TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
SAIGON UNIVERSITY
TẠP CHÍ KHOA HỌC
SCIENTIFIC JOURNAL
ĐẠI HỌC SÀI GÒN
OF SAIGON UNIVERSITY
Số 64 (4/2019)
No. 64 (4/2019)
Email: [email protected] ; Website: https://tapchikhoahoc.sgu.edu.vn
QUAN NIỆM VỀ TỰ DO CỦA CON NGƯỜI
TRONG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH
The notion of human freedom in educational philosophy of existentialism
ThS. Trần Thị Thảo
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Tóm tắt
Là triết học phi duy lý, chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh tính độc đáo của nhân vị và tự do của cá nhân đối
lập với đoàn nhóm, với sự đồng dạng phổ biến và xã hội đại chúng đề cao duy lý. Triết thuyết này dựa
trên quan điểm cho rằng tất cả mọi người phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về ý nghĩa và khái niệm cuộc
sống của mình, phải tạo ra được một bản sắc riêng cho mình. Giáo dục là phương thức hữu hiệu nhất để
đào tạo ra những con người có bản sắc riêng. Theo các nhà hiện sinh, giáo dục mang sứ mệnh khai phóng
ý thức và trách nhiệm của con người về chính nhân vị và sự tự do của họ. Với những nhận định đó, bài
báo nhằm mục đích làm rõ quan niệm về tự do trong triết lý giáo dục của chủ nghĩa hiện sinh.
Từ khóa: chủ nghĩa hiện sinh, tự do, giáo dục
Abstract
Existentialism can be considered a type of irrationalism which emphasizes the individual’s uniqueness
and freedom, in opposition to a group, common unity or mass society appreciating rationalism. This
school of philosophy relies on the notion that all people are thoroughly responsible for the meaning and
concept of their own life. Education is the most effective way to train people with their own identity.
Existentialists believe that education has the mission to launch people’s consciousness and
responsibility for humanity and their freedom. This paper is an attempt to clarify the notion of freedom
động, không còn huyền bí, thần thánh nữa.
Hơn nữa, con người với tư cách là chủ thể
còn có thể thấy rằng sự vật không có khả
năng cưỡng bức con người phải công nhận
nó như thế này hay thế kia. Thậm chí, tính
chủ thể còn giúp con người không bị áp
bức, thôn tính bởi tha nhân, giúp con người
dám nhìn thẳng vào thực tế cuộc sống, bỏ
vào ngoặc những ý tưởng trừu tượng phi
thực tế.
Về sự tự do lựa chọn và trách nhiệm
đối với sự lựa chọn: Theo các nhà hiện
sinh, nếu cần định nghĩa người thì người
đầu tiên không là gì cả, về sau có thành cái
gì thì là do sự lựa chọn của tự do. Tự do là
hữu, là bản thể của hiện hữu nhân loại, của
cá nhân. Con người không thể chối bỏ
được điều đó bởi lẽ như vậy là từ chối vị trí
căn bản của đời mình. Tự do là cái được
phán quyết cho con người. Do đó, con
người không phải được tự do mà bị tự do.
Trong tác phẩm kinh điển của mình, Hữu
thể và vô thể, Sartre đã tuyên bố: “Thực ra,
chúng ta là một tự do để lựa chọn, nhưng
chúng ta không chọn được tự do: chúng ta
bị lên án phải tự do (Sartre, 2014, tr. 530).
Sự kết án ấy bắt nguồn từ thực tế rằng
con người bị ném vào tự do. Vì vậy con
người hoàn toàn có quyền tự do lựa chọn,
chung giữa họ chỉ là ở chỗ họ cho rằng
hiện hữu đi trước bản chất hay nói cách
khác, họ xuất phát từ tính chủ thể” (Sartre,
2015, tr. 27 – 28).
Để giải thích về chủ thể tính, Sartre
khẳng định: “Con người không chỉ tồn tại
như nó được quan niệm, mà còn tồn tại
như nó muốn thể hiện; và vì nó được quan
niệm sau khi có sự hiện hữu, và nó muốn
tỏ ra sau khi có cái đà ấy hướng tới sự hiện
hữu, nên con người không là gì khác ngoài
những gì mà nó tự tạo nên. Đó là nguyên
tắc đầu tiên của thuyết hiện sinh. Đó cũng
là điều người ta gọi là tính chủ thể” (Sartre,
2015, tr. 33).
