Quan niệm về tự do trong triết học hiện sinh vô thần và ý nghĩa đối với lối sống của sinh viên hà nội hiện nay (Tóm tắt, trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THANH AN

QUAN NIỆM VỀ TỰ DO TRONG TRIẾT HỌC
HIỆN SINH VÔ THẦN VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI
LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THANH AN

QUAN NIỆM VỀ TỰ DO TRONG TRIẾT HỌC
HIỆN SINH VÔ THẦN VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI LỐI
SỐNG CỦA SINH VIÊN HÀ NỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành

: Triết học

Mã số

: 60 22 03 01

1.3.2.Tính tuyệt đối của tự do con người ........................................................ 48
1.3.3. Tự do với tư cách là lựa chọn giá trị hiện sinh và hành động theo sự
lựa chọn của mỗi cá nhân ............................................................................... 55
1.3.4. Tự do như là nền tảng và cơ sở đánh giá mọi giá trị đạo đức ............. 60
1.3.5. Tự do gắn liền với trách nhiệm ............................................................. 62
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 65
CHƢƠNG 2. Ý NGHĨA CỦA QUAN NIỆM VỀ TỰ DO TRONG TRIẾT
HỌC HIỆN SINH VÔ THẦN ĐỐI VỚI LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN
HÀ NỘI HIỆN NAY ..................................................................................... 66
2.1. Lối sống, sinh viên và lối sống sinh viên............................................... 66
2.1.1. Khái niệm lối sống ................................................................................ 66
2.1.2. Khái niệm sinh viên và lối sống sinh viên ............................................. 70
2.2. Lối sống của sinh viên ở Hà Nội hiện nay ............................................ 74
2.2.1. Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến lối sống của sinh viên Hà Nội ....... 74


2.2.2. Một số biểu hiện tiêu cực còn tồn tại trong lối sống của sinh viên ở Hà
Nội hiện nay .................................................................................................... 79
2.3. Một số giá trị, hạn chế của quan niệm về tự do trong triết học hiện
sinh vô thần và ý nghĩa của nó đối với lối sống của sinh viên Hà Nội hiện
nay ................................................................................................................... 91
2.3.1. Những giá trị và hạn chế của quan niệm tự do trong triết học hiện sinh
vô thần ............................................................................................................. 91
2.3.2. Ý nghĩa của quan niệm về tự do trong triết học hiện sinh vô thần đối với
nhận thức của sinh viên................................................................................... 97
2.3.3. Ý nghĩa của quan niệm về tự do trong triết học hiện sinh vô thần đối với
hành động của sinh viên ................................................................................ 100
Kết luận chƣơng 2 ....................................................................................... 102
KẾT LUẬN .................................................................................................. 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 106

