VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIÊN TRIẾT HỌC
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MAI HOA
QUAN NIỆM VỀ TỰ DO
TRONG ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA I.KANT
Chuyên ngành
: Triết học
Mã số
: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn: GS.TS.Trần Văn Đoàn
Hà Nội - 2010
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
Chương 1: NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC CỦA KANT ........................ 7
những con vật không có nhân cách và đấu tranh sinh tồn theo quy luật của tự
nhiên. Xã hội loài người cũng không thể phát triển và trở nên văn minh như ngày
nay, nếu chỉ dựa vào những con người vô nhân cách như vậy. Chính vì thế, dù ở
thời đại nào, chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của đạo đức trong việc
giáo dục con người về mặt nhân cách cũng như trí tuệ, nhờ đó, con người có thể
đóng góp một phần công sức của mình vào việc xây dựng và phát triển xã hội.
Xã hội loài người càng văn minh, đạo đức càng khẳng định được vai trò của nó
trong việc giáo dục ấy, bởi đạo đức tạo ra những giá trị vĩnh hằng thúc đẩy con
người không ngừng vươn lên hoàn thiện nhân cách của bản thân cũng như toàn
xã hội. Như vậy, đạo đức chính là một trong những nhân tố quan trọng giúp con
người không ngừng trưởng thành về mặt nhân cách cũng như trí tuệ, đồng thời
tạo ra những tiền đề cơ bản để xây dựng một xã hội lành mạnh và nhân văn.
Nhận thức được vai trò cải biến con người và xã hội đó của đạo đức,
ngay từ rất sớm, các nhà văn, nhà thơ, nhà triết học, nhà thần học... đã bỏ ra
nhiều công sức tìm tòi, nghiên cứu và bàn luận về việc thiết lập những nguyên
tắc đạo đức có thể giúp ích cho cuộc sống của con người. Cụ thể, họ mong muốn
tìm ra những phương thức tích cực giúp cho con người yêu thương nhau giống
như yêu chính bản thân mình và cử xử với nhau cũng giống như cư xử với
chính bản thân mình. Bởi họ hiểu rằng, đó là cách thức tốt nhất có thể làm cho
xã hội loài người trở nên tốt đẹp và hoàn hảo giống như một thiên đường trên
trần thế.
Với tư cách là một triết gia sống trong thời kỳ xã hội loài người có nhiều
biến động, Kant đã dành trọn cuộc đời để suy tư và trăn trở về những vấn đề
đạo đức như vậy; ông viết: “Hai điều tràn ngập tâm tư với sự ngưỡng mộ và
kính sợ luôn luôn mới mẻ và gia tăng mỗi khi nghĩ đến, đó là: bầu trời đầy sao
trên đầu tôi và quy luật luân lý ở trong tôi” [7, tr. 278]. Chính vì thế, ông đã cố
công xây dựng một học thuyết đạo đức chặt chẽ và khoa học với mục đích
hướng dẫn hành vi của con người vươn tới điều thiện (“sự-Thiện tối cao”). Ông
như, con người và tương lai của loài người, “tự do”, “quy luật đạo đức”, “đức
tin”… Tương tự, trong Triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII-XIX - triết học Imanuin
Cantơ của Nguyễn Văn Huyên, do nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm
1996, tác giả cũng đề cập một cách trực diện đến những khái niệm quan trọng
trong đạo đức học của Kant như, “mệnh lệnh tuyệt đối”, “tự do”. Còn, trong
Triết học cổ điển Đức: những vấn đề nhận thức luận và đạo đức học của trường
đại học Khoa xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà nội, do nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia phát hành năm 2005, các học giả cũng không bỏ qua cơ hội để
cùng nhau bàn luận về các chủ đề chính yếu trong đạo đức học của Kant; chẳng
hạn như, “bổn phận”, “trách nhiệm”, “nghĩa vụ”, “mệnh lệnh tuyệt đối”, “tự do”,
“ý chí tự do”, “mục đích tự thân”, những nguyên tắc đạo đức, “hạnh phúc”,
“đức tin”, ý nghĩa của học thuyết đạo đức của Kant… Tuy nhiên, theo chúng tôi,
