NGUYỄN THỊ MAI HOA
QUAN NIỆM VỀ TỰ DO
TRONG ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA I.KANT
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2010
Hà Nội - 2010
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIÊN TRIẾT HỌC
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC CỦA KANT 7
1.1. Lý tính và những nguyên tắc đạo đức 7
1.1.1. Lý tính trong đạo đức học của Kant 7
1.1.2. Lý tính thiết lập những nguyên tắc đạo đức 14
1.2. Ý chí và những nguyên tắc đạo đức 21
1.2.1. “Sự tự trị của ý chí” trong đạo đức học của Kant 21
1.2.2. Ý chí thiết lập những nguyên tắc đạo đức 25
Chương 2: Ý NIỆM “TỰ DO” TRONG ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA
KANT … 31
2.1. “Tự do” và những nguyên tắc đạo đức 31
2.1.1. Những nguyên tắc đạo đức là cơ sở để nhận thức về “tự do” 31
2.1.2. “Tự do” là cơ sở cho sự tồn tại của những nguyên tắc đạo đức 43
2.1.3. “Tự do” là cơ sở cho sự hình thành và phát triển nhân cách của
con người 49
2.2. “Tự do” và những ý niệm siêu nghiệm 54
2.2.1. “Tự do” là cơ sở nhận thức về “sự-Thiện-tối cao” 54
2.2.2. “Tự do” là cơ sở cho “sự bất tử của linh hồn” và sự hiện hữu của
“Thượng đế” 60
ngay từ rất sớm, các nhà văn, nhà thơ, nhà triết học, nhà thần học đã bỏ ra
nhiều công sức tìm tòi, nghiên cứu và bàn luận về việc thiết lập những nguyên
tắc đạo đức có thể giúp ích cho cuộc sống của con người. Cụ thể, họ mong
muốn tìm ra những phương thức tích cực giúp cho con người yêu thương
2
nhau giống như yêu chính bản thân mình và cử xử với nhau cũng giống như
cư xử với chính bản thân mình. Bởi họ hiểu rằng, đó là cách thức tốt nhất có
thể làm cho xã hội loài người trở nên tốt đẹp và hoàn hảo giống như một thiên
đường trên trần thế.
Với tư cách là một triết gia sống trong thời kỳ xã hội loài người có
nhiều biến động, Kant đã dành trọn cuộc đời để suy tư và trăn trở về những
vấn đề đạo đức như vậy; ông viết: “Hai điều tràn ngập tâm tư với sự ngưỡng
mộ và kính sợ luôn luôn mới mẻ và gia tăng mỗi khi nghĩ đến, đó là: bầu trời
đầy sao trên đầu tôi và quy luật luân lý ở trong tôi” [7, tr. 278]. Chính vì thế,
ông đã cố công xây dựng một học thuyết đạo đức chặt chẽ và khoa học với
mục đích hướng dẫn hành vi của con người vươn tới điều thiện (“sự-Thiện tối
cao”). Ông bắt đầu bằng việc xét hỏi, trong cuộc sống, con người phải hành
động như thế nào cho đúng? Nói cách khác, con người phải hành động theo
những nguyên tắc nào? Sau đó, ông nhận ra rằng, chính những nguyên tắc
nghiêm ngặt mà lý tính tạo ra mới xứng đáng để chỉ dẫn hành vi của con
người, chứ không phải là những nguyên tắc xa lạ bên ngoài con người. Tuy
nhiên, Kant không chỉ thiết lập những nguyên tắc đạo đức với mục đích
hướng dẫn con người trong việc phân biệt đúng - sai, thiện - ác, tốt - xấu, mà
còn nhằm thúc đẩy sự phát triển “nhân cách” hay “phẩm giá” của con người.
