Quan niệm về con người trong phân tâm học của Sigmund Freud - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
٭٭٭٭٭٭٭٭٭
DƯƠNG THỊ HỒNG ĐIỆP
QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG
PHÂN TÂM HỌC CỦA SIGMUND FREUD

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2009 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
٭٭٭٭٭ *٭٭٭٭

hội-đã buộc nhiều người phải xem lại sự hiểu biết của mình về nền tảng xã
hội và mối quan hệ của giai cấp xã hội với quy luật kinh tế thì Sigmund Freud
đã chỉ ra rằng cần xem xét con người một cách sâu sắc hơn trước đây; con
người không những là một thực thể duy lý mà nó là “giao điểm của hai thế
giới- thế giới tâm linh cao cả và thế giới tự nhiên thấp hèn” [30; 233].
Giống như Copernius và Darwin, Freud đã giáng một đòn mãnh liệt
vào những đức tin phổ biến về trạng thái của con người. Trước Freud, người
ta cho rằng mọi hoạt động của con người đều chịu sự chi phối của ý thức và
chỉ ý thức mà thôi. Freud đã chứng minh điều ngược lại. Ông cho rằng, tinh
thần giống như một tảng băng trôi, với cái chóp của nó - trạng thái có ý thức -
nhô lên trên bề mặt. Dưới bề mặt này, hình thành nền tảng cho hầu hết hành
vi của con người, là trạng thái vô thức, chứa đựng những kinh nghiệm và
những động cơ thúc đẩy được bắt nguồn từ thời thơ ấu, trước cuộc sống
trưởng thành. Học thuyết của Freud đã mở ra góc nhìn mới đối với vấn đề con
người; nhiều khái niệm của ông đã trở thành những dấu ấn khắc sâu trong văn
chương hiện đại và văn hóa quần chúng, những cái khác được hấp thu vào
trong khuynh hướng chủ đạo của tư duy tâm thần học và tâm lý học. Từ công
trình của Freud, vô số những nhà tâm lý học và triết học đã phát triển hoặc
sửa đổi những học thuyết liên quan để hòa nhập với những khái niệm của

2
Freud. Vì thế, việc nghiên cứu về Phân tâm học Freud sẽ bổ sung thêm vào
kho tàng kiến thức quý báu của nhân loại.
2) Mỗi thời đại lịch sử văn hóa đều đặt ra những vấn đề, những thách
thức xác định đối với tồn tại người. Do vậy, “con người đã, đang và sẽ luôn
luôn là hiện tượng thú vị nhất đối với con người” [trích theo 30; 218]. Trong
lịch sử đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về con người, song tất cả những
câu trả lời đó dường như là chưa đủ vì rằng con người là đối tượng đặc biệt
luôn ẩn chứa những bí mật khêu gợi và thách thức sự khám phá.
Nằm trong trào lưu triết học phương Tây hiện đại, Phân tâm học của

thậm chí cho đến tận ngày nay vẫn gây ra nhiều tranh luận. Chính vì lẽ đó,
các nghiên cứu về học thuyết Phân tâm học của Freud rất phong phú, nhất là
trong giai đoạn gần đây.
Ở Việt Nam, Phân tâm học được biết đến từ năm 1936 song vào
thời kỳ đó, nó chưa gây được nhiều chú ý. Ở miền Nam, trước năm 1975,
một số dịch giả đã giới thiệu Phân tâm học như Vũ Đình Lưu, Lê Thanh
Hoàng Dân… Trong những năm gần đây, học thuyết Phân tâm học của
Sigmund Freud đã xuất hiện nhiều trong các bài viết chuyên khảo, những
chuyên luận của Nguyễn Hào Hải, Phạm Minh Lăng, đặc biệt là chùm tác
phẩm về Phân tâm học do Đỗ Lai Thúy biên soạn, được Nxb. Văn hóa
thông tin phát hành: Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật (2000); Phân
tâm học và văn hóa tâm linh (2002); Phân tâm học và tình yêu (2003).
Hiện nay, nguồn tài liệu trên mạng internet về Freud và học thuyết Phân
tâm học của ông rất đa dạng và phong phú cho thấy những đánh giá nhiều
chiều. Nhiều tác phẩm của Freud đã được dịch sang tiếng Anh giúp cho
việc nghiên cứu phần nào thuận tiện hơn.