triết học hiện sinh vô thần và ý nghĩa của nó đối với lối sống của sinh viên ở
1


Hà Nội hiện nay có giá trị tích cực để chúng ta nhìn nhận, xây dựng và làm
giàu thêm nét đẹp văn hóa Việt.
Thứ nhất, triết học hiện sinh hiện đại là một trào lưu triết học phi duy lý
ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất tại Đức, sau đó phát triển mạnh mẽ ở
Pháp từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là một sự phá cách, một “độc
đáo” so với triết học duy lý truyền thống. Bao thế kỷ đã trôi qua, từ triết học
của Platon, Aristotle cho đến Descartes, Kant, Hegel, con người chỉ đăm đăm
đi tìm những nét huyền vi của tạo hóa mà quên suy ngẫm về thân phận, định
mệnh của mỗi con người cá nhân trong xã hội, quên việc mỗi người là một
độc đáo không lặp lại ở bất kì một sự vật nào trong vũ trụ. Triết học hiện sinh
ra đời để giải quyết được vấn đề trên.
Thứ hai, triết học duy lý không phải không bàn đến vấn đề tự do của
con người,nhưng tự do theo triết học này là hành động nhờ đó con người được
giải phóng khỏi sự phụ thuộc vào tính tất yếu bên ngoài, song đó không phải
là hành động tùy tiện mà là khả năng nhận thức và hành động theo quy luật
khách quan. Chỉ khi nào và nơi nào con người khai phá tự nhiện một cách chủ
động và hợp quy luật thì con người mới có tự do. Mặt khác, trong triết học
duy lý thì vấn đề tự do gắn liền với mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Ở đó,
tự do của cá nhân bị phụ thuộc vào tự do của xã hội, phải hi sinh cho lợi ích
chung của toàn xã hội. Triết học hiện sinh không quan niệm như vậy, tự do
của mỗi cá nhân được quan tâm hàng đầu. Mỗi con người tồn tại trên thế giới
đều có quyền tự do, tự do lựa chọn, sáng tạo nên chính bản thân mình.
Thứ ba, bước vào xã hội hiện đại với sự phát triển như vũ bão của khoa
học - kĩ thuật và công nghệ, sự hào nhoáng xa hoa của vật chất mà nó mang
lại, con người đang có nguy cơ đánh mất đi bộ mặt của mình, đánh mất đi
những giá trị nhân văn và kéo theo nó là sự phi nhân tính trong quan hệ giữa

lành mạnh của sinh viên ở Hà Nội hiện nay.
Từ những lý do trên tác giả lựa chọn vấn đề Quan niệm về tự do trong
triết học hiện sinh vô thần và ý nghĩa đối với lối sống của sinh viên Hà Nội
hiện nay làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
3


2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
* Các công trình nghiên cứu về những điều kiện tiền đề cho sự ra đời
của quan niệm tự do trong triết học hiện sinh
Khi nói về điều kiện ra đời của triết học hiện sinh, tác giả Nguyễn Tiến
Dũng (2006) trong cuốn Chủ nghĩa hiện sinh, lịch sử, sự hiện diện của nó ở
Việt Nam [10] và tác giả Nguyễn Thị Thường (2007) trong báo cáo Sự hình
thành, phát triển và đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh in trong cuốn
“Những vấn đề triết học phương Tây thế kỷ XX” [72] cùng cho rằng, triết học
hiện sinh ra đời từ hai điều kiện cơ bản: một là, phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa chạy theo lợi nhuận và sự sùng bái khoa học - kỹ thuật một cách
thái quá đã làm cho xã hội phương Tây sa vào khủng hoảng, suy đồi, bởi vì
nó phi nhân vị hóa con người; hai là, phản ứng trước sự thống trị thái quá của
chủ nghĩa duy lý trong xã hội phương Tây hiện đại. Đứng trước câu hỏi chiến
tranh có phải là nguồn gốc dẫn đến sự ra đời của triết học hiện sinh không?
Các tác giả đều cho rằng hai cuộc chiến tranh không phải là nguồn gốc sâu xa
mà chỉ là điều kiện trực tiếp dẫn đến sự ra đời của triết học hiện sinh.
Cuốn sách Triết học phương Tây hiện đại (phần thứ nhất: cuối thế kỷ
XIX - nửa đầu thế kỷ XX) [37] của tập thể tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn
Thanh, Nguyễn Anh Tuấn (2008) đã phác họa một cách khá toàn diện về triết
học hiện sinh. Trong tác phẩm này, các tác giả đã phân tích làm sáng tỏ các
tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của triết học hiện sinh - đó là tư tưởng triết học
của Dostoevski như nhà tiền khởi của triết học hiện sinh, của S. Kierkegaard
như ông tổ của triết học hiện sinh và của E. Husserl như người đặt nền móng

Trong công trình Những chủ đề cơ bản của triết học phương Tây [45],
tác giả Phạm Minh Lăng (2003) quan tâm nhiều nhất đến phạm trù tự do.
Theo ông, trở thành tự do là trở về với chính mình. Tự do là cái mọi người
được lựa chọn và thể hiện. Tự do là hư vô. Ông đã diễn tả quan niệm của
Sartre: “hư vô không phải là cái gì khác hơn là giá trị tỏa ra từ một dự định tự
do và xuất hiện như là một ý tưởng làm cho thế giới không hiện diện bởi sự từ
chối của chính ta” [45, tr.390].

