Tài liệu Về một số khái niệm thường dùng trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học doc - Pdf 10



1
Về một số khái niệm thường dùng trong đảm bảo chất lượng
giáo dục đại học

Ths. Nguyễn Kim Dung
Trường ĐH Sư Phạm Tp HCM
TS. Phạm Xuân Thanh
Bộ GD và ĐT
Đã đăng ở Tạp chí Giáo dục, số 66, tháng 9/2003

Với sự ra đời của các hệ thống đảm bảo chất lượng (ĐBCL) giáo dục đại
học (GDĐH) trên thế giới, việc thống nhất những định nghĩa cho các thuật ngữ
thường dùng trong các hoạt động ĐBCL và trong nghiên cứu chuyên môn là rất
quan tr
ọng. Bài viết này nhằm thảo luận một số định nghĩa của các thuật ngữ
thường dùng trong lĩnh vực ĐBCL GDĐH như chất lượng, chuẩn mực, tiêu chí,
chỉ số thực hiện (CSTH), điểm chuẩn và chuẩn so sánh, đồng thời đề xuất một
số định nghĩa có thể dùng trong hoàn cảnh cụ thể ở Việt nam (VN).

TÌNH HÌNH CHUNG
Khi đọc những ấn phẩm công bố các kết quả nghiên cứu và các văn bản
thường dùng trong GD, nhất là trong các hệ thống ĐBCL GD ĐH ở các nước, có
thể dễ dàng nhận thấy các thuật ngữ đang được dùng phổ biến hiện nay được
hiểu không như nhau (Brennan, 1997). Thậm chí trong cùng một hệ thống GD
như ở Mỹ, một thuật ngữ có thể được giải thích theo những cách khác nhau ở
các tiể
u bang khác nhau. Người ta thường nói đến chất lượng (quality), chuẩn
mực hay tiêu chuẩn (standards), tiêu chí (criteria), chỉ số thực hiện (performance
indicators), và điểm chuẩn (benchmarks) với những quan niệm khác nhau, đôi

định nghĩa này thường trùng với các định nghĩa của nước ngoài. Nguyễn Đức
Chính (2000), có đưa ra định nghĩa về
chất lượng của GD VN như sau: “Chất
lượng GD ĐH được đánh giá qua mức độ trùng khớp với mục tiêu định sẵn”.
Định nghĩa này tương đồng với quan niệm về chất lượng của hầu hết các tổ chức
ĐBCL trên thế giới.

CHUẨN MỰC VÀ TIÊU CHÍ
Thế nào là chuẩn mực và tiêu chí
Khi nói đến việc đạt được một chuẩn mực, người ta thường ám chỉ
đến
chất lượng mà người ta mong muốn. Vì vậy, chất lượng và chuẩn mực thường đi 3
đôi với nhau. Trong ĐBCL, chuẩn mực thường được sử dụng khá khác nhau.
Trong đánh giá, chuẩn mực được hiểu là nguyên tắc đã được thống nhất giữa
những người trong cùng một lĩnh vực đánh giá để đo lường giá trị hoặc chất
luợng (Joint Committee on Standards for Educational Evaluation, 1981).
Trong kiểm định ở Mỹ, chuẩn mực được hiểu là mức độ yêu cầu nhất
định mà các trường ĐH ho
ặc chương trình đào tạo cần phải đáp ứng để được cơ
quan ĐBCL hoặc kiểm định công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định (CHEA, 2001).
Trong khi đó, tiêu chí lại được định nghĩa thông qua chuẩn mực. Theo CHEA
(2001), tiêu chí là chuẩn mực để kiểm định hoặc xác nhận một trường ĐH hoặc
một chương trình đào tạo đạt tiêu chuẩn kiểm định. Như vậy, CHEA đ
ã sử dụng
chuẩn mực và tiêu chí như những từ đồng nghĩa. Theo CHEA (2002), trong số
sáu hiệp hội kiểm định các trường ĐH ở sáu vùng của Mỹ thì năm hiệp hội dùng
thuật ngữ 'chuẩn mực' trong khi đó chỉ có một hiệp hội ở vùng Trung-Bắc

