Nghiên cứu KAP của giảng viên về công tác đảm bảo chất lượng giáo dục tại cơ sở giáo dục đại học trong công an nhân dân (tt) - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC

NGUYỄN MẠNH CHIỂN

NGHIÊN CỨU KAP CỦ A GIẢNG VIÊN VỀ CÔNG TÁC
ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC

NGUYỄN MẠNH CHIỂN

NGHIÊN CỨU KAP CỦ A GIẢNG VIÊN VỀ CÔNG TÁC
ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN

Chuyên ngành: Đo lƣờng và đánh giá trong giáo dục
Mã số: 60 14 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Ngƣời hƣớng dẫn: PGS. TS Lê Đức Ngọc

HÀ NỘI – 2016

Nghiên cứu KAP giúp tìm ra sự khác biệt giữa nhận thức, thái độ và hành vi
của người tham gia nghiên cứu về một vấn đề nghiên cứu cụ thể. Trong thực tế của


cuộc sống, rất nhiều người có nhận thức đúng đắn nhưng hành vi lại không dựa trên
nhận thức của họ từ đó KAP sẽ tạo cho một bức tranh chung về vấn đề nghiên cứu.
Ở Việt Nam, mô hình KAP được áp dụng nhiều ở các chương trình đánh giá
của các tổ chức quốc tế như UNICEF, World Bank, UNDP,… Mô hình nghiên cứu
này được đánh giá là mang liệu hiệu quả kinh tế cao và giá trị khoa học tin cậy.
KAP rất phù hợp trong nghiên cứu và nhìn nhận các vấn đề của thân chủ trong công
tác xã hội. Đấy là cách nhìn dựa trên quan điểm kiến tạo luận xã hội. Hiểu được vấn
đề chung liên quan đến đối tượng nghiên cứu trước khi đi vào đánh giá điểm mạnh,
yếu và khả năng can thiệp các biện pháp giúp nâng cao kiến thức, thái độ và hành vi
của đối tượng nghiên cứu.
Trong công tác đảm bảo chất lượng, kiến thức, thái độ, hành vi của giảng viên
có ý nghĩa quan trọng vì họ vừa là trung tâm, vừa là đối tượng, vừa là sản phẩm của
quá trình đào tạo và là đối tượng thụ hưởng chính. Do vậy, tìm hiểu thực trạng kiến
thức, thái độ, hành vi về công tác đảm bảo chất lượng của giảng viên là một nhiệm
vụ quan trọng, cần thiết nhằm giúp các nhà quản lý giáo dục thu được bức tranh
tổng thể và tiến hành đánh giá tổng quát về mức độ kiến thức, thái độ và hành vi của
giảng viên, từ đó xây dựng kế hoạch hành động cụ thể nhằm tăng cường công tác
giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học để nâng cao kiến thức về công tác đảm
bảo chất lượng.
Việc nghiên cứu KAP (kiến thức, thái độ, hành vi) đã được triển khai nghiên
cứu trên nhiều lĩnh vực như: Đề tài kiến thức, thái độ và hành vi của người dân về ô
nhiễm môi trường trên địa bàn Tỉnh Bình Dương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, vấn
đề môi trường rất được người dân quan tâm. Đa số người dân có nhận thức tốt về
việc ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt nhưng thái độ và hành vi còn chưa
đúng. Đặc biệt trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt; đề tài Khảo
sát kiến thức, thái độ, hành vi về chất thải y tế của nhân viên y tế của tác giả Dương

trong CAND làm mẫu đại diện để tiến hành khảo sát và thu thập thông tin.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Kiến thức, thái độ và hành vi của giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học trong
CAND về công tác đảm bảo chất lượng ở mức độ nào?
5. Nội dung nghiên cứu


- Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi của giảng viên về công tác đảm
bảo chất lượng tại cơ sở giáo dục đại học trong CAND với những yêu cầu mới về
trình độ, năng lực, phẩm chất nghề nghiệp đặc trưng của người cán bộ CAND.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và hành vi của giảng
viên và nâng cao công tác đảm bảo chất lượng tại cơ sở giáo dục đại học trong
CAND.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở các tài liệu, các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
có liên quan đến đề tài, tiến hành tổng hợp và khái quát hóa để xây dựng cơ sở lý
luận của luận văn.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi về thực trạng công tác đảm bảo chất
lượng giáo dục và kiến thức, thái độ, thực hành của giảng viên trong các cơ sở giáo
dục đại học trongCAND;
+ Phương pháp thống kê toán học để xử lý, phân tích số liệu điều tra, trên cơ
sở đó đưa ra những đánh giá, nhận định, kết luận có cơ sở khoa học;
+ Phương pháp chuyên gia, hỏi ý kiến của cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý đào
tạo trong và ngoài ngành công an.
- Xử lý kết quả nghiên cứu bằng phần mềm SPSS16 và phần mềm QUEST.
7. Giới hạn nghiên cứu
- Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi của giảng viên về công tác
đảm bảo chất lượng giáo dục tại các cơ sở giáo dục đại học trong CAND.

với môi trường xã hội thay đổi ở Mỹ, tới sự thay đổi các giá trị cũ bằng các giá trị
mới mà đặc điểm của nó là vấn đề thái độ. Theo hai ông thì "thái độ là trạng thái
tinh thần của mỗi cá nhân đối với một giá trị".
Từ sự phát triển của W.I.Thomas và F.Znanicki bắt đầu bùng nổ những
nghiên cứu về thái độ. Nhiều tác giả cũng có quan điểm tương tự và mỗi người đều
đưa ra lý do riêng của mình. Tất cả các nghiên cứu thời kỳ này đều tập trung vào
định nghĩa, cấu trúc, chức năng, mối quan hệ giữa thái độ và hành vi. Sở dĩ khái
niệm thái độ được sử dụng rộng rãi vì nó bao hàm các mối liên hệ cơ bản với các
vấn đề như dư luận xã hội, tuyên truyền, sự mâu thuẫn giữa các nhóm cạnh tranh


kinh tế, niềm tin tôn giáo, thay đổi hành vi và những vấn đề có ý nghĩa to lớn khác
về mặt lý luận và thực tiễn về các mối quan hệ nói chung.
Nghiên cứu về nhận thức tác giả Kluckhohn C. (1983) đã chứng minh rằng
nhận thức về nghề nghiệp tỷ lệ thuận với hiệu suất lao động của nhân viên. Hiệu
quả công việc có được là do nhân viên có những nhận thức đầy đủ và đúng đắn về
nghề mà mình đã chọn. Sự hài lòng về công việc được coi là kết quả của thái độ
nghề nghiệp tích cực.
Theo nghiên cứu của Kohn ML, Schooler C. (1981) đã đưa ra khái niệm
“Chất lượng của môi trường làm việc" (Quality of work life). Các ông cũng nhấn
mạnh vai trò của môi trường vật lý và tâm lý xã hội nơi làm việc trong việc xác định
sự hài lòng nghề nghiệp của nhân viên. Chất lượng của môi trường làm việc có mối
tương quan với sự hài lòng công việc của nhân viên. Chất lượng của môi trường
làm việc cao cải thiện năng suất và trạng thái tình cảm của người lao động.
Nghiên cứu về mối quan hệ hành vi của người lao động tác giả Mortimer JT,
Finch M, Shanahan M, Ryu S (1992) có công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa
hành vi của người lao động với sự hài lòng nghề nghiệp. Những phát hiện của
nghiên cứu này cho thấy rằng sự hài lòng nghề nghiệp rất quan trọng trong việc dự
đoán hành vi của người lao động. Các tác giả giải thích sự hài lòng công việc của
nhân viên phản ánh cảm xúc của người lao động tích cực hay tiêu cực đối với công

thể: đối với hệ trung cấp, 83% học sinh năm thứ nhất và 72% ở năm thứ hai có thái
độ thỏa mãn với nghề nghiệp. Ở hệ đại học, tỷ lệ thỏa mãn với nghề nghiệp giảm
dần tương ứng từ năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư lần lượt là 61%, 62%, 49%
và 32%.
Lâm Thị Sang (2004), Nghiên cứu thái độ đối với việc rèn luyện nghiêp vụ sư
phạm của sinh viên trường cao đẳng sư phạm tỉnh Bạc Liêu”, Luận văn thạc sỹ.
Nghiên cứu đã phân tích vai trò của thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư
phạm, một hoạt động hết sức quan trọng trong quá trình học nghề và rèn luyện nhân
cách của sinh viên sư phạm. Tác giả đã lượng hóa các mặt đo của thái độ bằng các
con số cụ thể từ đó đánh giá được thực trạng thái độ của sinh viên đối với việc rèn
luyện nghiệp vụ sư phạm.
Nguyễn Thanh Giang (2005), Thái độ đối với môn Tâm lý học lãnh đạo, quản
lý của học viên Phân viện TP. Hồ Chí Minh – Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí


Minh, Luận văn thạc sỹ. Tác giả đã khái quát những vấn đề lý luận về thái độ. Trên
cơ sở đó, tác giả đã xây dựng các chỉ báo để đo lường thái độ học tập của học viên,
đề tài cũng rút ra được nhiều kết luận và kiến nghị có giá trị thực tiễn cao trong việc
nâng cao thái độ học tập của học viên.
Thân Trung Dũng (2009), Nhận thức về nghề nghiệp và giá trị nghề nghiệp
hậu cần quân sự của học viên đào tạo sỹ quan hậu cần cấp phân đội – bậc đại học
ở Học viện Hậu cần hiện nay, đề tài nghiên cứu cấp học viện.Ý tưởng của đề tài
được xuất phát từ những câu hỏi nghiên cứu cơ bản như: Học viên đào tạo sĩ quan
hậu cần cấp phân đội - bậc đại học ở Học viện Hậu cần nhận thức về nghề nghiệp
hậu cần quân sự như thế nào? (Quan niệm của học viên về nghề nghiệp hậu cần
quân sự?). Những giá trị nghề nghiệp nào được học viên lựa chọn, đánh giá cao, coi
là quan trọng? Biện pháp nào góp phần nâng cao nhận thức về nghề nghiệp và giá
trị nghề nghiệp hậu cần quân sự cho học viên.
Ngoài ra, phải kể đến những nghiên cứu khác về thái độ với những khách thể
và đối tượng khá phong phú như: “Thái độ của công nhân đối với công việc và xí

các nhà khoa học, mà chủ yếu là các nhà giáo dục hết sức quan tâm đến một lĩnh
vực tri thức giúp con người làm chủ thế giới, làm chủ nguồn tri thức của nhân loại.
Điều này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh thế giới thông tin ngày càng trở nên phức
tạp. Theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL), kiến
thức thông tin là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân có
thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thông
tin cần thiết một cách hiệu quả”. McKie, trong tài liệu của Cheek và các tác giả
khác đã khẳng định “kiến thức thông tin là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin,
tìm kiếm, tổ chức, thẩm định và sử dụng thông tin trong việc ra quyết định một cách
hiệu quả, cũng như áp dụng những kỹ năng này vào việc tự học suốt đời” .
Theo Hiệp hội Các thư viện chuyên ngành và các trường đại học Hoa Kỳ,
người có kiến thức thông tin là người “đã học được cách thức để học. Họ biết cách
học bởi họ nắm được phương thức tổ chức tri thức, tìm kiếm thông tin và sử dụng
thông tin, do đó những người khác có thể học tập được từ họ. Họ là những người đã
được chuẩn bị cho khả năng học tập suốt đời, bởi lẽ họ luôn tìm được thông tin cần
thiết cho bất kỳ nhiệm vụ hoặc quyết định nào một cách chủ động." Đối với công


tác đảm bảo chất lượng bê n trong kiến thức của mỗi người được tích lũy dần qua
quá trình học tập và làm việc trong nhà trường thông qua các quy đinh
̣ về công tác
đảm bảo chấ t lươ ̣ng và các quy trình , chu trình cu ̣ thể trong các hoa ̣t đô ̣ng của nhà
trường, mỗi giảng viên có thể thu được kiến thức về công tác đảm bảo chấ t lươ ̣ng từ
đó dẫn đến có thái độ và hành vi phù hợp trước mỗi sự việc.
1.2.2. Khái niệm “Thái độ” (A)
Theo nghiên cứu của Nguyễn Khắc Viện về thái độ thì: “ Trước một đối tượng
nhất định, nhiều người thường có phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn,
đồng tình hay chống đối như đã có sẵn trong cơ cấu tâm lí tạo ra định hướng cho
việc ứng phó. Từ thái độ sẵn có, tri giác về đối tượng cũng như bị tri phối, về vận
động thì thái độ gắn liền với tư thế” Theo tác giả, cách định nghĩa này vẫn chỉ tập