5


Tác giả Trần Thái Đỉnh (tái bản 2005), trong cuốn sách Triết học hiện
sinh [18] cũng bàn đến những phạm trù cơ bản trong triết học hiện sinh như
buồn nôn, phóng thể, ưu tư, vươn lên, tự quyết, độc đáo... Tuy nhiên, trong
các phạm trù đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến hai phạm trù tự do và trách
nhiệm, thông qua tư tưởng của một số nhà triết học hiện sinh như Marcel,
Sartre, Jaspers. “Tự do và định mệnh” là “hai đặc điểm làm con người khác
sự vật, và làm cho một người đã vươn tới hiện sinh khác một người sống
trong tình trạng sự vật” [18, tr.281]. Ông cho rằng, nhân cách là cái do con
người cá nhân tạo ra chứ không phải do trời phú cho, vậy nên, tự do mới thực
sự là thước đo giá trị của con người. Con người có tự do lựa chọn nhưng lựa
chọn của con người là không có lý do: “Sự lựa chọn của ta không bao giờ có
lý do. Sự lựa chọn đó bao giờ cũng đi trước lý do.
Tác giả Đỗ Minh Hợp (2005) trong bài Tư tưởng đạo đức của Gi.P.
Xáctơrơ [33] đã chỉ ra nguyên lý đầu tiên của chủ nghĩa hiện sinh là: hiện
sinh là hư vô, là lựa chọn trong tình huống cụ thể. Khái niệm về tự do là đặc
trưng cơ bản, là tính thứ nhất của hiện sinh, là điểm xuất phát khi nghiên cứu
các phạm trù đạo đức khác của Sartre. Tự do cái phân biệt con người với các
sự vật hiện tượng khác. Khi bàn về tự do, tác giả cho rằng có thể đưa ra định
nghĩa duy nhất về tự do là sự tự chủ lựa chọn và tự do không thể tách rời

nhận tự do của con người là nét đặc trưng phân biệt con người với mọi thực
thể khác trong vũ trụ. Tự do là bản chất của con người, là cội nguồn của hoạt
động của con người, là khả năng tồn tại duy nhất của con người. Bằng sự lựa
chọn tự do của mình, con người phác họa nên chính mình. Tác giả cho rằng,
lựa chọn hiện sinh là một đặc trưng vinh quang của con người, bởi nó mang
lại phẩm giá cho con người. Điều đáng chú ý là, tác giả Đặng Hữu Toàn cũng
gắn phạm trù trách nhiệm trong mối quan hệ với phạm trù tự do.
Tác giả Hoàng Văn Thắng (2007) trong bài viết Tìm hiểu quan niệm
của Jean Paul Sartre về hiện sinh in trong cuốn Những vấn đề triết học thế kỉ
XX [72], đã phân tích quan niệm của J.P. Sartre về hiện sinh. Trên cơ sở đó
tác giả cũng đưa ra quan điểm của mình về phạm trù tự do. Không phân tích
sâu về phạm trù này, nhưng theo tác giả, con người hiện hữu là khi có tính
7