4
Với tư cách là một trào lưu triết học phương Tây hiện đại, Phân tâm
học Freud được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về triết học
phương Tây hiện đại như:
- Nguyễn Hào Hải (2001), Một số học thuyết triết học phương Tây hiện
đại, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
- Lưu Phóng Đồng (2004), Triết học phương Tây hiện đại, Nxb. Lý
luận chính trị, Hà Nội.
- Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Đăng Duy (2005), Lịch sử triết học phương
Tây hiện đại, Nxb. Tổng hợp, Tp. HCM.
- Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh (2008), Đại cương
lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ XIX- nửa đầu thế kỷ XX,
Nxb. Tổng hợp Tp. HCM

ngôn ngữ Đông Tây, 2005 đã đi vào phân tích những quan niệm của Freud về
cơ cấu nhân cách của con người với ba bộ phận: bản ngã, tự ngã và siêu ngã.
Theo tác giả, ba yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau “… khi ba cái bản
ngã, tự ngã và siêu ngã điều hòa thống nhất, tâm lý con người có trạng thái
cân bằng, nhân cách là bình thường; khi ba cái này mất cân bằng, có trạng
thái rối loạn, tâm lý con người không thể tự động tiến hành điều tiết, khống
chế gây cho tinh thần không bình thường” [49; 213]. Tác giả đã đánh giá “lý
luận nhân cách của Freud đã giới thiệu với chúng ta một trình tự hợp logic,
vạch ra bí mật của nhân cách. Lý luận này trong lịch sử tâm lý học là sáng tạo
hàng đầu, có ảnh hưởng quan trọng trong các lĩnh vực khoa học như văn học,
nghệ thuật, mỹ học, tôn giáo lý luận” [49; 244].
Trong công trình Các học thuyết về nhân cách, Nxb. Văn hóa thông tin,
2005, hai tác giả Barry D. Smith và Harold J. Vecter đã đi vào phân tích mô

6
hình nhân cách với các bộ phận: xung động bản năng, bản ngã, siêu ngã cũng
như sự tương tác giữa ba yếu tố đó dưới sự chi phối của xung đột nội tâm.
Sau khi phân tích, hai tác giả đã nhận định: “Freud đã làm nổ tung thế giới
vào lúc mà hầu như loài người cho rằng đa phần mình là loài không có dục
tính, là một loài biết suy tính, duy lý và ý thức. Nhưng rồi ông tuyên bố loài
người là những sinh vật vô thức có phần phi lý, bốc đồng và dục tính của nó
là nguyên nhân trọng yếu gây ra những động cơ thúc đẩy, xung đột… Không
nghi ngờ gì học thuyết của ông là một trong những học thuyết bị phê bình dữ
dội và rộng khắp nhất trong toàn bộ những học thuyết về tâm lý học. Đồng
thời, nó cũng là một trong những học thuyết quyền năng và gây ảnh hưởng
nhiều nhất trong lĩnh vực này.” [2; 106].
Với đề tài nghiên cứu: “Quan niệm về con người trong phân tâm học
của Sigmund Freud” chúng tôi muốn chỉ ra sự khác biệt trong cách tiếp cận
vấn đề con người của Freud và làm sáng tỏ một số nội dung trong quan niệm
của phân tâm học Freud về con người.

Phân tâm học của Sigmund Freud.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm hai chương và triển khai trong bảy tiết.