Tính chủ thể là điểm xuất phát cho sự
tự do của con người. Con người như một
tồn tại giữa vũ trụ, nhưng xét ở khía cạnh
văn hóa, nó có thể vươn vượt lên trên vũ
trụ. Con người vừa gán cho vũ trụ những
giá trị như mình muốn, vừa tự quy định
một cách tự do. Khi con người ý thức được
chủ thể của mình, thì vũ trụ trở thành thụ
103
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 64 (4/2019)
ta lựa chọn hành động như thế này hay như
thế khác, thì chúng ta đã khẳng định giá trị
của điều mà chúng ta đã chọn.
Ba là, con người phải chịu trách
nhiệm đến cùng về sự lựa chọn của mình
cho dù kết quả của nó có như thế nào, là
thành hay bại. Trách nhiệm đeo bám con
người suốt cả cuộc hành trình của cõi nhân
sinh, không vì cái gì mà từ bỏ nó, không vì
một sự thỏa hiệp nào mà chối bỏ nó, nó là
định mệnh của con người, gắn với tự do
của con người.
Như vậy, có thể nói, trong tư tưởng tự
do của chủ nghĩa hiện sinh lựa chọn và
trách nhiệm (đối với tự do) là yếu tố quan
trọng nhất. Trách nhiệm không phải là sự
sao chép lại tự do. Tự do là cái vốn có của
mỗi người, hoàn toàn không nhất thiết phải
được cấy ghép vào mỗi cá nhân riêng biệt
để rồi qua đó, cá nhân này bỗng dưng lại bị
cô lập khỏi những người khác. Sartre đã
lập luận: “Khi nói rằng con người tự mình
lựa chọn, thì chúng tôi hiểu rằng mỗi người
trong chúng ta tự mình lựa chọn, nhưng
qua đó, chúng tôi cũng muốn nói rằng,
trong khi tự mình lựa chọn ta lựa chọn tất
cả mọi người” (Sartre, 2015,tr.35). Với
nghĩa đó, mỗi người đều phải chịu trách
nhiệm về mọi người, đều phải lựa chọn con
điểm giáo dục hướng tới sự khai phóng tự
do con người cá nhân cụ thể.
a. Về mục đích giáo dục
Đối với các nhà hiện sinh, mục đích
của giáo dục là cung cấp trải nghiệm sâu
rộng và toàn diện với cuộc sống dưới mọi
hình thức, là cho phép mỗi cá nhân tự phát
triển tiềm năng đầy đủ nhất của mình để tự
hoàn thành. Do đó, mục đích giáo dục hiện
sinh bao gồm những vấn đề sau:
Phát triển bản thân đích thực của
người học
Các nhà hiện sinh cho rằng con người
không chỉ là trí tuệ, mà còn là cảm giác và
cảm xúc. Do đó, người học phải học cách
cảm nhận, để trở thành một “cá nhân được
chứng thực”. Mối quan tâm chính của chủ
nghĩa hiện sinh là sự tồn tại của “bản thân”.
Sartre giải thích hai dạng của tồn tại đó là
tồn tại tự thân và tồn tại vị thân. Tồn tại tự
thân là dạng tồn tại trong chính hiện trạng
thực tế của nó còn tồn tại vị thân là dạng
tồn tại mà con người sẽ kiến tạo nên bản
thân mình bằng những nỗ lực. Giáo dục sẽ
giúp người học phát triển bản thân mình
theo hướng tồn tại vị thân. Do đó, mục tiêu
của giáo dục là phải giúp người học phát
triển một quy mô nhất quán các giá trị, xác
thực sự tồn tại của chúng bằng cách cam
kết với các giá trị này và hành động để đạt
mình. Sự kiện bi thảm quan trọng nhất và
không thể tránh khỏi là cái chết. Theo
Heidegger con người là một tồn tại hướng
đến cái chết. Một trong những mục tiêu
chính của giáo dục chủ nghĩa hiện sinh là
thái độ đúng đắn đối với cái chết.
Giáo dục cho cái chết có thể được đưa
vào để hiểu rõ hơn về cuộc sống tốt đẹp và
nghĩa vụ của một người trong cuộc sống.
