Mệnh lệnh tuyệt đối trong đạo đức học của Cantơ - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ THỊ THU LAN
MỆNH LỆNH TUYỆT ĐỐI TRONG
ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA CANTƠ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Mã số: 5 01 01
Người hướng dẫn: TS. ĐỖ MINH HỢP

HÀ NỘI - 2004
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Chương 2 48
VẤN ĐỀ TỰ DO ĐẠO ĐỨC VÀ CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC 48
TRONG HỌC THUYẾT MỆNH LỆNH TUYỆT ĐỐI 48
2.1. Vấn đề tự do đạo đức trong ''mệnh lệnh tuyệt đối''. 48
2.2. Các giá trị đạo đức trong mệnh lệnh tuyệt đối. 62
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Loài người luôn có khát vọng hướng tới những giá trị nhân văn cao đẹp.
Những giá trị đó phải mang tính chất chung nhân loại, phải hướng tới Chân-Thiện-
Mỹ (cái Vĩnh hằng). Đó vừa là điều kiện cần thiết, vừa là mục đích tối cao của sự
phát triển trong bối cảnh loài người đã bước vào thiên niên kỷ thứ ba với nhiều
biến động khó lường và dữ dội. Hơn lúc nào hết, con người càng phải đề cao và tôn
vinh những giá trị chung đó, hướng tới hòa bình, hợp tác, chuyển từ đối đầu sang
đối thoại trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh giữa các quốc gia, giữa các dân
tộc, cùng chung sức giải quyết những vấn đề toàn cầu cấp bách. Những ý tưởng đó
đã được nhiều nhà tư tưởng lớn, nhiều triết gia lỗi lạc đề cập đến. Tuy nhiên, người
quan tâm đặc biệt đến những giá trị chung đó chính là I.Cantơ- người sáng lập nền
triết học cổ điển Đức, một nền triết học có ảnh hưởng to lớn đến lịch sử văn hóa

thế giới tinh thần, ước mơ, khát vọng vươn tới sự hoàn thiện, tới tương lai. Vấn đề
này bao hàm cả khía cạnh lý luận lẫn khía cạnh thực tiễn, được nghiên cứu trong
mỹ học Cantơ (trong ''Phê phán năng lực phán đoán'').
Có thể nói, toàn bộ triết học Cantơ mang đậm tinh thần nhân văn với mục
đích đem lại cho con người một cách nhìn mới về thế giới và về chính bản thân
mình. Đặc biệt, tính chất nhân văn của triết học Cantơ biểu hiện rất rõ và hết sức
độc đáo trong học thuyết đạo đức của ông. Ở đó, bản chất đạo đức và khát vọng
vươn tới đạo đức của con người được khẳng định như là một giá trị cao cả nhất của
loài người. Ông đã chứng minh rằng, ''trong con người dù có thiện, có ác, đường
đi của xã hội loài người là khúc khuỷu thăng trầm, nhưng, về thực chất, từ trong
thâm tâm của mình, con người bao giờ cũng tìm cách vận động theo hướng phát
huy mọi sức mạnh vốn có hết sức phong phú của mình, vươn tới sự phát triển tối
đa và hoàn thiện''[1, tr. 43]
(*).
.
Những tư tưởng đó của Cantơ mang tính vạch thời đại và vượt thời đại,
hướng tới những giá trị mà toàn nhân loại khao khát, nuôi dưỡng và coi là mục
đích của mình. Vì vậy, nghiên cứu tiếp tục triết học Cantơ nói chung và đạo đức
học của ông nói riêng là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đặc biệt
trong bối cảnh hiện nay.