8
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: BỐI CẢNH, NHỮNG TIỀN ĐỀ VÀ ĐẶC TRƢNG
CỦA PHÂN TÂM HỌC FREUD
1.1. Bối cảnh ra đời Phân tâm học Freud
Cuối thế kỷ XIX, nước Áo nói riêng và các nước Tây Âu như Anh,
Pháp, Ý… nói chung đã thiết lập chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã đem
lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Mặc dù
mới thiết lập nhưng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tỏ ra ưu việt
hơn hẳn so với tất cả các chế độ xã hội trước đó. Nhưng đồng thời, sự phát
triển của nền kinh tế cũng kéo theo mâu thuẫn gay gắt trong nhiều lĩnh vực
như chính trị, triết học, tôn giáo… và đời sống xã hội lúc bấy giờ cũng trở nên
căng thẳng hơn, nhạy cảm hơn. Trong một xã hội với phương thức sản xuất
mới, những tư tưởng, cách nhìn chuẩn mực đạo đức mới cũng dần dần xuất
hiện. Có thể nói, bầu không khí Tây Âu thời kỳ này đã xuất hiện những mâu
thuẫn mới trong đời sống tinh thần; một bên là những quan niệm truyền thống
với các tập tục, thành kiến của một xã hội thanh giáo bảo thủ, một bên là một
xã hội sôi động với những quan niệm mới, những “chuẩn mực” mới. Những
người không kịp thích ứng với điều kiện xã hội mới như thích ứng với điều
kiện làm việc, thích ứng với các quan niệm đạo đức xã hội mới, thích ứng với
mối quan hệ xã hội mới… sẽ trở nên căng thẳng, thiếu tự tin trong cuộc sống,
trong nếp nghĩ và nhất là bị “ám thị” với những cuộc tranh đấu giữa cái mới

sinh tồn là không thể thiếu việc giải quyết chúng. Đồng thời, việc bị lôi kéo
vào dòng chảy của cuộc sống hiện tại dường như cũng không để lại cho con
người thời gian dành cho những suy ngẫm nghiêm túc, do đó, con người hiện
đại có nguy cơ đánh mất các định hướng, mục đích sống cơ bản. Con người
hiện đại có nguy cơ bị lôi vào vòng xoáy của những sự kiện mà nó không thể

10
nắm bắt được nguyên nhân và ý nghĩa. Tìm ra kim chỉ nam trong thế giới hiện
đại đầy sóng gió là không đơn giản.
Triết học hiện đại cho rằng cội nguồn của những vấn đề sâu xa chủ yếu
bắt nguồn trong bản thân con người, trong thế giới nội tâm của nó. Con người
đau khổ không phải vì nó không thể giải quyết được những vấn đề bên ngoài
mà vì nó không thể làm chủ được chính bản thân mình, những suy nghĩ của
mình, ý thức của mình. Chính vì vậy mà rất khó có thể giải quyết được những
vấn đề bên ngoài. Triết học hiện đại nhấn mạnh rằng, trái với hy vọng của con
người, cả tiến bộ khoa học-kỹ thuật, cả tiện nghi và chất lượng sống đi liền
với chúng đều không làm cho cuộc sống của con người hiện đại trở nên nhẹ
nhàng hơn về mặt tâm lý con người. Tính chất bi đát đặc biệt của bối cảnh
hiện đại là ở chỗ, con người thường hóa ra không sẵn sàng chịu đựng được
gánh nặng tâm lý-đạo đức của cuộc sống hiện đại, chống lại những cú đòn của
số phận một cách xứng đáng.
Thực tế xã hội Tây Âu lúc bấy giờ, những căn bệnh tinh thần không
phải là hiếm hoi. Nhiều bác sỹ thần kinh học như Philip Pinel (1745-1826)
người Pháp; Benjamin Ras (1745-1813) người Mỹ, Franz Anton Mesmer
(1743-1815)- người Áo, James Breid (1795-1860) người Anh… đã dày công
nghiên cứu các phương pháp chữa trị cho các bệnh nhân bị mắc bệnh tâm
thần. Phương pháp phổ biến lúc bấy giờ mà các bác sỹ sử dụng là phương
pháp thôi miên để giúp người bệnh “phục hồi” trạng thái tinh thần như khi
chưa bị bệnh.
Mặc dù có hiệu quả song phương pháp thôi miên đã không thể chữa

các môn khoa học nhưng ông thích lịch sử, văn chương và rất xuất sắc trong
môn ngôn ngữ. Bổ sung thêm kiến thức của ông về tiếng Đức và Do Thái cổ,
ông đã đạt tới mức thành thạo tiếng Latin, Hy Lạp cổ và nói hoàn toàn trôi