Con người nên nhận thức được cái chết của
mình trong từng khoảnh khắc của cuộc
sống. Việc nhận ra cái chết này sẽ giúp ích
trong việc tận hưởng từng khoảnh khắc
trong cuộc sống của con người do thực tế
là họ đã chuẩn bị cho cái chết. Thomas
Flynn đã nhận xét rằng: “Đối với
Heidegger, chính sự cương quyết chấp
nhận tồn – tại – hướng – đến – cái – chết
của mình mới đưa những mối bận tâm rải
rắc khác vào trong việc nhận biết ý nghĩa
của tồn tại. Đây là một cách trải nghiệm
khác về sự bất tất của ta. Một khi nhận ra
rằng vào lúc nào đó tại nơi nào ta sẽ không
105
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 64 (4/2019)
con người khẳng định giá trị của bất kỳ
hành động nào cũng là đang khẳng định
một giá trị với lời kêu gọi phổ quát “Tôi
chịu trách nhiệm cho bản thân và cho tất cả
mọi người”. Sartre cho rằng:
Nếu chúng ta muốn hiện hữu cùng một
lúc với việc chúng ta nhào nặn nên hình
ảnh của mình, thì hình ảnh ấy có giá trị đối
với tất cả mọi người và đối với toàn bộ thời
đại chúng ta. Như vậy trách nhiệm của
chúng ta lớn lao hơn nhiều so với những gì
mà chúng ta có thể nghĩ đến, vì nó liên
quan đến toàn thể nhân loại […] Như vậy
tôi chịu trách nhiệm với chính mình và với
mọi người, và tôi đã sáng tạo ra một hình
ảnh nào đó về con người mà tôi đã lựa
chọn; khi chọn lấy chính tôi, tôi chọn con
người (Sartre, 2015, tr.36 – 37).
Chính vì con người luôn sống cùng với
những sinh mệnh khác cho nên giáo dục có
trách nhiệm làm cho con người hội nhập
vào các hình thức và cấu trúc, nhóm và thể
chế của xã hội.
Phát triển ý thức trách nhiệm của
người học
Giáo dục hiện sinh nhấn mạnh đến tầm
quan trọng của trách nhiệm cá nhân, và cho
rằng không có lối nào thoát khỏi trách
nhiệm cá nhân. Nhiệm vụ của giáo viên là
của nó mang bộ mặt riêng biệt, đặc thù xa
lạ với mọi tính cách phổ quát” (Nguyễn
Tiến Dũng, 2006, tr.78) và nhấn mạnh vào
sự đa dạng chương trình giảng dạy phù hợp
với nhu cầu, khả năng và năng khiếu của cá
nhân. Chương trình giảng dạy cần đáp ứng
nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài. Nó
nên được thiết kế để người học có mọi trải
nghiệm tạo nên cuộc sống của mình.
Chương trình giảng dạy nên được lựa
chọn, sắp xếp và sở hữu bởi người học vì
mỗi cá nhân có nhu cầu và sở thích cụ thể
liên quan đến sự tự hoàn thành của mình.
Triết học hiện sinh có thể trang bị cho
người học cơ sở để lựa chọn tính chủ thể,
vì nó cung cấp cho họ cơ hội lớn hơn cho
sự phát triển và thể hiện cá nhân.
Chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh giáo
dục là để làm cho người học nhận ra những
đặc ân mà cuộc sống dành cho họ để thực
thi quyền tự do. Triết thuyết này cũng đồng
thời phản đối bất kỳ loại hình đào tạo nghề
nào ở giai đoạn sớm vì nó không giúp
người học trở thành một cá nhân tự do, mà
ngược lại đào tạo họ trở thành một dạng
người cụ thể, mặc định nào đó.
Về giáo dục đạo đức, giáo dục đạo đức
phải dựa trên những nguyên tắc đạo đức
mà người ta đã chọn một cách có ý thức
hoặc sắp chọn cho “chính bản thân mình”
nghĩa hiện sinh ủng hộ cách tiếp cận
Socratic trong giảng dạy là vì phương pháp
Socrates là cá nhân, dễ gần và người học
đạt được kiến thức và trí tuệ thông qua sự
tương tác lẫn nhau giữa người dạy và
người học. Theo các nhà hiện sinh, bất kỳ
phương pháp nào có khả năng kiểm tra đời
sống nội tâm mà không can thiệp vào tính
chủ quan của cả giáo viên và người dạy
đều được chấp nhận. Phương pháp
Socrates bao gồm “phương pháp nêu vấn
đề”. Mặc dù ủng hộ phương pháp Socrates
nhưng chủ nghĩa hiện sinh không khuyến
khích phương pháp nêu vấn đề vì nó không
mang tính cá nhân, không hiệu quả và
thường có định hướng xã hội. Tuy nhiên,
họ thừa nhận phương pháp vấn đề nếu vấn
đề bắt nguồn từ cuộc sống của người phải
tìm ra giải pháp chứ không chấp nhận nếu
vấn đề xuất phát từ nhu cầu của xã hội.