Khi tìm hiểu và nghiên cứu đạo đức học Cantơ, cần phải làm sáng tỏ hạt
nhân cơ bản của nó, tức học thuyết ''mệnh lệnh tuyệt đối'', nguyên lý đạo đức đóng
vai trò là nền tảng của đạo đức học của Cantơ. Học thuyết ''mệnh lệnh tuyệt đối''
của Cantơ đã đem lại cho đạo đức học Cantơ một giá trị to lớn vì nó hình thành
nguyên tắc về phẩm giá tuyệt đối của cá nhân, đề cao giá trị của con người và của
cả loài người, xác lập địa vị tự chủ như là giá trị đạo đức của loài người, coi con
người là mục đích của đạo đức, từ đó đề cao sự tự do của cá nhân, góp phần thức
tỉnh sự tự ý thức của con người. Mệnh lệnh tuyệt đối của Cantơ nổi bật lên như
một điểm tựa, kêu gọi lương tâm nhân loại, không phân biệt giai cấp, dân tộc,
chủng tộc,v.v hãy hướng tới những giá trị chung của loài người, và hãy xứng với

Liên xô trước đây, có rất nhiều những công trình nghiên cứu đạo đức học Cantơ.
Nhìn chung, cách tiếp cận của các tác giả Xô Viết là, bên cạnh việc lý giải học
thuyết đạo đức của Cantơ, tìm ra những giá trị của học thuyết đó, họ thường đi sâu
vào đánh giá, phê phán tính chất duy tâm, tiên nghiệm, chủ nghĩa hình thức và
những mâu thuẫn trong đạo đức học Cantơ.
Ngay từ những năm 20-40 của thế kỷ XX, đã xuất hiện nhiều công trình
nghiên cứu của một số nhà triết học Xôviết như: P. Vinagrátxkaia với công trình:''
Đạo đức học I. Cantơ nhìn từ quan điểm duy vật lịch sử''; A.L. Khaikin với tác
phẩm:'' Những quan điểm đạo đức của I.Cantơ trong những năm 60-70 của thế kỷ
XVIII'' đã đưa ra cái nhìn mang tính chất phê phán đối với đạo đức học Cantơ.
Còn vào thập niên 60 của thế kỷ XX , xuất hiện một loạt công trình của các tác giả
như V.N.Batin với '' Phạm trù hạnh phúc trong đạo đức học Cantơ'';
V.P.Skôrinnốp với '' Vấn đề bổn phận trong đạo đức học của các nhà triết học duy
tâm Đức''. Những tác giả này đã nghiên cứu sâu một số phạm trù cơ bản của đạo
đức học Cantơ và của các nhà triết học duy tâm Đức chủ yếu là theo cách tiếp cận
phê phán theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Việc nghiên cứu triết học thực tiễn của Cantơ đạt tới đỉnh cao mới thông qua
các công trình nghiên cứu của V.Ph.Axmux,của O.G. Đrốpnhixki, của E. Xalavốp,
của Guxâynốp, Bài viết của V.Ph. Axmux: ''Đạo đức học Cantơ'' làm tựa đề cho
phần triết học thực tiễn (trong tác phẩm I.Cantơ 6 tập - tập 4) đã đề cập đến kết cấu
lôgíc và nội dung cơ bản của hệ thống đạo đức học Cantơ từ góc độ nhận thức triết
học- lịch sử. Trong các tác phẩm của O.G. Đrốpnhixki, mà trước hết là trong tập
chuyên khảo của ông với tên gọi:''Khái niệm đạo đức'' (xuất bản Mátxcơva năm
1974) đã làm rõ những đóng góp của Cantơ trong việc giải quyết vấn đề đặc điểm
của đạo đức, trong việc luận giải cho tính đặc thù của những cơ chế điều chỉnh đạo
đức, đồng thời làm rõ ý nghĩa khoa học của việc Cantơ phê phán thuyết duy hạnh
phúc và chủ nghĩa tự nhiên trong đạo đức học nói chung. Trong một số bài viết của
mình như: ''Triết học I. Cantơ và tính thời đại'', '' Khoa học và đạo đức'' E.
Xalavốp đã xem xét mối quan hệ giữa lý tính lý luận và lý tính thực tiễn, mối quan
hệ giữa quan điểm đạo đức và quan điểm nhà nước pháp quyền trong triết học

Để đạt được mục đích trên, luận văn giải quyết những nhiệm vụ sau:
+ Khái quát hệ thống phạm trù đạo đức học Cantơ và cấu trúc lôgíc của
''mệnh lệnh tuyệt đối''.