Để thực hiện mục đích đó, Kant đã viện dẫn đến khái niệm “tự do” - tự do
kiến tạo giá trị sống và nhân cách của con người. Và, “tự do” đã trở thành khái
niệm cơ bản mà nhờ đó ông xây dựng toàn bộ đạo đức học của mình. Vì vậy,
chúng ta có thể coi khái niệm “tự do” giống như một chiếc chìa khóa để khám
phá đạo đức học của triết gia vĩ đại này.
nghĩa của học thuyết đạo đức của Kant… Tuy nhiên, theo chúng tôi, những
công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở chỗ luận giải một cách tản mạn
4
về một số vấn đề trong đạo đức học của Kant, chứ chưa phải là sự trình bày
chặt chẽ, đầy đủ và có hệ thống; đặc biệt, các học giả chưa khai thác triệt để
“tự do” vốn là khái niệm trọng tâm trong học thuyết đạo đức của ông, để từ
đó làm rõ hơn nữa giá trị nhân văn mà học thuyết này mang lại cho xã hội loài
người nói chung và cá nhân nói riêng. Riêng cuốn Triết học Kant của Trần
Thái Đỉnh, do nhà xuất bản Văn hóa thông tin tái bản lần thứ ba năm 2005,
tác giả đã trình bày khá đầy đủ và hệ thống về đạo đức học của Kant. Tác giả
cũng đã dành phần lớn công sức của mình để luận giải về “tự do”. Song, ở
đây, tác giả mới chỉ luận giải về mối quan hệ của “tự do” và “quy luật đạo
đức”, “tự do” và “sự tự chủ”, “tự do” và đối tượng của đạo đức học (“sự
Thiện hoàn hảo”), chứ chưa đi sâu phân tích nội hàm khái niệm “tự do” cũng
như nguồn gốc ra đời của khái niệm này trong đạo đức học của Kant.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của học giả Việt Nam đã đề cập
và luận giải được những vấn đề trọng tâm trong đạo đức học của Kant. Tuy
nhiên, chúng tôi thấy rằng, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu
nào dành riêng cho việc luận giải về “tự do” cũng như nội hàm của nó trong
học thuyết này, mà đó vẫn là sự lồng ghép với những nghiên cứu khác về
Kant. Vì thế, luận văn này sẽ là sự bổ sung cho mảnh đất trống đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở phân tích những luận giải về những nguyên tắc đạo đức của
Kant, luận văn muốn làm sáng tỏ quan niệm “tự do” của ông và chỉ ra những
giá trị cũng như hạn chế trong quan niệm này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có nội dung gồm 2 chương và 5 tiết.
7
Chương 1
NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC CỦA KANT
1.1. Lý tính và những nguyên tắc đạo đức
1.1.1. Lý tính trong đạo đức học của Kant
Trong lĩnh vực đạo đức, Kant là người kiên quyết phản đối chủ nghĩa
duy nghiệm, bởi ông cho rằng, việc xây dựng những nguyên tắc đạo đức mà
dựa vào những yếu tố cảm tính (thiện - ác, sướng - khổ, tốt -xấu, hạnh
phúc…) sẽ dẫn con người đến những điều ảo tưởng và tội lỗi, thậm chí không
thể phân biệt giữa đạo đức và sự vô đạo đức. Ông viết: “Thuyết duy nghiệm
cắt đứt tận gốc tính luân lý của những ý đồ (chính trong những ý đồ chứ
không phải chỉ trong những hành vi mới chứa đựng giá trị cao cả mà con
người có thể và cần phải mang lại cho chính mình), và thay thế nghĩa vụ bằng
cái gì hoàn toàn khác, đó là một lợi ích thường nghiệm được những xu hướng
nói chung kín đáo theo đuổi; và thuyết duy nghiệm, do liên mình với mọi loại
xu hướng (bất kể theo kiểu biểu hiện nào), hạ thấp tính người khi những xu
hướng ấy được nâng lên thành phẩm giá của một nguyên tắc thực hành tối
thượng; và vì lẽ những xu hướng dễ dàng chiều theo lề lối cảm tính của con
người nên thuyết duy nghiệm càng nguy hiểm hơn so với thuyết thần bí vốn
không bao giờ có thể tạo nên trạng thái lâu bền nơi số đông người” [7, tr.