tâm lí học Macxít (đại diện là V.N.Miaxisev) thì cho rằng: “ Thái độ là khía cạnh
chủ quan bên trong, có tính chọn lọc của các mối liên hệ đa dạng ở con người với
các khía cạnh khác nhau của hiện thực. Hệ thống này diễn ra trong toàn bộ lịch sử
phát triển của con người, biểu thị kinh nghiệm cá nhân và qui định nội hàm hành
động cũng như các trải nghiệm của họ.Khái niệm “thái độ” là khía cạnh tiềm năng
của các quá trình tâm lý, liên quan đến tính tích cực chủ quan, có chọn lọc của nhân
cách.
Qua cách định nghĩa trên, tôi nhận thấy, giữa các tác giả chưa có sự thống nhất
về định nghĩa thái độ.Định nghĩa thái độ của mỗi tác giả đưa ra đều có những ưu
điểm và hạn chế nhất định.
Từ việc tìm hiểu, xem xét, phân tích các quan điểm về thái độ nêu trên, thái độ
của giảng viên về công tác đảm bảo chất lượng giáo dục được triển khai nghiên cứu
như sau: Thái độ là một thuộc tính của nhân cách, tạo ra tâm lý sẵn sàng phản ứng
lại các tác động khách quan; sẵn sàng hoạt động của chủ thể với đối tượng theo một
hướng nào đó, được biểu hiện ra bên ngoài thông qua nhận thức, xúc cảm tình cảm
và hành vi của chủ thể đối với đối tượng trong những tình huống, điều kiện nhất
định.
1.2.3. Khái niệm “hành vi” (P)
+ Quan niệm về hành vi của Tâm lý học hành vi cổ điển: theo J.Watson cho
rằng: Hành vi được quan niệm là phản ứng (là bất cứ cái gì mà sinh vật làm và nó


bao gồm rất nhiều thứ). Cũng theo J.Watson, loại hình hành vi người và loại hình
hành vi động vật có ba sự khác biệt. Khác biết thứ nhất hoàn toàn thuộc ở lĩnh vực
sinh vật của con người, bắt đầu từ thời kỳ bào thai, đến tuổi già: “Con người như là
một động vật có vú, một động vật hai chân, hai tay, với những ngón tay uyển chuyển,
như là một động vật có thời kì bào thai hơn chín tháng, một thời ký thơ ấu bất lực kéo
dài, một thời kỳ tuổi thơ phát triển kéo dài... và một cuộc đời kéo dài 70 tuổi”.
Cùng quan niệm về hành vi của các nhà Tâm lý học hành vi mới: Các nhà
hành vi mới, trong luận thuyết của mình đã cố gắng phát triển và phong phú thêm

vi như trên, theo tác giả, có thể rút ra khái niệm hành vi một cách đầy đủ và phù hợp
với đề tài, đó là: là toàn bộ những phản ứng , cách ứng xử, biểu hiện ra ngoài của
một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định.
1.2.4. Khái niệm đảm bảo chất lượng bên trong
Có khá nhiều quan điểm về ĐBCLBT như: Theo International Institute