tiêu chí được sử dụng như những yêu cầu cụ thể hơn so với chuẩn mực. Vì vậy,
nhiều người vẫn quan niệm rằng tiêu chí nằm trong chuẩn mực hay mỗi chuẩn
mực có một hay nhiều tiêu chí.
Trong tiếng Việt, thuật ngữ standard th
ường được dùng là chuẩn mực,
nhưng trong từ điển Anh – Việt thì standard là 1. Tiêu chuẩn, chuẩn, mẫu; 2.
Mức độ phẩm chất đòi hỏi, mức độ phẩm chất mong đợi, mức độ phẩm chất
được chấp nhận; 3. Trình độ, mức; 4. Mức độ trung bình; 5. Mức cụ thể của
chuyên môn… Trong các văn bản qui phạm pháp luật, thuật ngữ “tiêu chuẩn”
được dùng thay cho các thuật ngữ “chuẩn m
ực”. Vì vậy, tác giả cho rằng, chúng
ta có thể dùng thuật ngữ “chuẩn mực” nhưng trong các văn bản qui phạm pháp
luật nên dùng thuật ngữ “tiêu chuẩn”.
Tại sao lại cần chuẩn mực
Chuẩn mực cầt thiết cho bất cứ nền GD nào, đặc biệt ở giai đoạn chuyển
từ GD ĐH tinh hoa sang GD ĐH đại chúng. Hiện nay, không chỉ ở VN mà còn ở
các nước có nền GD tiên tiến, chất lượ
ng và chuẩn mực nhiều lúc có xu hướng
suy giảm. Một số ý kiến cho rằng chất lượng GD ĐH có nguy cơ xuống dốc khi
chất lượng đầu vào (SV, cơ sở vật chất) bị suy giảm, khi các yêu cầu của khoá
học ở nhiều trường ĐH không đòi hỏi SV phải làm việc cật lực để đạt được
những kết quả tốt hơn, khi tiêu chuẩn tốt nghiệp ch
ưa đủ cao để thử thách SV
phải vượt qua. Để đáp ứng nhu cầu học tập đang có xu hướng gia tăng, nhiều
trường ĐH đã không ngần ngại hạ điểm chuẩn để tuyển được nhiều sinh viên và
hạ yêu cầu để có nhiều sinh viên tốt nghiệp. Vì vậy, việc đặt ra các chuẩn mực 5
và duy trì các chuẩn mực đó là hết sức cần thiết và quan trọng để ĐBCL đào tạo

phẩm hoặc dịch vụ
(Jackson, 2000).
Trong nhiều trường hợp, benchmark trở thành cái mốc để so sánh một vật 6
thể trong ba trạng thái: hơn, bằng, kém hay là một cái mốc để xác định vị trí của
vật thể khác trong không gian hay trong quan niệm của mọi người. Với quan
niệm đó thì điểm chuẩn trong từ điển Anh-Việt chỉ là cái mốc dùng trong GD
mà dưới cái mốc đó thì chưa đạt yêu cầu hay không được tuyển chọn. Ví dụ: kết
quả bài kiểm tra dưới 5 điểm thì gọi là chưa đạt yêu cầ
u; hay trong tuyển sinh
vào ĐH, ví dụ 13 điểm của 3 môn thi là điểm chuẩn để trúng tuyển ĐH. Vì vậy,
điểm chuẩn của môn học hay trong tuyển sinh trở thành chuẩn mực tối thiểu mà
sinh viên phải đạt được. Do đó, benchmark trong đánh giá môn học hay tuyển
sinh nên gọi là điểm chuẩn.
Trong ĐBCL, nhiều nước thiết lập một hệ thống benchmark đã đạt được
như nhữ
ng cái mốc chung để các cá nhân và đơn vị chưa đạt được sẽ phải có kế
hoạch phấn đấu để đạt được trong thời gian ngắn. Khi đó, benchmark được hiểu
như là chuẩn so sánh, sẽ có ý nghĩa tổng quát hơn và có nhiều ứng dụng trong
GD ĐH. Trên phương diện này, chuẩn so sánh sẽ khác với chuẩn mực.
Benchmark được gọi là điểm mốc, điểm chuẩn hay chuẩn so sánh nhưng
benchmarking lại là một khoa học mà chủ thể phải nghiên cứu, phân tích đơn vị
mình và các đơn vị đồng nghiệp rất kỹ, trên cơ sở đó xây dựng chiến lược thực
hiện và triển khai thực hiện nhằm đạt được các chuẩn đã được xác định.
Benchmarking được dùng lần đầu tiên trong nghiên cứu của Melton khi
giải nghĩa chuẩn mực như là cái mốc để sinh viên so sánh với năng lực và k
ết
quả mà họ đạt được " (student physician, 1957, cited in the New Oxford English