+Làm rõ tư tưởng ''tự do đạo đức'' và ''những giá trị đạo đức'' trong học
thuyết ''mệnh lệnh tuyệt đối''.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu một số tác phẩm của I.Cantơ
bàn về lĩnh vực đạo đức, đồng thời kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên
cứu về vấn đề này của các tác giả đi trước.
Luận văn dựa trên nền tảng lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin
về lịch sử triết học, về đạo đức. Phương pháp nghiên cứu mà chúng tôi sử dụng là
phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học của chủ nghĩa Mác, cụ thể là: phương
pháp lôgíc kết hợp với phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp so sánh,v.v
5. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần vào việc trình bày một cách rõ ràng và có hệ thống vấn
đề ''mệnh lệnh tuyệt đối'' trong đạo đức học Cantơ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn góp phần vào việc tìm hiểu và làm sáng tỏ học
thuyết đạo đức của Cantơ
Về mặt thực tiễn, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho
công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học và đạo đức học Cantơ.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao
gồm hai chương, bốn tiết.
Chương 1
MỆNH LỆNH TUYỆT ĐỐI
TRONG HỆ THỐNG CÁC PHẠM TRÙ CƠ BẢN
CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC I.CANTƠ
1.1. Khái quát chung những phạm trù cơ bản của đạo đức học I.Cantơ.

đức tối cao này là giải thích đạo đức, nên các phạm trù lý giải nội dung của nguyên
tắc này cũng đồng thời là những bậc thang trong việc xác định khái niệm về đạo
đức. Nhờ có chúng mà toàn bộ các quan niệm về đạo đức sẽ mang tính lôgíc và có
trình tự, vì vậy có thể coi những phạm trù mà I.Cantơ sử dụng là các giai đoạn vận
động từ khách thể của học thuyết đạo đức đến đối tượng của nó.
Khách thể của học thuyết đạo đức Cantơ chính là luân lý (đạo lý) của con
người. Tuy nhiên, điều đó vẫn chưa chỉ ra được tính chất đặc thù của cách tiếp cận
Cantơ với luân lý. Tính đặc thù đó được sinh ra từ những đặc điểm của phương
pháp Cantơ: phương pháp tiên nghiệm (biến ý thức thành đối tượng cơ bản và về
thực chất là duy nhất của sự phân tích triết học; coi các hình thức và cấu trúc của ý
thức là có ý nghĩa phổ biến và tất yếu). Việc áp dụng phương pháp này giả định
trước hết phải chuyển trọng tâm từ chức năng hành động của đạo đức sang những
điều kiện để có đạo đức, và theo Cantơ, những điều kiện đó được bắt nguồn từ bản
thân chủ thể, từ những năng lực đặc biệt của tâm hồn chủ thể.
Hướng nghiên cứu chung đó về đạo đức là kết quả của những định hướng
nhận thức luận mà, như Cantơ hy vọng, sẽ tạo nên ''một cuộc cách mạng
Côpecních'' trong triết học. Đối với I.Cantơ, những mối quan hệ đạo đức hiện thực,
những qui tắc đạo đức hiện thực là không quan trọng. Ông chỉ quan tâm tới vấn đề
nguồn gốc và bản chất của chúng.
Từ ba năng lực cơ bản của tâm hồn- năng lực nhận thức, cảm giác thỏa mãn
và không thỏa mãn và năng lực mong muốn, thì đạo đức thuộc về năng lực thứ ba.
''Năng lực mong muốn'' được Cantơ định nghĩa là: '' Năng lực của thực thể thông
qua những biểu tượng của mình để trở thành nguyên nhân tạo ra tính hiện thực cho
các đối tượng của những biểu tượng ấy'' [23, 4, I, tr. 320].