12
chảy tiếng Pháp, Ý, Tây Ban Nha và tiếng Anh. Freud rất hâm mộ
Shakespeare, ngay từ hồi 8 tuổi, Freud đã bắt đầu đọc các tác phẩm của nhà
văn này. Phải nói rằng Freud là một học sinh xuất sắc luôn đứng đầu lớp mặc
dù khi nhận xét về mình, ông viết: “Năng lực hay tài nghệ của tôi rất hạn hẹp.
Không điểm cho các môn khoa học tự nhiên, không điểm cho môn toán;
không điểm cho tất cả những môn nào có tính số lượng. Thế nhưng cái chút ít,
cái không đáng kể mà tôi có được có lẽ lại vô cùng mãnh liệt” [35; 26].
Năm 1873, Freud thi đỗ vào trường Y của thành phố Viên. Sự lựa chọn
theo học ngành này được chính Freud giải thích trong cuốn hồi ký Đời tôi và
Phân tâm học (Ma vie et la psychanalise năm 1925) như sau: “Mặc dù hồi đó,
tiền nong sinh sống của chúng tôi hết sức eo hẹp, cha tôi vẫn tha thiết mong
tôi theo đuổi ý hướng và chọn cho mình một nghề. Cả hồi đó lẫn về sau này
tôi không hề thấy có sự ưa thích đặc biệt nào đối với hoàn cảnh và những bận
rộn của nghề thầy thuốc; vả chăng từ bấy đến giờ tôi chưa từng cảm thấy ưa
thích nghề đó. Đúng ra, tôi bị thôi thúc bởi một khát khao hiểu biết, song là
một hiểu biết liên quan nhiều đến các quan hệ giữa con người với nhau hơn là
liên quan đến các đối tượng riêng ở các ngành khoa học tự nhiên. Tuy nhiên,
học thuyết Darwin đang rất thịnh hành lúc ấy đã cuốn hút tôi mạnh mẽ như nó
có thể tạo ra một xung lực phi thường để nhận thức được muôn vật của thế
giới… Chính những sự kiện trên khiến tôi quyết định ghi tên vào học ngành
y.” [trích theo 35; 28-29]. Bên cạnh đó, sự nổi tiếng lẫy lừng của trường Y
thành phố Viên cũng là lý do khiến Freud lao vào học nghề thầy thuốc.
Trường này có đặc điểm là rất ưa chuộng thực hành và kinh nghiệm, đồng
thời rất thù ghét mọi thứ gì là lý luận và hệ thống. Quá nghiêng về lối tư biện,
Freud cảm thấy có nhu cầu làm cân bằng lại xu hướng trên bằng cách chuyên