for

Educational Planning (IIEP), thuộc Unesco, “ĐBCLBT là hệ thống các chính sách
và cơ chế để vận hành một trường Đại học hoặc một chương trình giáo dục nhằm
đảm bảo nhà trường hoặc chương trình giáo dục đáp ứng đầy đủ các mục tiêu và
chuẩn mực được áp dụng cho trường Đại học hoặc chương trình giáo dục đó.”
Theo AUN thì “ĐBCLBT là một hệ thống trong đó đội ngũ cán bộ quản lý và
nhân viên hài lòng với cơ chế kiểm soát giúp duy trì và nâng cao chất lượng.”
Cũng theo AUN giải thích, trong bối cảnh của trường đại học, “ĐBCLBT là
toàn bộ hệ thống, nguồn lực và thông tin giúp cho việc thiết lập, duy trì và phát
triển chất lượng và các chuẩn mực trong hoạt động dạy, học, nghiên cứu và phục
vụ cộng đồng.”
1.2.5. Khái niệm đảm bảo chất lượng bên ngoài
Đảm bảo chất lượng bên ngoài được thực hiện bởi một tổ chức hoặc cá nhân
bên ngoài cơ sở đào tạo. Đánh giá viên đánh giá hoạt động của cơ sở đào tạo, hệ
thống hay chương trình để quyết định xem mức độ đáp ứng những tiêu chuẩn. Đây
cũng có thể hiểu như là hoạt động đánh giá ngoài theo như cách hiểu của Bộ
GD&ĐT. Đánh giá ngoài là quá trình khảo sát, đánh giá của các chuyên gia không
thuộc trường được đánh giá, dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do
Bộ GD & ĐT ban hành để xác định mức độ trường đáp ứng các tiêu chuẩn quy định.
Đảm bảo chất lượng bên ngoài còn giữ vai trò quan trọng vì nó góp phần tạo ra
một cái nhìn cân bằng hơn về chất lượng của nhà trường, giải trình một cách thuyết





và phát triển nếp văn hóa chất lượng trong toàn bộ các hoạt động.
- Xét duyệt và định kỳ rà soát các chương trình đào tạo và việc cấp văn bằng,
chứng chỉ: Nhà trường cần có cơ chế, qui trình để duyệt xét và định kỳ rà soát các
chương trình đào tạo và văn bằng, chứng chỉ được cấp.
- Đánh giá người học: Người học được đánh giá dựa trên các chuẩn mực, qui
định và qui trình được công khai và có tính nhất quán.
- Đảm bảo chất lượng đối với đội ngũ giảng dạy: Đội ngũ giảng dạy được đảm
bảo về chất lượng, được tham gia ý kiến vào các báo cáo đánh giá chất lượng của
nhà trường.
- Nguồn tài nguyên hỗ trợ học tập: Người học được tiếp cận các nguồn tài
nguyên học tập tương ứng với chương trình đào tạo.
- Hệ thống thông tin: Nhà trường có đủ những thông tin cần thiết cho công tác
quản lý các chương trình đào tạo và các hoạt động khác trong nhà trường.
- Công khai thông tin: Nhà trường định kỳ cập nhật và công khai thông tin về
các chương trình đào tạo và văn bằng, chứng chỉ được cấp.
1.3.3. Đảm bảo chất lượng bên trong theo APQN
Hội thảo thường niên năm 2008 tại Chiba, Nhật Bản của Mạng lưới Đảm bảo
chất lượng châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Quality Network - APQN)
cũng đã đề ra bảy nguyên tắc (được gọi là Chiba Principles) của ĐBCL bên trong
mà mỗi cơ sở giáo dục đại học cần áp dụng như sau:
- Xây dựng và phát triển nếp văn hóa đảm bảo chất lượng trong toàn trường;
- Đảm bảo chất lượng được thể hiện trong những mục tiêu hoạt động của nhà
trường;
- Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong cùng các chính sách và
qui trình hoạt động;
- Tổ chức xét duyệt và định kỳ rà soát các chương trình đào tạo và việc cấp
văn bằng, chứng chỉ;
- Xây dựng và triển khai chiến lược phát triển chất lượng toàn diện;