Gắn đạo đức với ''năng lực mong muốn'', I.Cantơ nhấn mạnh tính tích cực
thực tiễn của đạo đức. Thực ra thì trong đạo đức học Cantơ, năng lực này không
liên quan tới những cái có sẵn. Không thể có sự mong muốn những cái đã có sẵn
mà phải là sự hướng tới những cái chưa có. Các đối tượng của ''năng lực mong
muốn'' có thể là:vật, trạng thái, hành vi Nếu đối tượng có sẵn cho ''năng lực mong
muốn'' là không có, lúc đó sẽ xuất hiện vấn đề: vậy những biểu tượng về các đối

tiến này của I .Cantơ đã quy định tính đặc thù của học thuyết đạo đức của ông. Cơ
sở của đạo đức không thể là ''thiên hướng'' và ''sự thỏa mãn'' như nhiều nhà đạo đức
học đã đưa ra. Để tìm kiếm đạo đức, cần chú ý tới một nguồn gốc khác của các
biểu tượng về năng lực mong muốn là lý tính. Như vậy, sự nghiên cứu của I.Cantơ
chuyển sang một trình độ mới, trình độ lý tính thực tiễn. ''Lý tính thực tiễn'' là lý
tính thực tiễn bởi lẽ những sản phẩm của nó có sức mạnh mang tính cưỡng chế,
chúng đòi hỏi sự hiện thực hóa bản thân. ''Lý tính thực tiễn'' ở Cantơ là lý tính lập
pháp, nghĩa là tạo nên những nguyên lý và những nguyên tắc của hành vi đạo
đức ''Lý tính thực tiễn'' chuyển thành ''ý chí'', ''ý chí'' đó tiến hành sự lựa chọn,
qui định hoạt động của cá nhân theo thước đo đạo đức của cá nhân đó. Vậy là, lý
tính đem lại khái niệm quan trọng trong đạo đức học Cantơ: khái niệm ''ý chí''. Ông
chỉ rõ: ''Năng lực mong muốn mà cơ sở quyết định bên trong của nó, và do đó, bản
thân sự phát hiện ra nó là nằm trong lý tính của chủ thể, được gọi là ý chí''[23, 4, II,
tr. 119].
Như vậy, ''ý chí'' của con người không phải được qui định bởi các nguyên
nhân bên ngoài, tức là những nguyên nhân thuộc về tính tất yếu của giới tự nhiên,
hoặc là những nguyên nhân thuộc về Thượng đế. ''Ý chí'' con người được qui định
bởi những qui luật, luật lệ riêng vốn có của nó. Đó là những qui luật, luật lệ mà ''ý
chí'' tự đặt ra cho bản thân mình. Từ đó chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của chủ
nghĩa tiên nghiệm Cantơ đến đạo đức học của ông. Vấn đề là ở chỗ, trong đạo đức
học, Cantơ chỉ quan tâm tới vai trò của những nhân tố ý chí quy định hành vi đạo
đức và các căn cứ tinh thần của ý chí đạo đức, mà xét đến cùng, là do ý thức đạo
đức tiên nghiệm quy định. Đây vừa là điểm mạnh vừa là điểm yếu của đạo đức học
Cantơ. Là ưu điểm vì Cantơ nhấn mạnh phương diện giáo dục truyền thống văn
hóa nhân văn trong quá trình hình thành phẩm chất, ý thức đạo đức của cá nhân,
trách nhiệm đạo đức của cá nhân về sự lựa chọn hành vi đạo đức. Là khuyết điểm
vì Cantơ đã bỏ qua các nhân tố xã hội khác.
Khi phân tích những cơ sở quyết định của ý chí, I.Cantơ đi đến kết luận rằng
chúng có hai loại: cơ sở quyết định khách quan và cơ sở quyết định chủ quan. Tính
khách quan được hiểu như là vật tự thân nó và như là chức năng của lý tính làm

tính (mà điều này thực tế có ở con người), thì những hành vi đựơc thừa nhận là tất
yếu một cách khách quan, lại là ngẫu nhiên một cách chủ quan ''[23, 4, I, tr. 250-
251].