14
bệnh chứ không thể chữa bệnh tận gốc. Qua phương pháp trên, Freud chỉ giữ
lại một yếu tố mà ông cho là cần thiết: đó là mối liên hệ giữa người bệnh và
người thầy thuốc.
Không chỉ học tập ở Charcot, Freud còn tìm hiểu cả những nghiên cứu
của Bernheim về bệnh ám thị và “kỹ thuật gợi ý”. Tháng 7 năm 1888, Freud
đến Nancy, ở tại nhà của Bernheim và Liebault để hoàn thiện kỹ thuật thôi
miên. Chính trong thời gian này, Freud đã bắt đầu nghĩ đến sức mạnh của một
cái gì đó không phải là cái hữu thức trong đời sống con người. Trong cuốn
Đời tôi và Phân tâm học ông đã ghi nhận như sau: “Tôi đã chứng kiến những
cuộc thí nghiệm phi thường của Bernheim thực hiện trên những bệnh nhân
của ông. Nhờ đó, tôi đã thu thập được những ấn tượng mạnh mẽ liên quan đến
việc nghĩ rằng có thể có được những quá trình tâm lý hùng mạnh, nhưng lại
không được biểu thị ra với ý thức con người” [trích theo 43; 42]. Quá trình đó
về sau được Freud gọi là cái vô thức và đó cũng là những phát hiện ban đầu
dẫn Freud tới Phân tâm học.
Nghiên cứu sâu hơn, Freud nhận thấy nguyên nhân chính phát sinh
những nội dung khác nhau của bệnh điên, tâm thần với mức độ khác nhau
chính là do những vấn đề trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến bản năng tính
dục. Do vậy, phải có những cách thức phân tích, giải thích khác, và như vậy
cũng cần đến những phương pháp điều trị khác đối với các bệnh nhân tâm
thần. Ông cho rằng cả phương pháp thôi miên và kỹ thuật gợi ý đều có những
hạn chế và ông phát triển một phương pháp mới mà ông gọi là “tự do liên
tưởng”. Đứng về mặt phương pháp thì đây là một phương pháp trị bệnh thông
qua giao tiếp, trò chuyện thân tình và tự nhiên với người bệnh để phân tích
trạng thái tinh thần, tình cảm của người bệnh. Cũng vì thế mà phương pháp
này (về sau trở thành một môn học) được gọi là Phân tâm học
(Psychoanalysis - phân tích tâm lý). Đây là một phát hiện có ý nghĩa vô cùng


xuất bản các tác phẩm “Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục”; “Lời lẽ sắc sảo
trong mối quan hệ với vô thức”; “Trích đoạn một cuộc phân tích về Histerie”.
Tháng 4 năm 1908, Hội nghị quốc tế về Phân tâm học lần thứ nhất được tổ
chức tại Salzbourg và học thuyết của Freud đã bắt đầu được công nhận.
Trong những năm sau đó, Freud còn viết các tác phẩm “Vật tổ và cấm
kỵ” (1913), “Bàn về lịch sử phong trào phân tâm học” (1914), “Nguyên tắc
siêu việt khoái lạc” (1920), “Sự bất ổn của nền văn minh” (1920), “Tâm lý
học quần chúng và phân tích tự ngã” (1921), “Tự ngã và bản ngã” (1923).
Khi đó, ảnh hưởng của Freud đã rộng khắp thế giới. Năm 1923, khi ở tuổi 67,
Freud mắc bệnh ung thư xương hàm. Đến năm 1938, phát-xít Đức chiếm
đóng nước Áo, lùng bắt tất cả những người Do Thái, do vậy, Freud cùng gia
đình phải trốn sang Anh với sự trợ giúp của Hội Phân tâm học quốc tế. Trong
những năm tháng cuối đời, vừa ngoan cường chiến đấu với bệnh tật, Freud
vừa cố gắng dành những sức lực cuối cùng của mình để hoàn tất tác phẩm
“Moise và chủ nghĩa nhất thần”. Ngày 23 tháng 9 năm 1939, Freud đã mất tại
London ở tuổi 83. Sau khi ông mất, những quan niệm, tư tưởng và những vấn
đề mà ông đặt ra vẫn là đề tài gây nhiều tranh luận cho đến tận ngày nay.
1.3. Những tiền đề tƣ tƣởng và khoa học cho quan niệm Phân tâm học
Freud về con ngƣời
* Khái lược một số quan niệm trước S. Freud về con người
Kinh nghiệm phát triển nhiều thế kỷ của triết học chứng tỏ rằng triết
học có một đề tài trung tâm mà tất cả các đề tài và các vấn đề khác của triết
học đều tập hợp, xoay quanh nó. Đó là đề tài về con người giống câu nói của
nhà triết học Hy Lạp cổ đại - Empêđốclơ: “con người đã, đang và sẽ luôn luôn
là hiện tượng thú vị nhất đối với con người” [trích theo 30; 218]. Triết học
giải quyết vấn đề về các cơ sở tối hậu của tồn tại để vạch ra vị trí của con
người trong vũ trụ, để phỏng đoán lẽ sống của con người và sứ mệnh của nó