những công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở chỗ luận giải một cách tản
mạn về một số vấn đề trong đạo đức học của Kant, chứ chưa phải là sự trình
bày chặt chẽ, đầy đủ và có hệ thống; đặc biệt, các học giả chưa khai thác triệt để
“tự do” vốn là khái niệm trọng tâm trong học thuyết đạo đức của ông, để từ đó
làm rõ hơn nữa giá trị nhân văn mà học thuyết này mang lại cho xã hội loài người
nói chung và cá nhân nói riêng. Riêng cuốn Triết học Kant của Trần Thái Đỉnh, do
nhà xuất bản Văn hóa thông tin tái bản lần thứ ba năm 2005, tác giả đã trình bày
khá đầy đủ và hệ thống về đạo đức học của Kant. Tác giả cũng đã dành phần lớn
công sức của mình để luận giải về “tự do”. Song, ở đây, tác giả mới chỉ luận
giải về mối quan hệ của “tự do” và “quy luật đạo đức”, “tự do” và “sự tự chủ”,
“tự do” và đối tượng của đạo đức học (“sự Thiện hoàn hảo”), chứ chưa đi sâu
phân tích nội hàm khái niệm “tự do” cũng như nguồn gốc ra đời của khái niệm
này trong đạo đức học của Kant.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của học giả Việt Nam đã đề cập
và luận giải được những vấn đề trọng tâm trong đạo đức học của Kant. Tuy
nhiên, chúng tôi thấy rằng, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn đã góp phần vào việc hệ thống hóa những luận giải của Kant về
những nguyên tắc đạo đức và “tự do”.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên
cứu về triết học cũng như đạo đức học của Kant.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
nội dung gồm 2 chương và 5 tiết.
Chương 1
NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC CỦA KANT
1.1. Lý tính và những nguyên tắc đạo đức
1.1.1. Lý tính trong đạo đức học của Kant
Trong lĩnh vực đạo đức, Kant là người kiên quyết phản đối chủ nghĩa duy
nghiệm, bởi ông cho rằng, việc xây dựng những nguyên tắc đạo đức mà dựa vào
những yếu tố cảm tính (thiện - ác, sướng - khổ, tốt -xấu, hạnh phúc…) sẽ dẫn
con người đến những điều ảo tưởng và tội lỗi, thậm chí không thể phân biệt
giữa đạo đức và sự vô đạo đức. Ông viết: “Thuyết duy nghiệm cắt đứt tận gốc
tính luân lý của những ý đồ (chính trong những ý đồ chứ không phải chỉ trong
những hành vi mới chứa đựng giá trị cao cả mà con người có thể và cần phải
mang lại cho chính mình), và thay thế nghĩa vụ bằng cái gì hoàn toàn khác, đó là
một lợi ích thường nghiệm được những xu hướng nói chung kín đáo theo đuổi;
và thuyết duy nghiệm, do liên mình với mọi loại xu hướng (bất kể theo kiểu biểu
hiện nào), hạ thấp tính người khi những xu hướng ấy được nâng lên thành
phẩm giá của một nguyên tắc thực hành tối thượng; và vì lẽ những xu hướng dễ
Còn, lý tính thực hành có nhiệm vụ thiết lập những nguyên tắc đạo đức (những
nguyên tắc thực hành) từ những châm ngôn của ý chí không phải với mục đích
nhận thức các sự vật cảm tính, mà để “quy định” ý chí của con người. Ông viết:
“Lý tính thuần túy là thực hành do tự nơi chính mình và mang lại (cho con
người) một quy luật phổ biến được ta gọi là quy luật luân lý” [7, tr. 58]. Do đó,
lý tính thực hành không làm việc với những dữ liệu cảm tính về sự vật, mà chỉ
làm việc với những châm ngôn của ý chí. Ông viết: “Lý tính - vốn không thể bị
đồi bại và có tính tự chế - lúc nào cũng đối chiếu châm ngôn của ý chí với ý chí
thuần túy trong bất kỳ hành vi nào, nghĩa là với chính mình, bằng cách xem
chính mình như là có tính thực hành một cách tiên nghiệm” [7, tr. 58]. Như vậy,
trong quan niệm của Kant, lý tính thực hành là lý tính hoạt động trong lĩnh vực
đạo đức (lĩnh vực thực hành) có khả năng thiết lập những nguyên tắc đạo đức
quy định ý chí của con người. Ông viết: “… lý tính thuần túy có thể là thực hành,
nghĩa là, có thể trực tiếp quy định ý chí mà thôi” [7, tr. 77].