Khái niệm Cơ sở quyết định chủ quan của ý chí được lý giải rõ ràng hơn. Sự
không đồng nhất giữa ''nguyên tắc'' và ''qui tắc'' là do có sự hiện diện bản tính cảm
tính trong con người. Tình cảm con người thường xuyên đem lại cho các qui tắc đã
lựa chọn (các quy tắc ứng xử cá biệt) một sắc thái cảm xúc đặc biệt. Nói cách khác,
tình cảm có trong các qui tắc làm cho chúng trở thành những nguyên tắc mang ý
nghĩa cá biệt thông qua một cái thứ ba nào đó, và cái thứ ba này được Cantơ gọi là
''động cơ''. ''Động cơ'' là mắt xích trung gian không những trong mối quan hệ giữa
''tình cảm'' với ''qui tắc'', mà cả trong mối quan hệ giữa ''qui tắc'' và ''nguyên tắc''.
Vì vậy, đối với đạo đức thì điều quan trọng không chỉ đơn giản là bước chuyển của
''nguyên tắc'' thành ''qui tắc'', mà còn là một kiểu quan hệ cảm xúc đối với ''nguyên
tắc'' tồn tại trước bước chuyển đó, tức là ''động cơ'' để chủ thể kinh nghiệm lĩnh hội
cơ sở quyết định của ý chí (nguyên tắc). Bản thân ''qui tắc'' hay ý thức tôn trọng
''qui tắc'' phải trở thành động cơ như vậy.
Việc chỉ ra sự khác biệt giữa các cơ sở quyết định khách quan và cơ sở
quyết định chủ quan của ''ý chí'' đem lại biện chứng đặc thù của cái có ý nghĩa
chung và cái có ý nghĩa cá biệt, của cái phổ biến và cái đơn nhất. Sự khác nhau đó
cũng đồng thời là sự đồng nhất. Vấn đề là ở chỗ, theo nghĩa của thuật ngữ thì cái
có ý nghĩa chung cũng là cái có ý nghĩa cá biệt (nếu cái gì đó có ý nghĩa đối với tất
cả thì cũng có ý nghĩa đối với tôi). Mặt khác, với một nghĩa nào đó, cái có ý nghĩa
chung có thể bị lãng quên một cách có lợi cho cái có ý nghĩa cá biệt. Cuối cùng,
cái có ý nghĩa cá biệt mang tính phổ biến, bởi vì bước chuyển từ cơ sở khách quan
vào cơ sở chủ quan chỉ có khả năng thực hiện trong vương quốc của những thực
thể có lý tính nói chung.
Trong mối quan hệ tác động qua lại giữa cái khách quan và cái chủ quan,
giữa cái có ý nghĩa chung và cái có ý nghĩa cá biệt, giữa tính tất yếu và tính ngẫu
nhiên, theo I.Cantơ, cái thứ nhất giữ vai trò quyết định đối với cái thứ hai. Trên cơ
sở đó, học thuyết đạo đức của ông đặt ra vấn đề rất quan trọng là: bằng cách thức

không phải là tổng số tất cả ''ý thức đạo đức cá nhân''.
Kết quả thứ hai của việc áp dụng phương pháp tiên nghiệm trong nghiên cứu
đạo đức học của I.Cantơ là việc nghiên cứu không dừng lại ở ''ý thức đạo đức'', mà
còn ở một hình thái ý thức đạo đức hiện có trong lịch sử: nguồn gốc, sự hình thành
và phát triển của đạo đức cùng với phong tục tập quán hiện thực bị gạt ra khỏi ''ý
thức đạo đức'' đó. Trong những điều kiện như vậy, tất nhiên là học thuyết đạo đức
không những có giá trị lịch sử mà còn có giá trị cấp bách chính vì nó bao hàm
những đặc trưng chung nhất của đạo đức- những đặc trưng luôn được giữ lại trong
các quá trình cải tạo mang tính cách mạng những hệ thống đạo đức cụ thể này
thành những hệ thống đạo đức khác.
Như đã trình bày ở trên, phương pháp tiên nghiệm của I.Cantơ giả định việc
chuyển trọng tâm từ hành động đạo đức sang điều kiện của khả năng đạo đức, điều
kiện này bắt nguồn từ chủ thể, mà cụ thể là từ ''năng lực mong muốn''. Mệnh lệnh
đạo đức xuất hiện chính từ năng lực này.