khoa học, dịch vụ sinh viên,... Nhà trường phải có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến
phản hồi của người học và các bên liên quankhác một cách phù hợp, từ đó có những
điều chỉnh cần thiết để làm hài lòng “khách hàng”của mình.
(3) Hệ thống các quy trình ĐBCL chuyên biệt (special QA processes) gồm
những quy định, quy trình liên quan đến các hoạt động bên trong đơn vị nhằm duy
trì đều đặn, thường xuyên công tác ĐBCL AUN hướng dẫn các trường cần xây
dựng nhiều quy trình ĐBCL, không chỉ cho việc đánh giá sinh viên, mà còn cho đội
ngũ giảng viên, đội ngũ hỗ trợ, cơ sở vật chất, hỗ trợ sinh viên.
(4) Hệ thống các công cụ ĐBCL chuyên biệt (specific QA instruments) như
cách phân tích SWOT, được tiến hành sau một chu kỳ hoạt động của nhà trường
nhằm xác định những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của đơn vị; từ đó
có những điều chỉnh chiến lược cho các chu kỳ kế tiếp. Để tiếp cận cách phân tích
này, nhà trường cần tiến hành quá trình tự đánh giá nhằm kiểm soát sự phát triển
đúng hướng và đúng cách của trường và tầm soát các mục tiêu đã đạt được. Yếu tố
cuối cùng của các công cụ ĐBCL chuyên biệt là sổ tay chất lượng, đánh dấu sự
trưởng thành của HTĐBCLBT.
Trong giới hạn nghiên cứu của mình, tác giả chọn hướng tiếp cận hệ thống
đảm bảo chất lượng bên trong theo tiêu chuẩn của AUN, với tính ưu điểm, gần gũi,
tính linh hoạt áp dụng vào thực tiễn hệ thống giáo dục đại học Việt Nam của hệ
thống này. Đồng thời, tác giả cũng giới thiệu Bộ tiêu chuẩn tự đánh giá ĐBCLBT
theo AUN làm cơ sở đánh giá thực trạng công tác đảm bảo chất lượng bên trong tại


cơ sở giáo dục đại học trong công an nhân dân hiện nay.
1.3.4.2. Bộ tiêu chuẩn tự đánh giá ĐBCLBT theo AUN
Tiêu chuẩn 1: Chính sách và qui trình ĐBCL
Nhà trường cần có chính sách rõ ràng, những quy trình liên quan đến việc bảo
đảm chất lượng đào tạo. Các tiêu chuẩn chất lượng về các chương trình đào tạo và
bằng cấp.
Nhà trường cần có sự cam kết công khai về việc phát triển nền văn hóa chất

Nhà trường có những phương pháp nhằm đảm bảo nguồn nhân lực được đào
tạo phù hợp và có năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao.
Tiêu chuẩn 6: ĐBCL hệ thống cơ sở vật chất
Nhà trường cần có quy trình rõ ràng để đảm bảo có đầy đủ cơ sở vật chất cần
thiết cho việc học tập của người học phù hợp với từng chương trình đào tạo của
trường.
Tiêu chuẩn 7: ĐBCL hoạt động hỗ trợ ngƣời học
Nhà trường có các quy trình rõ ràng nhằm đảm bảo chất lượng các dịch vụ hỗ
trợ và tư vấn đối với người học.
Tiêu chuẩn 8: Tự đánh giá
Nhà trường cần thường xuyên thực hiện tự đánh giá, tối thiểu 5 năm một lần,
việc đánh giá những hoạt động cốt lõi cũng như toàn bộ đơn vị để hiểu được điểm
mạnh điểm yếu của mình. Việc tự đánh giá này cần dẫn đến một kế hoạch chất
lượng.
Tiêu chuẩn 9: Kiểm toán nội bộ
Tự đánh giá là một phần của quy trình đánh giá ngoài/kiểm định và bản báo
cáo tự đánh giá là thông tin đầu vào đối với đoàn đánh giá ngoài. Nếu việc tự đánh
giá không liên quan đến đánh giá ngoài, nhà trường cần tự tổ chức kiểm toán nội bộ,
dựa trên bản báo cáo tự đánh giá.
Tiêu chuẩn 10: Hệ thống thông tin
Nhà trường cần đảm bảo việc thu thập, phân tích và sử dụng những thông tin
cần thiết để phục vụ việc quản lý có hiệu quả những hoạt động cốt lõi của mình.
Tiêu chuẩn 11: Thông tin công cộng
Một trường cần thường xuyên công bố thông tin về số lượng và chất lượng
chương trình và bằng cấp mà mình đào tạo.