Vậy, tại sao những nguyên tắc đạo đức mà lý tính thực hành thiết tạo lại
được Kant coi là cơ sở quy định ý chí của con người?
Trong các tác phẩm đạo đức học của mình, Kant đã luận giải rất rõ về
vấn đề này. Ông cho rằng, trong quá trình thiết lập những nguyên tắc đạo đức, lý
tính thực hành đã tiến hành loại bỏ toàn bộ những gì liên quan đến kinh nghiệm
ra khỏi những nguyên tắc này và chỉ giữ lại hình thức thuần túy của chúng. Vì
thế, những nguyên tắc này có được tính chất tiên nghiệm và vô điều kiện làm cơ
sở quy định ý chí trước sự chi phối của những “ham thích sinh lý” và động cơ
cảm tính bên ngoài. Kant tin rằng, những nguyên tắc hiển nhiên và chắc chắn
như vậy sẽ buộc ý chí con người phải tuân theo mệnh lệnh của lý tính, nhờ đó,
con người có thể làm chủ hành vi của chính mình trong mọi tình huống của cuộc
sống. Ông viết: “lý tính thuần túy có thể là thực hành, nghĩa là, có thể tự mình
quy định ý chí một cách độc lập với cái gì thường nghiệm - và chứng minh điều
này bằng một Sự kiện (Faktum), trong đó lý tính thuần túy nơi ta tự thể hiện
khả năng thiết lập một “thế giới siêu cảm tính” (“thế giới trí tuệ”) trong lòng
thế giới cảm tính (“thế giới tự nhiên”). Ông viết: “Quy luật luân lý” “…mang lại
cho thế giới của giác quan - vốn là một hệ thống về tự nhiên - hình thức của một
thế giới của giác tính, tức là của một hệ thống siêu-cảm tính về tự nhiên mà
không hề vi phạm đến cơ chế [máy móc] của thế giới cảm tính” [7, tr. 73]. Theo
ông, đó là thế giới thuần túy của lý tính và những nguyên tắc đạo đức mà nó
thiết lập, độc lập hoàn toàn với những động cơ hay quy luật của thế giới cảm
tính. Mặc dù vậy, “thế giới siêu cảm tính” vẫn được coi là cơ sở (nguyên nhân)
quy định sự tồn tại của mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới cảm tính. Chính
vì thế, Kant gọi “thế giới siêu cảm tính” là “thế giới nguyên mẫu”, còn thế giới
cảm tính là “thế giới bản sao”. Đến đây, chúng ta thấy rằng, lý tính thực hành
hoàn toàn không quan tâm đến việc mô tả thuộc tính của các sự vật để nhận thức
về chúng, mà chỉ chuyên tâm vào việc tìm kiếm cơ sở tận cùng (nguồn gốc
nguyên thủy) của các sự vật đó. Ông viết: Lý tính thực hành “không đòi hỏi phải
giải thích làm sao những đối tượng của quan năng ham muốn lại có thể có
được” [7, tr. 76], mà “làm sao nó có thể là một cơ sở quy định trực tiếp của ý chí,
tức là, của tính nhân quả của hữu thể có lý tính về phương diện tính hiện thực
của những đối tượng” [7, tr. 75]. Theo đó, cũng có thể nói rằng, lý tính thực hành
có khả năng dẫn dắt con người nhận thức về “những cái thực chất đứng đằng
sau các sự vật”, tức là xâm nhập vào lĩnh vực “vật tự thân”. Đó là điều mà lý tính
tư biện dù có nỗ lực cũng không thể làm được.