sáng tạo và tự do. Khi mới sinh ra, con người không là gì cả, còn trong cuộc
sống con người là tổng thể những cái do mình tạo nên. Con người tự tạo nên
số phận của chính bản thân mình, tự mình làm nên bản chất mình. Do đó, con
người phải chịu trách nhiệm và thực hiện những lựa chọn.
Một trong những đóng góp quan trọng vào nghiên cứu về vấn đề đạo
đức trong triết học hiện sinh là công trình Triết học hiện sinh [38] của nhóm
tác giả Đỗ Minh Hợp, Trần Thị Điểu... (2010). Sau khi trình bày có hệ thống
các quan điểm cơ bản của các nhà hiện sinh, các tác giả đã đi sâu phân tích
làm rõ các phạm trù đạo đức cơ bản của các nhà triết học hiện sinh như tự do,
trách nhiệm, lo âu, sợ hãi,... Đặc biệt, sự phân tích đã làm nổi bật phạm trù tự
do và trách nhiệm như một luận điểm chủ yếu trong quan điểm của các triết
gia hiện sinh về đạo đức. Tuy nhiên, việc nghiên cứu phạm trù tự do và trách
nhiệm chỉ dừng lại ở một số triết gia tiêu biểu như A. Camus, J.P. Sartre,...
Sau khi phân tích các quan điểm của Sartre về tự do, tự do là bản tính của con
người, con người buộc phải có tự do, bị quẳng vào tự do,… các tác giả đưa ra

Sartre mà phải tuân theo đấng sinh thành là Thượng đế. Sự chỉ dẫn của
Thượng đế không phải là sự phục tùng sức mạnh ở bên ngoài mà là tự mình
hiểu lấy. Người nào hiểu được tự do tức là đã vượt qua giới hạn cá nhân mà
hòa hợp với Thượng đế. Cũng nói về tự do nhưng với Sartre, tự do là tuyệt
đối. Tự do của con người có trước bản chất, làm cho con người khác biệt với
vật. Mọi đặc tính của con người không phải sinh ra là có sẵn hay do Thượng
đế ban cho, mà là do con người tự do tạo nên theo nguyện vọng của mình.
Mặt khác, tự do cá nhân gắn liền với trách nhiệm (trách nhiệm về sự lựa chọn
của mình trước chính bản thân mình và trước tất cả mọi người).
Trong cuốn Nhập môn triết học phương Tây [63] các tác giả Samue
Enach Stumpt và Donald C. Abel (2004) đã bàn đến phạm trù tự do như là
phạm trù trung tâm của đạo đức học Sartre. Sartre nhìn tự do như điểm đặc
trưng phân biệt con người với mọi thực thể khác trong vũ trụ. Con người hiện
sinh là tự do, nên con người có thể tạo dựng nên bản thân mình trở thành loại
hữu thể mà mình chọn. Tự do không phải là lựa chọn các giá trị đúng, mà
chính hành vi chọn lựa của chúng ta tạo cho nó giá trị, làm cho nó thành tốt.
9


Nhiệm vụ của mỗi cá nhân chúng ta là nhận thức được tự do của mình và sử
dụng nó để tạo ra chính mình. Theo các tác giả, con người theo quan niệm của
các nhà hiện sinh, là không xác định, đó vì ban đầu nó không là gì cả. Chỉ sau
đó nó mới và sẽ là cái gì, và tự nó sẽ làm nó thành cái gì. Theo các tác giả, tự
do hiện sinh luôn gắn với trách nhiệm của họ. Con người hoàn toàn chịu trách
nhiệm về việc mình là con người nào và chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của
mình trước chính bản thân mình và mọi người khác.
Tác phẩm Chủ nghĩa hiện sinh [6] của tác giả Jacques Colette (2011)
bàn về khái niệm hiện sinh, các phạm trù cơ bản trong tư tưởng triết học của
các nhà hiện sinh. Khi nói về phạm trù tự do, tác giả cho rằng, theo các triết
gia hiện sinh thì hiện sinh có trước bản chất, hiện sinh và tự do là một. Tự do