Tiêu chuẩn 12: Sổ tay chất lƣợng
Nhà trường có sổ tay chất lượng trong đó mọi quy định, quy trình và thủ tục
liên quan đến việc ĐBCL được nêu rõ. Sổ tay này được công bố và được mọi người

thiếu về số lượng và yếu về năng lực;
- Hệ thống thông tin phục vụ quá trình đánh giá còn yếu, thiếu và tính minh
bạch của thông tin còn thấp.
Những vấn đề nêu trên cần phải được tập trung giải quyết trong thời gian ngắn
để công tác đảm bảo chất lượng giáo dục có thể thực sự phát huy tác dụng, nhằm
đưa giáo dục đại học Việt Nam ngang tầm khu vực và vươn dần đến chuẩn quốc tế.
1.5. Công tác đảm bảo chất lượng đào tạo tại cơ sở giáo dục đại học trong
công an nhân dân
1.5.1. Hệ thông các cơ sở giáo dục Đại học trong Công an nhân dân
Hệ thống các cơ sở giáo dục Đại học trong lực lượng Công an hiện nay có 04
học viện, 04 trường đại học và 04 trường cao đẳng:
- Học viện anh ninh nhân dân;
- Học viện Cảnh sát nhân dân;
- Học viện Quốc tế;
- Học viện Chính trị;
- Đại học An ninh nhân dân;
- Đại học Cảnh sát nhân dân;
- Đại học PCCC;
- Đại học Kỹ thuật – Hậu cấn CAND;
- Cao đẳng An ninh nhân dân 1;
- Cao đẳng An ninh nhân dân 2;
- Cao đẳng Cảnh sát nhân dân 1;
- Cao đẳng Cảnh sát nhân dân 2.
Về cơ bản hệ thống các cơ sở giáo dục đại học trong CAND đáp ứng mục tiêu
đào tạo và nhu cầu sử dụng trong Công an, luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng
trong hệ thống đào tạo trong toàn ngành. Đến nay đã có 46 khóa đào tạo đại học An
ninh, 38 kháo đào tạo đại học Cảnh sát và được tổ chức đào tạo tại 11 cơ sở gồ m:
Học viện an ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện Quốc tế, Học
viện Chính trị CAND, Đại học An ninh nhân dân, Đại học Cảnh sát nhân dân, Đại


trình phát triển của mình đã sớm chủ trương xây dựng hệ thống ĐBCL bên trong.


Tuy nhiên, đến năm 2012 mới chính thức có đơn vị chuyên trách là thành lập phòng
Kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo tại Cục Đào tạo Bộ Công an và thành lập
Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo tại các học viện, trường CAND.
Trước đó, hoạt động đảm bảo chất lượng và khảo thí đã được thực hiện và duy trì
kết hợp dưới sự quản lý trực thuộc Phòng đào tạo. Để hoạt động đảm bảo chất
lượng bên trong hoạt động có hiệu quả các cơ sở giáo dục đại học trong công an
nhân dân đã triển khai các hoạt động như:
Phân công một đồng chí trọng Ban giám đốc học viện, Biên giám hiệu trường
trực tiếp phụ trách và chỉ đạo công tác đảm bảo chất lượng và dành nguồn kinh phí
thường xuyên chi cho hoạt động đảm bảo chất lượng.
Bộ Công an cũng ban hành kế hoạch và chiến lược triển khai các hoạt động
đảm bảo chất lượng định kỳ 5 năm 2011 – 2015 và các năm tiếp theo. Trên cơ sở
các yêu cầu về công tác đảm bảo chất lượng của Bộ, các học viện, trường CAND
xây dựng các kế hoạch chi tiết về các hoạt động đảm bảo chất lượng.
Tập trung xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin lưu trữ về công tác đảm bao
chất lượng.
Triển khai xây dựng và ban hành các chu trinh, quy trình công tác.
Thường xuyên mở các lớp tập huấn về công tác đảm bảo chất lượng như đào
tạo kiểm định viên kiểm định chất lượng giáo dục, xây dựng và phân tích câu hỏi
thi, tập huấn về công tác thi, kiểm tra đánh giá… cho cán bộ giảng viên.
Thường xuyên tuyên truyền phổ biến đến cán bộ, giáo viên và học viên tầm
quan trong về công tác đảm bảo chất lương và xây dựng các quy trình hướng dẫn
thực hiện các nhiệm vụ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Tổ chức lấy thông tin phản hồi của người học về đánh giá hoạt động giảng dạy
của giảng viên và đánh giá trường sau khi tốt nghiệp.
Xây dựng và ban hành hệ thống các công cụ giám sát và công cụ đánh giá
như: Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đối với các học viện, trường đại học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status