126]. Vì thế, ông chủ trương xây dựng đạo đức học dựa trên những nguyên
tắc (quy tắc) của lý tính, độc lập hoàn toàn với những yếu tố cảm tính.
Vậy, chúng ta hãy tìm hiểu xem trong lĩnh vực này, ông quan niệm như
thế nào về lý tính?
những châm ngôn của ý chí. Ông viết: “Lý tính - vốn không thể bị đồi bại và
9
có tính tự chế - lúc nào cũng đối chiếu châm ngôn của ý chí với ý chí thuần
túy trong bất kỳ hành vi nào, nghĩa là với chính mình, bằng cách xem chính
mình như là có tính thực hành một cách tiên nghiệm” [7, tr. 58]. Như vậy,
trong quan niệm của Kant, lý tính thực hành là lý tính hoạt động trong lĩnh
vực đạo đức (lĩnh vực thực hành) có khả năng thiết lập những nguyên tắc đạo
đức quy định ý chí của con người. Ông viết: “… lý tính thuần túy có thể là
thực hành, nghĩa là, có thể trực tiếp quy định ý chí mà thôi” [7, tr. 77].
Vậy, tại sao những nguyên tắc đạo đức mà lý tính thực hành thiết tạo
lại được Kant coi là cơ sở quy định ý chí của con người?
Trong các tác phẩm đạo đức học của mình, Kant đã luận giải rất rõ về
vấn đề này. Ông cho rằng, trong quá trình thiết lập những nguyên tắc đạo đức,
lý tính thực hành đã tiến hành loại bỏ toàn bộ những gì liên quan đến kinh
nghiệm ra khỏi những nguyên tắc này và chỉ giữ lại hình thức thuần túy của
chúng. Vì thế, những nguyên tắc này có được tính chất tiên nghiệm và vô điều
kiện làm cơ sở quy định ý chí trước sự chi phối của những “ham thích sinh
lý” và động cơ cảm tính bên ngoài. Kant tin rằng, những nguyên tắc hiển
nhiên và chắc chắn như vậy sẽ buộc ý chí con người phải tuân theo mệnh lệnh
của lý tính, nhờ đó, con người có thể làm chủ hành vi của chính mình trong
mọi tình huống của cuộc sống. Ông viết: “lý tính thuần túy có thể là thực
hành, nghĩa là, có thể tự mình quy định ý chí một cách độc lập với cái gì
thường nghiệm - và chứng minh điều này bằng một Sự kiện (Faktum), trong
đó lý tính thuần túy nơi ta tự thể hiện chính mình một cách thực hành, đó là
sự tự trị tỏ rõ trong nguyên tắc cơ bản của luân lý, nhờ đó lý tính quy định ý
chí trong hành động” [7, tr. 71]. Kant còn khẳng định rằng, những nguyên tắc
đạo đức chỉ có thể trở thành cơ sở quy định ý chí khi mà lý tính thực hành
kiên quyết loại bỏ mọi “sự pha trộn” với những yếu tố kinh nghiệm trong
những nguyên tắc này, thậm chí đó là “sự pha trộn” nhỏ nhất; bởi theo ông,
11
nhiên mà không hề vi phạm đến cơ chế [máy móc] của thế giới cảm tính” [7,
tr. 73]. Theo ông, đó là thế giới thuần túy của lý tính và những nguyên tắc đạo
đức mà nó thiết lập, độc lập hoàn toàn với những động cơ hay quy luật của
thế giới cảm tính. Mặc dù vậy, “thế giới siêu cảm tính” vẫn được coi là cơ sở
(nguyên nhân) quy định sự tồn tại của mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới
cảm tính. Chính vì thế, Kant gọi “thế giới siêu cảm tính” là “thế giới nguyên
mẫu”, còn thế giới cảm tính là “thế giới bản sao”. Đến đây, chúng ta thấy
rằng, lý tính thực hành hoàn toàn không quan tâm đến việc mô tả thuộc tính
của các sự vật để nhận thức về chúng, mà chỉ chuyên tâm vào việc tìm kiếm
cơ sở tận cùng (nguồn gốc nguyên thủy) của các sự vật đó. Ông viết: Lý tính
thực hành “không đòi hỏi phải giải thích làm sao những đối tượng của quan
năng ham muốn lại có thể có được” [7, tr. 76], mà “làm sao nó có thể là một
cơ sở quy định trực tiếp của ý chí, tức là, của tính nhân quả của hữu thể có lý
tính về phương diện tính hiện thực của những đối tượng” [7, tr. 75]. Theo đó,
cũng có thể nói rằng, lý tính thực hành có khả năng dẫn dắt con người nhận
thức về “những cái thực chất đứng đằng sau các sự vật”, tức là xâm nhập vào
lĩnh vực “vật tự thân”. Đó là điều mà lý tính tư biện dù có nỗ lực cũng không
thể làm được.
