viên được đào tạo kỹ càng, có kiến
thức nghiệp vụ chuyên môn cao và kiến thức về sinh thái môi trường bao
quát. Tính chuyên nghiệp được thể hiện trước hết ở trình độ, năng lực của
nhà quản lý. Yêu cầu đối với nhà quản lý du lịch sinh thái không chỉ giỏi ở
nghiệp vụ quản trị du lịch, năng lực quản lý tốt mà còn phải am hiểu về hệ
sinh thái, về văn hóa và cả nghiệp vụ bảo tồn.
- Tính định hướng thị trường: Do đặc điểm của mình, du lịch sinh thái
có tính định hướng thị trường rất cao. Thường thì du lịch sinh thái có một
phân khúc thị trường riêng, những người ưa khám phá, tìm hiểu và có trình
độ nhất định. Do vậy, để phát triển du lịch sinh thái, vấn đề nghiên cứu thị
trường và quảng bá xúc tiến có vai trò đặc biệt quan trọng. PGS.TS. Phạm
Trung Lương (Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch) đã đúc kết một số đặc
điểm của khách du lịch sinh thái như sau:
+ Đó là những người trưởng thành, có thu nhập cao, có giáo dục và có
sự quan tâm đến môi trường thiên nhiên;
+ Thích hoạt động ngoài thiên nhiên;
+ Thường có thời gian du lịch dài hơn và mức chi tiêu nhiều hơn so với
khách du lịch ít quan tâm đến thiên nhiên;
+ Thường không đòi hỏi cao về đồ ăn thức uống hoặc nhà nghỉ cao cấp
đầy đủ tiện nghi.
sự suy giảm những chức năng thiết yếu của các hệ sinh thái và khả năng bảo
tồn các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc. Ngày nay, việc sử dụng bền
11
vững, bảo tồn và bảo vệ các nguồn lực phát triển du lịch được xem là vấn đề
sống còn đối với việc quản lý mang tính toàn cầu và mỗi quốc gia.
- Hạn chế sự tiêu thụ quá mức và giảm thiểu chất thải của hoạt động du
lịch ra môi trường.
Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên cho hoạt động du lịch và
không kiểm soát được lượng chất thải của chính các hoạt động đó sẽ góp
phần dẫn đến sự suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là không thể phát
triển kinh doanh du lịch một cách lâu dài. Giảm thiểu sự tiêu thụ quá mức và
giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại
cho môi trường và làm tăng chất lượng của du lịch. Đây là nguyên tắc quan
trọng đòi hỏi cần phải được quan tâm ngay từ khi triển khai các dự án du lịch
và phải được theo dõi giám sát liên tục.
- Phát triển du lịch phải đảm bảo duy trì được tính đa dạng
Tính đa dạng về tự nhiên, xã hội và văn hoá là nhân tố đặc biệt và quyết
định sự hấp dẫn và khác biệt của các sản phẩm du lịch ở mỗi điểm đến, làm
tăng khả năng thoả mãn nhu cầu của du khách, tăng khả năng cạnh tranh, thu
hút khách, tạo dựng thương hiệu và đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Sự
đa dạng của môi trường tự nhiên, văn hoá và xã hội mang lại khả năng phục
hồi và tránh việc quá phụ thuộc vào một hoặc một vài nguồn hỗ trợ sinh tồn.
Đa dạng văn hoá một trong những tài nguyên hàng đầu của ngành du lịch cần
phải được giữ gìn, bảo vệ. Sự đa dạng văn hoá bản địa sẽ mất đi khi nó bị
xuống cấp bởi cư dân biến nó thành món hàng để bán cho du khách.
Hiện nay, ở một số quốc gia do phát triển du lịch quá nóng đã làm cho
hệ sinh thái bị phá huỷ trên diện rộng, không duy trì được tính đa dạng của
Việc tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào các hoạt động du
lịch vừa giúp họ có nguồn thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống vừa làm
cho họ có nghĩa vụ và trách nhiệm cao hơn trong việc duy trì nguồn tài
nguyên du lịch trên chính quê hương mình. Thông qua sự tham gia của cộng
13
đồng địa phương mà thúc đẩy gìn giữ, phát triển những ngành nghề, làng
nghề và lễ hội truyền thống của địa phương như dệt thổ cẩm, thêu ren, làm
hàng thủ công mỹ nghệ, trồng các loại cây đặc sản của địa phương… để
khách du lịch được chiêm ngưỡng, học hỏi, mua sắm các sản phẩm nơi họ
đến tham quan. Các lễ hội, món ăn truyền thống, phong tục tập quán cần
được gìn giữ và phát huy vì đó là những nét đặc trưng riêng của vùng du lịch,
là điểm nhấn để thu hút khách tham quan. Vì thế không được áp đặt các
chuẩn mực đồng nhất cho các khu, điểm du lịch. Ngăn ngừa sự thay thế các
ngành nghề truyền thống lâu đời bằng chuyên môn hoá. Tuy nhiên, năng lực
tham gia của cộng đồng còn hạn chế, đặc biệt là cộng đồng vùng nông thôn,
vùng sâu vùng xa. Vì vậy, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng là quá
trình nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực và cải thiện điều kiện sống và
làm việc cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế và điều kiện sinh kế cho các
vùng còn khó khăn.
- Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch với các ngành, lĩnh vực
trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Du lịch với đặc điểm là ngành kinh tế tổng hợp, mang tính liên ngành và
liên vùng. Nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển du lịch đồng thời cũng
phục vụ cho sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp,
vật liệu xây dựng…Nguồn tài nguyên đó chỉ trở lên hấp dẫn, có giá trị và có
thể khai thác phục vụ du lịch khi có sự phát triển đồng bộ ở trình độ nhất
định của các ngành liên quan đó. Do đó, mọi phương án khai thác tài nguyên
trong quá trình phát triển là hết sức cần thiết. Điều này đảm bảo sự gắn kết
giữa ngành du lịch với cư dân địa phương, giữa các ngành với nhau trong
việc khai thác hợp lý và có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, giúp cho
sự phát triển bền vững của các ngành kinh tế trong đó có ngành du lịch.
- Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch
Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đều đã khẳng định rằng sự
thành công và phát triển của bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh hay một tổ chức
15
kinh tế xã hội nào đều phụ thuộc trước hết vào yếu tố con người. Con người
ở đây được đánh giá theo các tiêu chuẩn: sự hiểu biết về kiến thức, kỹ năng,
phẩm chất nghề nghiệp, thái độ với công việc và sức khoẻ mà người lao động
có được. Sự hiểu biết và kỹ năng của lao động có được là nhờ quá trình đào
tạo và bồi dưỡng. Một đội ngũ cán bộ nhân viên có sức khoẻ, có phẩm chất
nghề nghiệp với thái độ lao động tích cực, được đào tạo bài bản khi tham gia
vào các hoạt động du lịch sẽ tạo sự hứng thú cho du khách, mang đến cho du
khách những dịch vụ với giá trị thụ hưởng cao nhất, đồng thời có thể làm cho
du khách có nhận thức đúng và có ý thức trách nhiệm về môi trường và các
giá trị văn hoá truyền thống. Ở đây nhân lực du lịch được đào tạo, phát triển
bài bản quyết định đến yếu tố bền vững của hoạt động du lịch.
- Tăng cường các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch có trách nhiệm
Do tính chất vô hình của sản phẩm du lịch mà xúc tiến, quảng bá luôn là
hoạt động quan trọng trong phát triển du lịch. Hoạt động xúc tiến quảng bá
du lịch nhằm tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về đất nước con người của
điểm đến, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích văn hoá, cách mạng,
các công trình lao động sáng tạo, bản sắc văn hoá của dân tộc. Cụ thể hơn,
xúc tiến du lịch làm cho thị trường biết đến sản phẩm du lịch, những giá trị,
những trải nghiệm và những thương hiệu du lịch cần thưởng thức, những
qua quá trình phát triển. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng
khoa học công nghệ, đặc biệt những công nghệ mới, công nghệ sạch, công nghệ
thân thiện môi trường sẽ trực tiếp tạo ra những sản phẩm du lịch mới, thân thiện
môi trường, tiết kiệm sử dụng tài nguyên và hạn chế xả thải ra môi trường qua
đó thúc đẩy phát triển du lịch bền vững. Có thể nói, nghiên cứu và triển khai
(R&D) luôn vũ khí sắc bén quyết định đến yếu tố hiệu quả và bền vững trong
cạnh tranh và phát triển, trong đó có phát triển du lịch bền vững.
Phát triển du lịch bền vững đảm bảo cho sự phát triển thành công ổn định
và lâu dài của ngành du lịch. Vì thế các nguyên tắc trên cần được các bên có
liên quan tôn trọng và thực hiện đầy đủ ở mức độ chủ động và tự giác cao.