Để lý giải vấn đề trên, trong nghiên cứu của mình, I.Cantơ xuất phát từ chỗ
cho rằng: ''mong muốn'' nhất thiết gắn với sự cưỡng chế hoặc sự tự cưỡng chế, tức
là trong một khoảnh khắc thời gian, con người có thể mong muốn thế này hay thế
khác, nhưng không có khả năng thực hiện đồng thời tất cả ''các mong muốn'', vì
vậy anh ta cần có sự lựa chọn chúng. Sự khước từ một cách tự nguyện một số
mong muốn chính là sự ''tự cưỡng chế''. Mặt khác, Cantơ cho rằng, tất cả ''các
mong muốn'' là không có giá trị như nhau. Một số khách thể có thể là ''mong
muốn'' đối với tất cả, số khác- chỉ có ý nghĩa đối với một số người, số thứ ba- có
thể chỉ có ý nghĩa đối với một người. Ngoài ra, ''các mong muốn'' còn khác nhau
theo mức độ làm thỏa mãn đối tượng thực hiện: đối với người này thì việc thực
hiện ''mong muốn'' đó mang lại sự thỏa mãn lớn hơn, với người khác thì mức độ
thỏa mãn ít hơn.Từ đó nảy sinh câu hỏi: dựa trên tiêu chí nào ( dựa vào tiêu chí ý
nghĩa hay mức độ thỏa mãn) mà con người sẽ lựa chọn mong muốn này hay mong
muốn khác?
Trong thực tại kinh nghiệm, con người thường có thiên hướng lựa chọn
những gì gắn với sự thỏa mãn lớn và từ chối những cái ít thỏa mãn hơn nếu cần

tượng này, thông qua lý tính và năng lực phán đoán, được gắn với biểu tượng khác,
mà trước khi có sự phân chia đó không phải là đối tượng của sự mong muốn hay
thậm chí còn là đối tượng của sự ghê tởm. Tóm lại, khi ''ý chí'' mong muốn một
điều gì đó, tất yếu cần phải mong muốn một điều khác với tư cách là phương tiện
để đạt tới điều mong muốn đầu tiên. Như vậy, cấu trúc chung của sự biểu thị ''ý
chí'' được thể hiện bằng công thức:
'' Ý chí được hình dung như là năng lực cưỡng chế chính bản thân mình phải
thực hiện những hành vi một cách phù hợp với quan niệm về các nguyên tắc này
hay các nguyên tắc khác''[23, 4, I, tr. 268]
Ở đây, mối quan hệ giữa ''hành vi'' với tư cách phương tiện và ''mục đích''
với tư cách kết quả của hành vi ấy là mối quan hệ theo một nguyên tắc nào đó, và
đây không phải là nguyên tắc đạo đức. Trong cấu trúc của ''mệnh lệnh kỹ năng'',
được giải phóng khỏi những nội dung cụ thể thì không có gì là đạo đức hay không
đạo đức. Tất cả chỉ phụ thuộc vào những mục đích mà để đạt được chúng, các
mệnh lệnh này qui định trước một số hành vi với tư cách là phương tiện. I.Cantơ
đã minh họa rõ điều này như sau:
'' Mệnh lệnh chữa khỏi người bệnh đối với bác sĩ, và mệnh lệnh giết được
người đối với kẻ đầu độc là có giá trị như nhau, bởi lẽ mỗi mệnh lệnh đó đều hoàn
toàn phục vụ cho việc thực hiện mục đích đã đặt ra''[23, 4, I, tr. 268].