Hơn thế, Kant cho rằng, lý tính thực hành nhờ vào những nguyên tắc
đạo đức còn có thể dẫn dắt con người đi tới nhận thức về những “ý niệm siêu
nghiệm” - “sự Thiện-tối cao”, “sự tự do”, “sự bất tử của linh hồn” và
“Thượng đế”. Theo ông, đó là đặc quyền của lý tính thực hành; bởi lẽ, lý tính
tư biện chỉ dựa vào những yếu tố kinh nghiệm không thể giúp con người nhận
thức trọn vẹn về các đối tượng cảm tính, đặc biệt là về những ý niệm tối cao
như vậy. Ông viết: “… mọi nguyên tắc của lý tính thuần túy tư biện ấy chỉ có
giá trị để làm cho kinh nghiệm có thể có được, hoặc là kinh nghiệm về những
đối tượng đã được cho, hoặc về những đối tượng có thể được mang lại một
cách vô tận (ad infinitum) nhưng không bao giờ được mang lại một cách trọn
13
dù không có đủ luận cứ để chứng minh cho những gì thuộc về lĩnh vực đạo
đức, nhưng nó vẫn phải chấp nhận những cái đó như một phần của lý tính.
Ông viết: “Nó phải chấp nhận chúng, dù đó là cái gì được mang lại cho nó từ
một suối nguồn xa lạ, là cái gì không mọc lên từ chính mảnh đất của nó,
nhưng vẫn được chứng thực đầy đủ, và nó phải ra sức so sánh và nối kết
chúng với tất cả những gì nó có trong năng lực của mình với tư cách là lý tính
tư biện” [7, tr. 219]. Khi luận giải về sự thống nhất này, Kant cũng đồng thời
chỉ ra rằng, lý tính thực hành tất yếu phải trở thành cơ sở quy định của lý tính
tư biện, nếu không như vậy, tự bản thân lý tính sẽ nảy sinh sự xung đột, bởi
lẽ, “…mọi sự quan tâm kỳ cùng đều có tính thực hành, và ngay bản thân sự
quan tâm của lý tính tư biện cũng là có-điều kiện và chỉ hoàn chỉnh ở trong sự
sử dụng thực hành” [7, tr. 219]. Như vậy, trong quan niệm của Kant có sự
khác biệt về lĩnh vực vận dụng lý tính - “lĩnh vực lý thuyết” và “lĩnh vực thực
hành”; do đó, chúng ta phải làm rõ khái niệm “lý tính” ở từng lĩnh vực để
tránh việc hiểu sai về Kant cũng như đạo đức học của ông.
Tóm lại, chúng ta có thể hiểu về lý tính thực hành của Kant như sau:
Thứ nhất, lý tính thực hành là lý tính hoạt động trong lĩnh vực đạo đức (lĩnh
vực thực hành) có khả năng thiết tạo những nguyên tắc đạo đức có tính chất
tiên nghiệm và vô điều kiện làm cơ sở quy định ý chí của con người. Thứ hai,
lý tính thực hành nhờ vào những nguyên tắc đạo đức có khả năng thiết tạo
“thế giới siêu cảm tính” quy định toàn bộ thế giới cảm tính của con người.