Hơn thế, Kant cho rằng, lý tính thực hành nhờ vào những nguyên tắc đạo
đức còn có thể dẫn dắt con người đi tới nhận thức về những “ý niệm siêu
nghiệm” - “sự Thiện-tối cao”, “sự tự do”, “sự bất tử của linh hồn” và “Thượng
đế”. Theo ông, đó là đặc quyền của lý tính thực hành; bởi lẽ, lý tính tư biện chỉ
dựa vào những yếu tố kinh nghiệm không thể giúp con người nhận thức trọn vẹn
về các đối tượng cảm tính, đặc biệt là về những ý niệm tối cao như vậy. Ông
viết: “… mọi nguyên tắc của lý tính thuần túy tư biện ấy chỉ có giá trị để làm cho
219]. Mặc dù, Kant thừa nhận sự khác nhau trong mục đích sử dụng lý trí,
nhưng ông vẫn không ngừng khẳng định sự thống nhất của lý tính. Điều đó giải
thích vì sao ông cho rằng, lý tính tư biện dù không có đủ luận cứ để chứng minh
cho những gì thuộc về lĩnh vực đạo đức, nhưng nó vẫn phải chấp nhận những
cái đó như một phần của lý tính. Ông viết: “Nó phải chấp nhận chúng, dù đó là
cái gì được mang lại cho nó từ một suối nguồn xa lạ, là cái gì không mọc lên từ
chính mảnh đất của nó, nhưng vẫn được chứng thực đầy đủ, và nó phải ra sức
so sánh và nối kết chúng với tất cả những gì nó có trong năng lực của mình với
tư cách là lý tính tư biện” [7, tr. 219]. Khi luận giải về sự thống nhất này, Kant
cũng đồng thời chỉ ra rằng, lý tính thực hành tất yếu phải trở thành cơ sở quy
định của lý tính tư biện, nếu không như vậy, tự bản thân lý tính sẽ nảy sinh sự
xung đột, bởi lẽ, “…mọi sự quan tâm kỳ cùng đều có tính thực hành, và ngay bản
thân sự quan tâm của lý tính tư biện cũng là có-điều kiện và chỉ hoàn chỉnh ở
trong sự sử dụng thực hành” [7, tr. 219]. Như vậy, trong quan niệm của Kant có
sự khác biệt về lĩnh vực vận dụng lý tính - “lĩnh vực lý thuyết” và “lĩnh vực thực
hành”; do đó, chúng ta phải làm rõ khái niệm “lý tính” ở từng lĩnh vực để tránh
việc hiểu sai về Kant cũng như đạo đức học của ông.
Tóm lại, chúng ta có thể hiểu về lý tính thực hành của Kant như sau: Thứ
nhất, lý tính thực hành là lý tính hoạt động trong lĩnh vực đạo đức (lĩnh vực
thực hành) có khả năng thiết tạo những nguyên tắc đạo đức có tính chất tiên
nghiệm và vô điều kiện làm cơ sở quy định ý chí của con người. Thứ hai, lý tính
thực hành nhờ vào những nguyên tắc đạo đức có khả năng thiết tạo “thế giới
siêu cảm tính” quy định toàn bộ thế giới cảm tính của con người. Hay, có thể nói
rằng, lý tính thực hành thông qua những nguyên tắc đạo đức có khả năng dẫn
dắt con người đi tìm nguồn gốc (nguyên nhân) của các sự vật cảm tính, tức là
xâm nhập vào lĩnh vực “vật tự thân”. Thứ ba, lý tính thực hành nhờ vào những
nguyên tắc đạo đức có khả năng tiếp cận với thế giới những “ý niệm siêu việt” “sự Thiện-tối cao”, “sự tự do”, “sự bất tử của linh hồn” và “Thượng đế”. Thứ tư,
lý tính thực hành và lý tính tư biện không phải là hai loại lý tính khác nhau, mà
sau: Lý tính sử dụng những châm ngôn của ý chí, sau đó, tiến hành loại bỏ
những yếu tố thường nghiệm ra khỏi những châm ngôn ấy, cuối cùng, giữ lại
duy nhất hình thức của chúng. Kant gọi hình thức của những châm ngôn là “hình
thức ban bố quy luật” hay “nguyên tắc tiên nghiệm”, nguyên tắc đạo đức. Trên
cơ sở đó, ông đưa ra công thức: “Hãy hành động sao cho châm ngôn của ý chí
của bạn lúc nào cũng đồng thời có thể có giá trị như là nguyên tắc của một sự ban
bố quy luật phổ biến” [7, tr. 56]. Trong các tác phẩm đạo đức học, Kant đã diễn
giải về quá trình này dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng tựu chung lại, đó
là quá trình mà lý tính sử dụng những yếu tố thuần túy tiên nghiệm của nó để
tạo ra những nguyên tắc làm cơ sở (nguyên nhân) quy định ý chí con người. Nói
cách khác, lý tính lấy chính bản thân nó làm cơ sở quy định ý chí con người.