Chủ nghĩa hiện sinh không ủng hộ
giáo dục đại chúng vì nó dẫn đến việc học
vẹt nghĩa là người học lặp lại những gì
107
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 64 (4/2019)
cần thiết và có được kiến thức cần thiết.
Phương pháp hiện sinh tập trung vào cá
nhân riêng biệt. Học là tự học, tự học chỉ
đạo và bao gồm rất nhiều liên hệ của cá
nhân người học với giáo viên, người liên
quan đến mỗi học sinh một cách cởi mở và
trung thực.
d. Về trường học
Trong giáo dục, chủ nghĩa hiện sinh
tập trung vào cá nhân riêng biệt, tìm kiếm
sự hiểu biết cá nhân về thế giới. Thông qua
cách giải thích này, mỗi cá nhân đặc trưng
cho mình bằng các khái niệm về thực tế,
sự thật, lòng tốt và kết quả là các trường
học tồn tại để giúp người học nhận thức
được bản thân và vị trí của mình trong xã
hội. Trong trường phái hiện sinh thì con
người phi lý trí, tức là bản thân thẩm mỹ,
đạo đức và cảm xúc của con người thể
hiện rõ hơn bản thân lý trí, khoa học.
Những người theo chủ nghĩa hiện sinh
quan tâm nhiều hơn đến phát triển khía
cạnh hiệu quả của con người - khả năng
yêu thương, đánh giá cao và đáp ứng tình
cảm với thế giới xung quanh.
Mục đích của trường học là để nuôi
dưỡng sự tự lập và trau dồi sự tự đánh giá.
Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng việc tiếp tục
thử nghiệm sư phạm và tâm lý sẽ chẳng ích
trợ từ cuộc sống gia đình. Ở trường, trẻ có
ý tưởng trở thành một đối tượng như trong
số nhiều người trong khi ở nhà, nó tự định
hình bản thân mình. Trong gia đình, trẻ tìm
thấy điều kiện thích hợp để bồi dưỡng bản
thân đích thực. Cũng Chính trong gia đình,
trẻ em trải qua tình yêu của cha mẹ và mối
quan tâm thường xuyên đối với lợi ích của
chúng mà nhân loại giúp chúng làm chủ
những khó khăn của cuộc sống hàng ngày.
e. Về vai trò của người thầy
Chủ nghĩa hiện sinh được xem là một
trường phái triết học xem giáo dục là sự
đánh thức lại sự quan tâm của con người
đối với bản thân, nhiệm vụ của giáo viên
là đánh thức sự tự do và trách nhiệm của
học sinh.
Chủ nghĩa hiện sinh là một triết lý dựa
trên quan niệm rằng sự tồn tại của con
người là một kinh nghiệm nội tại, chủ
quan. Nó cho rằng con người có thể vượt ra
ngoài sự tồn tại đơn thuần là bản chất, bằng
cách tích cực tìm cách khám phá tính mục
đích trong sự tồn tại của họ và gán cho ý
nghĩa cá nhân của nó. Họ làm điều này
bằng cách xác thực, lựa chọn độc lập và
bằng cách nhận trách nhiệm về hậu quả của
những lựa chọn trong suốt cuộc đời của họ.
Do đó, các giáo viên phải nhận ra rằng
thực tế được trải nghiệm một cách chủ
trên ông thầy. Ông thầy nào biết dạy môn
sinh như thế thực đáng gọi là ông thầy cao
cả, ông thầy dạy ta làm người, chớ không
dạy ta làm môn sinh suốt đời” (Trần Thái
Đỉnh, 2015, tr.149). Nietzsche viết: “Giờ
đây ta ra lệnh cho các ngươi hãy đánh mất
ta và tìm chính bản lại diện mục của các
ngươi; chỉ khi nào tất cả các ngươi đều chối
bỏ phủ nhận ta, lúc đó ta mới trở lại cùng
các ngươi” (F.Niezsche, 2003, tr.159).