Hay, có thể nói rằng, lý tính thực hành thông qua những nguyên tắc đạo đức
có khả năng dẫn dắt con người đi tìm nguồn gốc (nguyên nhân) của các sự vật
cảm tính, tức là xâm nhập vào lĩnh vực “vật tự thân”. Thứ ba, lý tính thực
hành nhờ vào những nguyên tắc đạo đức có khả năng tiếp cận với thế giới
những “ý niệm siêu việt” - “sự Thiện-tối cao”, “sự tự do”, “sự bất tử của linh
hồn” và “Thượng đế”. Thứ tư, lý tính thực hành và lý tính tư biện không phải
là hai loại lý tính khác nhau, mà chỉ khác nhau ở mục đích sử dụng lý tính. Lý
sau: Lý tính sử dụng những châm ngôn của ý chí, sau đó, tiến hành loại bỏ
những yếu tố thường nghiệm ra khỏi những châm ngôn ấy, cuối cùng, giữ lại
duy nhất hình thức của chúng. Kant gọi hình thức của những châm ngôn là
“hình thức ban bố quy luật” hay “nguyên tắc tiên nghiệm”, nguyên tắc đạo
đức. Trên cơ sở đó, ông đưa ra công thức: “Hãy hành động sao cho châm
ngôn của ý chí của bạn lúc nào cũng đồng thời có thể có giá trị như là nguyên
tắc của một sự ban bố quy luật phổ biến” [7, tr. 56]. Trong các tác phẩm đạo
đức học, Kant đã diễn giải về quá trình này dưới nhiều hình thức khác nhau,
nhưng tựu chung lại, đó là quá trình mà lý tính sử dụng những yếu tố thuần
túy tiên nghiệm của nó để tạo ra những nguyên tắc làm cơ sở (nguyên nhân)
quy định ý chí con người. Nói cách khác, lý tính lấy chính bản thân nó làm cơ
sở quy định ý chí con người. Ông viết: “Nếu giả định rằng lý tính thuần túy
chứa đựng trong bản thân nó một cơ sở hay một nguyên cớ (Grund) thực
hành, nghĩa là một cơ sở thích hợp đủ để quy định ý chí, thì ắt có các quy luật
thực hành” [7, tr. 39].
Khi nói về quá trình thiết lập những nguyên tắc đạo đức của lý tính,
Kant cũng đồng thời phân biệt những nguyên tắc này với những nguyên tắc
thông thường. Đối với ông, các nguyên tắc thông thường “chỉ có giá trị đối
với ý chí riêng của chủ thể” [7, tr. 39], đó là những châm ngôn chủ quan của
từng chủ thể; trái lại, các nguyên tắc đạo đức không chỉ có giá trị đối với ý chí
của từng chủ thể mà còn “có giá trị đối với ý chí của bất kỳ hữu thể nào có lý
tính” [7, tr. 39], đó là “các mệnh đề bao hàm một sự quy định quy định phổ
biến đối với ý chí” [7, tr. 39]. Như vậy, trong quan niệm của Kant, các nguyên
tắc đạo đức là sản phẩm thuần túy của lý tính và có giá trị phổ biến đối với
mọi chủ thể.
16
Kant không chỉ giúp chúng ta phân biệt những nguyên tắc đạo đức với
những nguyên tắc thông thường, mà ông còn luận giải về tính chất của những
nguyên tắc này.
nó mang tính giả thiết, còn nếu một hành động mà tự thân nó là thiện, cần
thiết cho ý chí mà phù hợp với lý trí, và là nguyên tắc của chính nó, thì
mệnh lệnh của nó là tuyệt đối” [16, pg. 67].