Ông viết: “Nếu giả định rằng lý tính thuần túy chứa đựng trong bản thân nó một
cơ sở hay một nguyên cớ (Grund) thực hành, nghĩa là một cơ sở thích hợp đủ để
quy định ý chí, thì ắt có các quy luật thực hành” [7, tr. 39].
Khi nói về quá trình thiết lập những nguyên tắc đạo đức của lý tính, Kant
cũng đồng thời phân biệt những nguyên tắc này với những nguyên tắc thông
thường. Đối với ông, các nguyên tắc thông thường “chỉ có giá trị đối với ý chí
riêng của chủ thể” [7, tr. 39], đó là những châm ngôn chủ quan của từng chủ thể;
trái lại, các nguyên tắc đạo đức không chỉ có giá trị đối với ý chí của từng chủ
thể mà còn “có giá trị đối với ý chí của bất kỳ hữu thể nào có lý tính” [7, tr. 39],
đó là “các mệnh đề bao hàm một sự quy định quy định phổ biến đối với ý chí”
[7, tr. 39]. Như vậy, trong quan niệm của Kant, các nguyên tắc đạo đức là sản
phẩm thuần túy của lý tính và có giá trị phổ biến đối với mọi chủ thể.
Kant không chỉ giúp chúng ta phân biệt những nguyên tắc đạo đức với
những nguyên tắc thông thường, mà ông còn luận giải về tính chất của những
nguyên tắc này.
Theo ông, trước hết, các nguyên tắc đạo đức phải có tính phổ biến. Điều
này có nghĩa rằng, các nguyên tắc đạo đức phải trở thành cơ sở quy định ý chí
Bên cạnh tính phổ biến, Kant còn nói tới “tính thực tại khách quan” của
những nguyên tắc đạo đức. Theo ông, những nguyên tắc đạo đức là những
nguyên tắc “hiển nhiên” của lý tính thực hành, sự tồn tại của bản thân những
nguyên tắc này chính là bằng chứng biện minh cho “tính thực tại khách quan”
của chúng, ngoài ra chúng không cần đến bất kỳ một bằng chứng nào khác từ các
yếu tố kinh nghiệm có thể trực quan được. Ông viết: “…tính thực tại khách quan
của quy luật luân lý không thể nào chứng minh được bằng bất kỳ sự diễn dịch
nào từ những nỗ lực của lý tính lý thuyết, dù là tư biện hay được hỗ trợ bằng
kinh nghiệm; và, thậm chí nếu ta khước từ tính chắc chắn hiển nhiên của nó, nó
vẫn không thể được chứng minh một cách hậu nghiệm bằng kinh nghiệm; tuy
thế, nó vẫn được xác lập một cách vững chắc tự bản thân mình” [7, tr. 78]. Hơn
nữa, việc những nguyên tắc này trực tiếp quy định ý chí và hành vi của con
người cũng đã chứng minh một cách rõ ràng cho “tính thực tại khách quan” của
chúng. Như vậy, với Kant, những nguyên tắc đạo đức mặc dù là sản phẩm thuần
tuý của lý tính thực hành, tồn tại bên trong con người, nhưng chúng vẫn có được
“tính thực tại khách quan”. Theo đó, chúng ta có thể nói rằng, sự quy định của
những nguyên tắc đạo đức đối với ý chí và hành vi của con người là sự quy định
có tính hiện thực, chứ không phải là ảo tưởng. Đó cũng chính là lý do vì sao
Kant lại gọi lĩnh vực đạo đức là lĩnh vực thực hành của lý tính và những nguyên
tắc tiên nghiệm của nó.