này, xu hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta vừa là động lực, vừa là
đòi hỏi của sự phát triển của khoa học công nghệ và văn hóa – giáo dục… là
cơ hội thuân lợi cho sự phát triển của sinh viên. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó,
thanh niên sinh viên cũng chịu những khó khăn thách thức không nhỏ. Các
thách thức khó khăn đó là: sự bùng nổ dân số làm tăng sức cạnh tranh trong
giáo dục; kinh tế thị trường dẫn đến nguy cơ thất nghiệp cao, phân hóa giàu
nghèo rõ rệt hơn; việc thục hiện công nghiệp hóa, hiện đai hóa làm thay đổi
nhip sống, phong cách sống của cá nhân, con người bị hút vào công việc, các
hoạt động xã hội. Điều đó có thể ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong gia
đình, làm giảm sự quan tâm của bố mẹ đối với việc chăm sóc, giáo duc con
cái làm ảnh hưởng đến lối sống của sinh viên.
Ngoài ra, chúng ta phải kể tới công trình nghiên cứu về Định hướng giá
trị cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay [1] của Ban thanh niên trường học
(2007). Nghiên cứu này đã phát hiện những biểu hiện và xu hướng biến đổi
định hướng giá trị của sinh viên trên ba nội dung: Một là, định hướng giá trị
về nhận thức mục đích sống; hai là, định hướng giá trị trong hoạt động hoc
tập và nghiên cứu khoa học; ba là, định hướng giá trị về mối quan hệ giữa
con người với con người. Đề tài cũng đề cập và phân tích vai trò quan trọng
của Đoàn Thanh niên và các tổ chức đoàn thể sinh viên trong xây dưng

11


phương hướng, hệ chuẩn mực giá trị nhằm phát huy sức mạnh về tri thức của
giới trẻ, đặc biệt là sinh viên vốn là nguồn lực, là tương lai của đất nước.
Bên cạnh đó còn có luận án tiến sĩ xã hội học của Phạm Tất Thắng
(2009) về Định hướng giá trị sinh viên [66] có giá trị tham khảo nhất định cho
luận văn. Nghiên cứu cũng phản ánh thực trạng của định hướng giá trị của
sinh viên của 11 đơn vị đào tạo trên địa bàn Hà Nội ở các khía cạnh của cuộc
sống như: định hướng giá trị của sinh viên về tình yêu, tình bạn hay định

nhận diện những đăc trưng về hệ thống giá trị của con người Việt Nam cũng
như xu hướng vận động của nó theo từng giai đoạn. Tuy nhiên, mỗi nghiên
cứu đều xuất phát từ những góc độ khác nhau, mục đích nghiên cứu khác
nhau và trong những giai đoạn khác nhau nên chắc chắn sẽ có nhiều vấn đề
chưa được đề cập đến kịp thời. Chính vì vậy, luận văn Quan niệm về tự do
trong triết học hiên sinh vô thần và ý nghĩa đối với lối sống của sinh viên Hà
Nội hiện nay được thực hiện nhằm làm sáng tỏ hơn những ý nghĩa tích cực
của quan niệm tự do trong triết học hiện sinh vô thần đối với hình thành lối
sống của sinh viên Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Luận văn làm sáng tỏ quan niệm của triết học hiện sinh vô
thần về tự do, những biểu hiện của nó và chỉ ra ý nghĩa của nó đối với việc
định hướng lối sống lành mạnh cho sinh viên ở Hà Nội hiện nay.
* Nhiệm vụ: Thứ nhất, phân tích những điều kiện và tiền đề cho sự ra
đời của quan niệm về tự do trong triết học hiện sinh vô thần.
Thứ hai, làm rõ những nội dung chủ yếu của quan niệm về tự do trong
triết học hiện sinh vô thần.
Thứ ba, xây dựng khái niệm lối sống sinh viên và chỉ ra một số đặc
điểm của sinh viên Việt Nam nói chung và sinh viên Hà Nội hiện nay nói
riêng.
Thứ tư, chỉ ra những hạn chế cần khắc phục trong lối sống của sinh
viên Hà Nội hiện nay và nêu một số ý nghĩa nhận thức và thực tiễn của quan
niệm về tự do trong triết học hiện sinh vô thần đối với lối sống của sinh viên ở
Hà Nội hiện nay.
13


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm về tự do trong triết học hiện sinh
vô thần và ý nghĩa của nó đối với lối sống của sinh viên ở Hà Nội hiện nay.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status