Bên cạnh tính phổ biến, Kant còn nói tới “tính thực tại khách quan” của
những nguyên tắc đạo đức. Theo ông, những nguyên tắc đạo đức là những
nguyên tắc “hiển nhiên” của lý tính thực hành, sự tồn tại của bản thân những
nguyên tắc này chính là bằng chứng biện minh cho “tính thực tại khách quan”
của chúng, ngoài ra chúng không cần đến bất kỳ một bằng chứng nào khác từ
các yếu tố kinh nghiệm có thể trực quan được. Ông viết: “…tính thực tại
khách quan của quy luật luân lý không thể nào chứng minh được bằng bất kỳ
sự diễn dịch nào từ những nỗ lực của lý tính lý thuyết, dù là tư biện hay được
hỗ trợ bằng kinh nghiệm; và, thậm chí nếu ta khước từ tính chắc chắn hiển
nhiên của nó, nó vẫn không thể được chứng minh một cách hậu nghiệm bằng
kinh nghiệm; tuy thế, nó vẫn được xác lập một cách vững chắc tự bản thân
mình” [7, tr. 78]. Hơn nữa, việc những nguyên tắc này trực tiếp quy định ý chí
và hành vi của con người cũng đã chứng minh một cách rõ ràng cho “tính
thực tại khách quan” của chúng. Như vậy, với Kant, những nguyên tắc đạo
đức mặc dù là sản phẩm thuần tuý của lý tính thực hành, tồn tại bên trong con
người, nhưng chúng vẫn có được “tính thực tại khách quan”. Theo đó, chúng
ta có thể nói rằng, sự quy định của những nguyên tắc đạo đức đối với ý chí và
hành vi của con người là sự quy định có tính hiện thực, chứ không phải là ảo
tưởng. Đó cũng chính là lý do vì sao Kant lại gọi lĩnh vực đạo đức là lĩnh vực
thực hành của lý tính và những nguyên tắc tiên nghiệm của nó.
18
Với Kant, những nguyên tắc đạo đức không chỉ có tính khách quan và
phổ biến, mà nhất thiết chúng còn phải có tính vô điều kiện. Ông hiểu tính vô
điều kiện có nghĩa là tính chất độc lập hoàn toàn của những nguyên tắc đạo
đức với những động cơ thường nghiệm, dù đó là động cơ chủ quan hay khách
quan. Lúc đó, các nguyên tắc này chỉ còn lại duy nhất hình thức thuần túy của
con người tiến tới những giá trị đạo đức tối cao; chúng chỉ được coi là những
nguyên tắc không chắc chắn, “vốn chỉ gắn liền với ý chí một cách bất tất” [7,
tr. 41], xuất phát từ xuất phát từ “lòng yêu chính mình” và “sự tư lợi” của con
người, tức là những “mệnh lệnh giả thiết”, không phải những “mệnh lệnh
tuyệt đối”. Mặc dù vậy, Kant không có ý muốn nói rằng, những nguyên tắc
đạo đức hướng dẫn con người hành động không có mục đích hay không có
phương hướng, bởi điều này là hoàn toàn vô lý đối với những "hữu thể có lý
tính". Trái lại, theo ông, đó là những nguyên tắc có “mục đích tự thân”. Ông
viết: “…nếu có một nguyên tắc thực hành tối cao liên quan tới ý chí của con
người, một mệnh lệnh tuyệt đối, thì nguyên tắc đó phải xuất phát từ sự hiện
diện của mục đích tự thân, đó sẽ là một nguyên tắc khách quan của ý chí và
có thể được sử dụng như một quy luật thực hành phổ quát. Cơ sở của nguyên
tắc này là: bản thân lý tính tồn tại như một mục đích tự thân” [7, tr. 79]. Ở
đây, ông hiểu “mục đích tự thân” có nghĩa là bản thân mỗi nguyên tắc đạo
đức đóng vai trò là mục đích của chính nó, do đó, nó không cần đến mục đích
ngoại tại nào khác. Như vậy, trong quan niệm của Kant, những nguyên tắc
đạo đức là những nguyên tắc vô mục đích theo nghĩa thường nghiệm; còn
theo nghĩa thực hành, đó là những nguyên tắc có “mục đích tự thân”.