Với Kant, những nguyên tắc đạo đức không chỉ có tính khách quan và phổ
biến, mà nhất thiết chúng còn phải có tính vô điều kiện. Ông hiểu tính vô điều
kiện có nghĩa là tính chất độc lập hoàn toàn của những nguyên tắc đạo đức với
những động cơ thường nghiệm, dù đó là động cơ chủ quan hay khách quan. Lúc
đó, các nguyên tắc này chỉ còn lại duy nhất hình thức thuần túy của chúng, không
chứa đựng bất kỳ nội dung thường nghiệm nào. Bởi, theo ông, “mọi nguyên tắc
thực hành tiền-giả định một đối tượng (chất liệu) của quan năng ham muốn như
là cơ sở quy định cho ý chí thì đều có tính chất thường nghiệm và không thể
ý muốn nói rằng, những nguyên tắc đạo đức hướng dẫn con người hành động
không có mục đích hay không có phương hướng, bởi điều này là hoàn toàn vô lý
đối với những "hữu thể có lý tính". Trái lại, theo ông, đó là những nguyên tắc có
“mục đích tự thân”. Ông viết: “…nếu có một nguyên tắc thực hành tối cao liên
quan tới ý chí của con người, một mệnh lệnh tuyệt đối, thì nguyên tắc đó phải
xuất phát từ sự hiện diện của mục đích tự thân, đó sẽ là một nguyên tắc khách
quan của ý chí và có thể được sử dụng như một quy luật thực hành phổ quát. Cơ
sở của nguyên tắc này là: bản thân lý tính tồn tại như một mục đích tự thân” [7,
tr. 79]. Ở đây, ông hiểu “mục đích tự thân” có nghĩa là bản thân mỗi nguyên tắc
đạo đức đóng vai trò là mục đích của chính nó, do đó, nó không cần đến mục
đích ngoại tại nào khác. Như vậy, trong quan niệm của Kant, những nguyên tắc
đạo đức là những nguyên tắc vô mục đích theo nghĩa thường nghiệm; còn theo
nghĩa thực hành, đó là những nguyên tắc có “mục đích tự thân”.
Những nguyên tắc đạo đức của Kant không chỉ có những tính chất trên,
mà còn biểu tả “nghĩa vụ” (“cái phải là”) của con người. Điều này có nghĩa rằng,
những nguyên tắc đạo đức phải trở thành những nguyên tắc phổ quát có thể giúp
con người nhận thức được những việc mà bản thân nhất thiết phải thực hiện
trong mọi trường hợp. Ông viết: “…khi tôi nghĩ về mệnh lệnh giả thiết nói chung,
tôi không biết trước được nó sẽ bao gồm những gì. Nhưng, khi tôi nghĩ về một
mệnh lệnh tuyệt đối thì ngay lập tức tôi biết nó bao gồm những gì” [7, tr. 73].
Nói cách khác, đó phải là những nguyên tắc có thể đưa ra mệnh lệnh hay chỉ thị
cưỡng chế hành vi của con người trong mọi tình huống. Ông viết: những nguyên
tắc đạo đức chính là “quy luật của nghĩa vụ, của sự cưỡng chế luân lý, và của sự
quy định những hành vi bằng sự tôn kính đối với quy luật này và từ lòng kính sợ
đối với nghĩa vụ của mình” [7, tr. 153]. Vì thế, nghĩa vụ được Kant hiểu là sự
phục tùng một cách tuyệt đối mệnh lệnh của những nguyên tắc đạo đức. Hơn
thế, nghĩa vụ còn là sự tôn kính đối với những nguyên tắc này. Rõ ràng, trong
học thuyết của Kant, nghĩa vụ (“cái phải là”) không phải là cái gì xa lạ, mà chính
là “cái luân lý” luôn hiện hữu bên trong con người. Nhờ đó, chúng ta có thể hiểu
vì sao nghĩa vụ lại được ông xem như là thước đo “nhân cách của con người”.