Điều quan trọng ở đây là I.Cantơ đã loại trừ được một biến thể của ''mệnh
lệnh giả thuyết'' ra khỏi lĩnh vực đạo đức. Không nên hiểu việc loại trừ này là
dường như những mệnh lệnh trên hoàn toàn không có nội dung đạo đức. Vấn đề
không phải là ở chỗ những mệnh lệnh đó có hay không có nội dung đạo đức. Vì,
nếu xét trong hành động con người, thì bất kỳ hành vi nào, về nguyên tắc, đều có
khía cạnh đạo đức, trong số đó có cả phương diện quan hệ giữa mục đích và
phương tiện. Nhiệm vụ mà I.Cantơ đặt ra khi nghiên cứu các ''mệnh lệnh'' không
phải là việc xác định phạm vi phổ biến đạo đức, mà là ở chỗ ông muốn tìm được
nguyên tắc đạo đức cao nhất, tức là nguyên tắc biểu hiện chính nội dung đạo đức,
trong khi đó thì các ''mệnh lệnh kỹ năng'' không thể là tiêu chuẩn để xác định nội
dung ấy. Các mệnh lệnh này có ý nghĩa phổ biến, bởi vì các phương tiện đã được

đạo đức mang tính khách quan, trong tất cả mọi trường hợp và trong mọi thực thể
có lý tính, nó cần phải chứa đựng trong mình một ''cơ sở mang tính quyết định của
ý chí''. Trong khi đó, khái niệm ''hạnh phúc'' lại không xác định được một điều gì
mang tính đặc thù. Vì thế, nguyên tắc hướng tới hạnh phúc hoàn toàn mang tính
ngẫu nhiên, nó cần phải là khác nhau trong những chủ thể khác nhau, và điều đó có
nghĩa là không bao giờ nó trở thành nguyên tắc đạo đức.
''Hạnh phúc'', theo I.Cantơ, không phải là lý tưởng của lý tính, mà là lý
tưởng của trí tưởng tượng, các yếu tố tạo thành nó có nguồn gốc kinh nghiệm:
''Mỗi một người tìm thấy hạnh phúc của mình phụ thuộc vào cảm giác đặc biệt về
sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nơi họ, và thậm chí trong một chủ thể, nó phụ
thuộc vào sự khác nhau của những nhu cầu thay đổi phù hợp với tình cảm đó''[23,
4, I, tr. 340].
Như vậy, những yếu tố vật chất (hay những yếu tố nội dung) trong quan
niệm về ''hạnh phúc'' chiếm vị trí đầu tiên, hơn nữa, ''hạnh phúc'' nói chung không
thể thiếu đi sự giả định tình cảm của chủ thể. Khái niệm ''hạnh phúc'' không phù
hợp với lý tưởng mang tính lý luận của đạo đức học Cantơ, và đó là một trong
những nguyên nhân cơ bản của việc loại bỏ biến thể thứ hai của ''Mệnh lệnh giả
thuyết'' ra khỏi đạo đức học của ông.
Tóm lại, không phải những ''mệnh lệnh của kỹ năng'', không phải những
''mệnh lệnh của sự khôn ngoan'' ( gắn với khái niệm '' hạnh phúc'') phù hợp với
nguyên tắc tối cao của đạo đức. Duy nhất chỉ có ''mệnh lệnh tuyệt đối'' chỉ ra con
đường cho phép hiểu được đạo đức và cái thiện đạo đức. Dấu hiệu đặc thù của
''mệnh lệnh tuyệt đối'' là tính chất tất yếu của mệnh lệnh. ''Mệnh lệnh tuyệt đối''
không được rút ra từ bất cứ kinh nghiệm hiện thực nào, cũng không được rút ra từ
bản tính tự nhiên đặc thù của loài người, mà là sự ''tất yếu'' tuyệt đối được rút ra từ
bản chất tự do của lý tính con người: tôi sở dĩ không thể làm chuyện ác, vì tôi là
một người tồn tại có lý tính. Làm việc ác cũng có nghĩa là tuyên bố những người
có lý tính đều có thể làm việc ác. Do vậy, những người khác cũng có thể làm việc
ác đối với tôi. Hơn nữa, khi tôi là một tồn tại có lý tính, cần phải làm việc thiện và
chối bỏ việc ác, thì làm việc ác sẽ khiến tôi rơi vào sự tự mâu thuẫn. Như vậy,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status