Những nguyên tắc đạo đức của Kant không chỉ có những tính chất trên,
mà còn biểu tả “nghĩa vụ” (“cái phải là”) của con người. Điều này có nghĩa
rằng, những nguyên tắc đạo đức phải trở thành những nguyên tắc phổ quát có
20
thể giúp con người nhận thức được những việc mà bản thân nhất thiết phải
thực hiện trong mọi trường hợp. Ông viết: “…khi tôi nghĩ về mệnh lệnh giả
thiết nói chung, tôi không biết trước được nó sẽ bao gồm những gì. Nhưng,
khi tôi nghĩ về một mệnh lệnh tuyệt đối thì ngay lập tức tôi biết nó bao gồm
những gì” [7, tr. 73]. Nói cách khác, đó phải là những nguyên tắc có thể đưa
ra mệnh lệnh hay chỉ thị cưỡng chế hành vi của con người trong mọi tình
huống. Ông viết: những nguyên tắc đạo đức chính là “quy luật của nghĩa vụ,
“Bên ngoài mối quan hệ của giác tính với những đối tượng (trong nhận thức
lý thuyết), giác tính cũng còn có một mối quan hệ với quan năng ham muốn,
vì thế, quan năng này được gọi là ý chí” [7, tr. 89]. Ông cho rằng, "quan năng
ham muốn" có hai loại, “quan năng ham muốn hạ cấp” và “quan năng ham
muốn cao cấp”. Trong đó, “quan năng ham muốn hạ cấp” biểu thị những
"ham thích sinh lý" của con người, còn “quan năng ham muốn cao cấp” biểu
thị xu hướng được quy định bởi những nguyên tắc đạo đức của lý tính. Kant
phân biệt như vậy là vì ông nhận thấy rằng, ngoài những ham muốn sinh lý
vốn thuộc về bản năng tự nhiên của con người, bản thân ý chí cũng luôn chứa
đựng khát vọng vượt ra khỏi những ham muốn tầm thường đó để vươn tới
những giá trị đạo đức tối cao. Song, theo Kant, ý chí của con người thường có
xu hướng chiều theo những "ham thích sinh lý" hơn là việc nỗ lực vươn tới
những giá trị luân lý tối cao. Vì thế, ngay từ đầu, ông đã phê phán ý chí mà
chịu ảnh hưởng từ những "ham thích sinh lý" đó. Bởi, với ông, "ham thích
sinh lý" chỉ là những cái “quấy nhiễu những người có suy nghĩ đúng đắn, làm
rối loạn những câu châm ngôn chín chắn của họ và tác động đến nguyện vọng
của họ là muốn thoát ly khỏi xu hướng để chỉ phục tùng lý tính ban bố quy
22
luật” [7, tr. 215], chúng biến châm ngôn của ý chí thành những nguyên tắc
chủ quan nhằm thoả mãn ý thích cá nhân, chứ không phải là những nguyên
tắc có giá trị đạo đức phổ quát. Mặc dù vậy, ông chủ trương tán thành cho ý
chí mà có khả năng giới hạn bản thân khỏi sự cám dỗ từ những “ham thích
sinh lý”, tức ý chí được quy định bởi lý tính. Ông quan niệm, ý chí như vậy
“mới thực sự là một quan năng ham muốn cao cấp mà quan năng ham muốn
hạ cấp - có thể bị quy định một cách sinh lý (pathologisch) - phải phục tùng”
[7, tr. 47]. Chính vì Kant nhận thức được rằng, ý chí là sự biểu hiện của “quan
năng ham muốn” của con người nên ông đã lựa chọn lý tính - một yếu tố hoàn
toàn khác biệt với “quan năng ham muốn” đó, làm cơ sở quy định ý chí. Hơn
nữa, ông cũng nhận thấy, lý tính là yếu tố duy nhất có khả năng thiết lập