Giáo viên phải khuyến khích sự sáng
tạo, khám phá của người học, nhưng không
nên cố gắng hướng sinh viên hoặc áp đặt ý
chí của mình lên họ. Trách nhiệm và nghĩa
vụ của giáo viên hiện sinh là rất khó khăn
vì trong cách đối xử với “tha nhân”, người
giáo viên phải giữ sự chủ quan của chính
mình đồng thời nhận ra sự chủ quan của
người khác. Theo Jaspers, nhà giáo dục
thực thụ là người suốt đời tham gia vào quá
trình tự giáo dục thông qua giao tiếp. Giáo
dục chỉ có thể trở nên đúng đắn nếu người
tiếp nhận nó có được khả năng giáo dục
109
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 64 (4/2019)
con người với bản thân bị phá vỡ. Con
người bị quy đồng trong những mẫu số
chung của những định chế, quy ước của xã
hội, luôn lo lắng và thất vọng. Cá nhân trở
thành con người phiến diện, con người một
chiều kích. Marcuse cho rằng: “khi sự phát
triển của công nghệ hiện đại tạo ra những
“false needs” (những nhu cầu giả tạo), ví dụ
như chủ nghĩa tiêu thụ, và là cái bóng khổng
lồ chế ngự sự đa dạng, tính sáng tạo, cái
nhìn khai phóng trong đời sống con người”.
bản thân thông qua việc học tập nghiêm
ngặt và bền bỉ.
f. Về mối quan hệ giữa giáo viên và
học sinh
Chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh rằng
mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh
của mình phải thân mật, gần gũi, sống
động và cá nhân hơn so với mối quan hệ
hiện có giữa hai người trong trường học
truyền thống. Học sinh trước hết được xem
như một cá nhân, biết tự chịu trách nhiệm
về những suy nghĩ, niềm tin và cách cư xử
của chính mình. Vai trò của giáo viên là
cung cấp các con đường để thăm dò học
sinh, tạo ra một môi trường mà họ có thể tự
do lựa chọn cách ưa thích của riêng mình.
Tất cả các nhà hiện sinh lên án các mối
quan hệ mang tính hình thức. Họ khẳng
(H. Marcuse, 2007, tr.7). Hình tượng “một
chiều” ở đây ám chỉ việc con người đang bị
kẹt trong một kiểu sống mòn, khi các
phương tiện truyền thông cùng nhau truyền
tải lặp đi lặp lại một vài thông điệp và
quảng bá một vài giá trị nhất định trong khi
kiến thức ngày nay là đa chiều. Bản chất
con người có nhiều mặt, phức tạp và liên
quan đến sự khác biệt cá nhân. Do đó, quan
điểm tự do trong triết lý giáo dục hiện sinh
góp phần đáp ứng nhu cầu của thời đại mới,
dần dần đưa người học đến tính chủ thể. Sự
quan tâm của chủ nghĩa hiện sinh hướng
đến “con người” - con người chân chính và
đích thực, những lựa chọn của con người
được thực hiện với toàn bộ trách nhiệm về
kết quả của sự lựa chọn để tự do. Hay nói
cách khác tự do của chủ nghĩa hiện sinh
nhấn mạnh đến sự tồn tại của con người,
phẩm chất của từng cá nhân hơn là con
người trong trừu tượng của tự nhiên và thế
giới nói chung. Cho nên, quan điểm giáo
dục của chủ nghĩa hiện sinh hướng đến làm
phong phú trí tuệ của con người để họ có
thể được tôn trọng trong mắt của chính
mình và của những người khác. Chính điều
này thúc đẩy sự sáng tạo của người học, tạo
sự khai phóng trong giáo dục, không rập
khuôn, máy móc.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, quan niệm về
xã hội thông qua đối thoại, tương tác.
3. Kết luận
Trái ngược với thế giới quan có trật tự
đã được trình bày bởi các triết lý truyền
thống, chủ nghĩa hiện sinh cố gắng giải
phóng con người khỏi thế giới các mô
phỏng. Chủ nghĩa hiện sinh làm nổi bật
tâm lý con người, tự do cá nhân và trách
nhiệm cá nhân, mạnh dạn định nghĩa con
người là một cá nhân chịu trách nhiệm tự
nhận mình trong lĩnh vực của đời mình.
Trong nỗ lực tiếp cận ban đầu, mọi người
phải thấy được kết quả rằng họ tạo ra bản
chất và giá trị của mình mà không sử dụng
các tiêu chí bên ngoài. Giáo dục hiện sinh
coi tự do của con người là nhiệm vụ quan
trọng nhất của nó. Giáo viên hiện sinh
nhấn mạnh tâm lý của cá nhân và cố gắng
thúc đẩy sự tự nhận thức và ý thức trách
nhiệm trong học sinh. Thông qua các lựa
chọn có ý nghĩa cá nhân, người học có thể
tự tạo cá tính cho riêng mình. Mục tiêu của
loại hình giáo dục này không thể được xác
111
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 64 (4/2019)
Biên tập xong: 15/4/2019
112
Duyệt đăng: 20/4/2019