đúng mực, tính thiết thực, tính
khả thi và sự chính xác.
Một định nghĩa khác khá quan trọng về benchmarking là của Robert
Camp (1989) và Price (1994). Camp kết hợp quá trình tìm kiếm và áp dụng vào
thực tế những sáng kiến tốt nhất với việc đưa ra những lý do áp dụng chúng để
cải tiến quá trình làm việc nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Price thêm
vào định nghĩa của Capm bằng một quá trình ‘cởi mở và kết hợp đánh giá các
dịch v
ụ và các quá trình’ với mục tiêu ‘cạnh tranh hoặc cải tiến những những
biện pháp tốt nhất đang thực hiện’.
Ngoài ra, benchmarking còn được trình bày khá chi tiết trong cuốn sách
“Benchmarking trong GD ĐH” do Jackson và Lund (2000) biên soạn.

III. CÁC KIẾN NGHỊ
Nhằm tạo điều kiện cho việc thống nhất các định nghĩa và khái niệm dùng 8
trong ĐBCL GD ĐH và trong nghiên cứu khoa học GD tại VN, chúng tôi xin đề
xuất một số định nghĩa sau đây:
Chất lượng: là sự đáp ứng của sản phẩm đào tạo đối với các chuẩn mực
và tiêu chí đã được xác định.
Chuẩn mực: là khái niệm dùng để biểu thị những đặc tính, phẩm chất của
chất lượng mà chúng ta muốn đạt được. Trong GD, chuẩn mự
c là những đòi hỏi
mà một nền GD hay một trường học mong muốn người học phải đạt được khi
tốt nghiệp. Trong các văn bản qui phạm pháp luật, tiêu chuẩn được dùng thay
cho chuẩn mực.
Tiêu chí: là sự cụ thể hóa của chuẩm mực, chỉ ra những căn cứ để đánh
giá chất lượng. Tiêu chí có thể đo được thông qua các CSTH.

Lead to Superior Performance. Milwaukee: American Society for
Quality Control.
CHEA (2001). Glossary of key terms in quality assurance and accreditation.
International Quality Review. . Retrieved October 28, 2002 from the
World Wide Web:
CHEA (2002). Directories. Retrieved October 28, 2002 from the World Wide
Web: (please see each regional accrediting organisation)
Harvey, L. and Green, D. (1993). Defining quality. Assessment and Evaluation
in Higher Education 18 (1), 9-34.
Higher Learning Commission. (2002). Addendum to the Handbook of
Accreditation Second Edition. . Retrieved October 28, 2002 from the
World Wide Web:
/>March2002.pdf
Jackson, N. and Lund, H. (2000). Benchmaking for Higher Education.
Philadelphia: Open University.
Johnes, J. and Taylor, J. (1990). Performance Indicators in Higher Education.
Buckingham: The Society for Research into Higher Education.
Joint Committee on Standards for Educational Evaluation (1981). The Personnel
evaluation Standards. Newbury Park, CA:Sage.
Price, I. (1994). A plain person’s guide to benchmarking. Special Report of the
Unit for Facilities Management Research. Sheffield: Sheffield Hallam
University.
Nguyễn, Đức Chính. (2000). Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất
lượng đào tạo dùng cho các trường ĐH Việt nam. Paper presented in
the Conference of Quality Assurance in Training in Vietnam on April
4
th
in Da lat, Vietnam.
Reynolds, P. (1990). Is an external examiner system an adequate guarantee of
academic standards. In Loder, C. (Ed.) Quality assurance and


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status