17
trên trần gian. Tất cả các bộ phận của tri thức triết học đều phục vụ một cách

nó được chuyển biến thành đối thoại (dialogues). Chỉ có dựa vào hình thức
đối thoại, cũng tức là sự hoạt động biện chứng về tư tưởng thì chúng ta mới
có thể đạt đến chỗ nhận thức bản tính của nhân loại" [trích theo 23; 101].
Tư tưởng của Platon được xuất phát từ câu nói nổi tiếng của Socrates: “Hãy
tự nhận thức bản thân mình” Vậy nên triết học phương Tây trở thành quá
trình tìm hiểu về chính bản thân, tức là quá trình hướng nội chứ không phải
hướng ngoại. Tuy nhiên, nội tâm mà Platon đã nêu và sau này các nhà tư
tưởng khác tiếp tục khám phá lại là phần ý thức- là tư duy và tư tưởng. Cho
dù có nhận diện được sự hiện hữu của vô thức thì lại xếp vô thức vào lĩnh
vực sinh lý và con người có thể ý thức được vô thức.
Aristotle (384-321TCN) dựa trên thế giới quan của người Hy Lạp cổ
đại cho rằng tất cả căn nguyên của sự vận động đều được xem là “ý chí”. Mặc
dù ông cho rằng trong linh hồn con người có phần phi lý trí nhưng phần lý trí
vẫn giữ vai trò quyết định cá nhân đến hoạt động thực tiễn. Aristotle đã chia
linh hồn của con người có 3 loại: linh hồn của sự sinh trưởng- đây là năng lực
đồng hóa với sinh thực mà thực vật cũng có; Linh hồn của sự ham muốn- đây
là dục vọng và năng lực hành động và linh hồn của lý trí- đây là năng lực tìm
hiểu tri thức. Nhờ sự hoạt động của linh hồn lý trí mà con người cảm nhận
được hạnh phúc và có đạo đức. Dựa trên lý trí, con người sẽ tạo ra các mối
quan hệ với gia đình, dân tộc… Luận điểm nổi tiếng mà Aristotle đã từng nêu
ra là: "Con người là động vật chính trị".
Tiếp nối tư tưởng trên, Francis Becon (1561-1626) đã trở thành một
triết gia nổi tiếng giữa thế kỷ XVI-XVII khi khẳng định trí tuệ con người với
danh ngôn “tri thức là sức mạnh”. Trong thời kỳ đêm trường trung cổ, Thần
học của đạo Cơ Đốc chiếm vị thế độc tôn và chi phối mọi mặt đời sống xã

19
hội, tư tưởng của con người; vì con người quá nhỏ bé và nhất thời nên bản
thân không có ý nghĩa gì so với thế giới siêu nghiệm. Nhưng Bacon lại cho
rằng lý trí con người sẽ đưa nhân loại tiến bộ và tìm được hạnh phúc. Bởi vì,

người sinh ra vốn lương thiện nhưng bản tính con người thay đổi là do chế độ
xã hội con người tạo ra. Do vậy, muốn cho con người sống tốt thì phải cải tạo
xã hội. Mở rộng và làm rõ hơn quan niệm của Rousseau trên cơ sở chủ nghĩa
duy vật lịch sử, Marx đã khẳng định bản thân con người là sản phẩm của lịch
sử. Quá trình phát triển của xã hội loài người chính nhờ sự thay đổi hình thức
xã hội này sang hình thức xã hội khác do con người lao động, sáng tạo …
Nhìn chung các quan niệm triết học trên đều tìm hiểu về con người.
Nhưng cái nhìn của các tư tưởng đó đều từ ý thức của con người để tìm hiểu
lịch sử, xã hội, khoa học… còn con người cụ thể trong sinh hoạt hàng ngày
với mỗi một cá nhân riêng biệt thì đến triết học hiện sinh mới đề cập tới.
Trước khi chủ nghĩa hiện sinh ra đời thì Blaise Pascal (1623-1662) đã nhận ra
so với vũ trụ, con người nhỏ bé, yếu ớt như một cây sậy, con người là một cá
nhân cô độc trong kiếp đời ngắn ngủi và thế giới thì vô tận bao la. Vậy nên,
con người là một thực thể đau khổ, luôn tồn tại những mâu thuẫn. Nhưng con
người hiện hữu và tồn tại trong vũ trụ được nhờ sức mạnh của lý tính. Vì thế,
dù đã nhìn con người ở phương diện cá nhân, tâm lý quan niệm của Pascal
vẫn khẳng định giá trị của tư duy, của ý thức con người. Quan niệm của
Pascal cũng giống như Henri Poincare (1854-1912) đã nói: “Tư duy chỉ là
một ánh chớp giữa một đêm dài, nhưng ánh chớp này lại là tất cả”. Còn triết
học hiện sinh xem con người như một hữu thể đứng trên vũ trụ và có quyền
gán cho vũ trụ một giá trị tùy theo quan điểm của mỗi người. Con người trong
quan niệm của triết học hiện sinh là con người tái thế, tồn tại trong thế giới
với một điều kiện sinh hoạt nhất định và định mệnh riêng biệt của mỗi người.