rằng, ngoài những ham muốn sinh lý vốn thuộc về bản năng tự nhiên của con
người, bản thân ý chí cũng luôn chứa đựng khát vọng vượt ra khỏi những ham
muốn tầm thường đó để vươn tới những giá trị đạo đức tối cao. Song, theo Kant,
ý chí của con người thường có xu hướng chiều theo những "ham thích sinh lý"
hơn là việc nỗ lực vươn tới những giá trị luân lý tối cao. Vì thế, ngay từ đầu,
ông đã phê phán ý chí mà chịu ảnh hưởng từ những "ham thích sinh lý" đó. Bởi,
với ông, "ham thích sinh lý" chỉ là những cái “quấy nhiễu những người có suy
nghĩ đúng đắn, làm rối loạn những câu châm ngôn chín chắn của họ và tác động
đến nguyện vọng của họ là muốn thoát ly khỏi xu hướng để chỉ phục tùng lý tính
ban bố quy luật” [7, tr. 215], chúng biến châm ngôn của ý chí thành những
nguyên tắc chủ quan nhằm thoả mãn ý thích cá nhân, chứ không phải là những
nguyên tắc có giá trị đạo đức phổ quát. Mặc dù vậy, ông chủ trương tán thành
cho ý chí mà có khả năng giới hạn bản thân khỏi sự cám dỗ từ những “ham
thích sinh lý”, tức ý chí được quy định bởi lý tính. Ông quan niệm, ý chí như
vậy “mới thực sự là một quan năng ham muốn cao cấp mà quan năng ham muốn
hạ cấp - có thể bị quy định một cách sinh lý (pathologisch) - phải phục tùng” [7, tr.
47]. Chính vì Kant nhận thức được rằng, ý chí là sự biểu hiện của “quan năng
ham muốn” của con người nên ông đã lựa chọn lý tính - một yếu tố hoàn toàn
khác biệt với “quan năng ham muốn” đó, làm cơ sở quy định ý chí. Hơn nữa,
ông cũng nhận thấy, lý tính là yếu tố duy nhất có khả năng thiết lập những
nguyên tắc tiên nghiệm và vô điều kiện trực tiếp ra lệnh cho ý chí, ngoài ra
không một yếu tố nào khác có đủ năng lực để thực hiện công việc đặc biệt đó.
Trong các tác phẩm đạo đức học, Kant đều khẳng định rằng, lý tính và những
nguyên tắc đạo đức là cơ sở quy định duy nhất của ý chí. Ông viết: “… cơ sở
quy định cho ý chí một cách tiên nghiệm (và điều này không bao giờ có thể được
tìm thấy ở đâu ngoài ở trong một quy luật thực hành thuần túy, trong chừng mực
quy luật này đề ra Hình thức quy luật đơn thuần cho những châm ngôn, không cần
xét đến một đối tượng nào cả )” [7, tr. 115]. Điều này cho thấy, Kant là người luôn
lẻ) đi đến thiết lập những điều lệnh thực hành (những điều lệnh có giá trị đối
với một số chủ thể nhất định nào đó); sau đó, ý chí dựa vào những nguyên tắc
tiên nghiệm của lý tính để loại bỏ những yếu tố chủ quan và cảm tính ra khỏi
những điều lệnh đó; cuối cùng, ý chí có được hình thức thuần túy của những
quy luật, đó là những nguyên tắc thực hành có giá trị phổ quát đối với mọi chủ
thể tồn tại trong thế giới cảm tính này. Ông viết: “Ta biết những gì ta phải bắt
đầu trong việc nghiên cứu về lĩnh vực thực hành, đó là, từ “những châm ngôn”
được mọi người đặt nền tảng trên những xu hướng riêng của mình, tiến tới
“những điều lệnh” có giá trị hiệu lực cho một loại nhất định những hữu thể có lý
tính trong chừng mực họ nhất trí trong những xu hướng nhất định; và sau cùng,
là “quy luật” có giá trị cho mọi người bất kể những xu hướng của họv.v.. ” [7, tr.
120]. Nói cách khác, đây chính là quá trình mà ý chí sử dụng những nguyên tắc
đạo đức vào việc làm cho những châm ngôn chủ quan của nó trở nên phù hợp
với những nguyên tắc này. Theo đó, chúng ta thấy rằng, "sự tự trị của ý chí"
chính là hạt nhân của quá trình thiết lập này. Kant viết: “sự tự trị của ý chí là
nguyên tắc duy nhất của mọi quy luật luân lý và của mọi nghĩa vụ phù hợp với
chúng” [7, tr. 60]. Như vậy, với Kant, nếu không có "sự tự trị của ý chí" thì