21
Riêng Sigmund Freud nghiên cứu về con người cá thể ở một lĩnh vực
khác. Đó là thế giới con người khó nhận thức được (không phải như chủ
nghĩa duy lý) khó mà cảm thức được (không phải như chủ nghĩa hiện sinh) và
khó mà cải tạo được (không phải như chủ nghĩa Marx). Qua nghiên cứu của
mình, Freud đã tìm hiểu cơ chế hoạt động, sức mạnh bản năng và sự chi phối

một thế giới đặc biệt, là trung tâm của vũ trụ.
Đặc trưng cho nhân học là việc thừa nhận một thực tế rằng con người là
một thực thể đặc biệt hay là một loại đặc biệt của cái hiện tồn. Nhân học hiện
đại không nhắm mắt làm ngơ trước những biểu hiện của tính hiếu chiến, trước
những xung lượng bị che đậy và mờ ám, trước con người “đen tối”. Hơn nữa,
nó không xem chúng như là một cái nhẫu nhiên và thứ yếu. Sự không thể
khước từ thừa nhận mặt xấu xa, đen tối của bản tính con người về mặt lý luận
đã trở nên đặc biệt hiển nhiên sau sự xuất hiện của Phân tâm học Freud.
Theo Freud, các xung lượng và các dục vọng vô thức đóng vai trò là cơ
sở cho mọi biểu hiện của tinh thần con người, kể cả những biểu hiện cao
thượng và thánh thiện nhất. Về thực chất, con người thường xuyên thể
nghiệm sự xung đột giữa ý thức và các dục vọng vô thức. Giữ một vị trí đặc
biệt trong các dục vọng ấy là tình dục mà Freud biểu thị bằng thuật ngữ
“libido”. Theo Freud, chính libido quyết định tính tích cực sáng tạo của con
người trong mọi lĩnh vực hoạt động nghệ thuật, nhận thức khoa học…. xét
đến cùng, trong mọi biểu hiện của sự sống. Tác động của libido không nhận
thức được bằng con đường trực tiếp nhưng lại có thể vạch ra nhờ các phương
pháp tâm lý không kiểm soát được khác.
Đem lại năng lượng tâm lý chủ yếu cho con người, dục vọng vô thức
có thể hoạt động theo hai phương thức khác nhau. Thứ nhất, có thể thăng
hoa. Thăng hoa thực chất có nghĩa là dâng lên. Nói cách khác, con người

23
mơ hồ cảm nhận thấy xung lượng của dục vọng và điều đó thúc đẩy nó phát
triển tính tích cực trong một vài lĩnh vực văn hóa và sáng tạo nào đó; con
người thăng hoa dục vọng một cách vô thức. Nhờ đó mà con người có thể
đạt được thành tựu trong lĩnh vực hoạt động lựa chọn, kể cả thành tựu đáng
kể, điều này phụ thuộc vào sức mạnh của dục vọng và tính đúng đắn của
quá trình thăng hoa. Thăng hoa là phương thức hoạt động chuẩn tắc của các
dục vọng vô thức. Phương thức khác được gọi là lấn át. Xét về phương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status