1
t tởng xoá bỏ chế độ t hữu trong tác phẩm tuyên
ngôn của đảng cộng sản. ý nghĩa của nó trong phát
triển kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta
Tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do C. Mác và Ăngghen
soạn thảo từ tháng Chạp năm 1847 đến tháng giêng năm 1848 hoàn
thành và in thành sách riêng ở Luân Đôn vào tháng 2/1848. Tác phẩm ra
đời đánh dấu sự hình thành về cơ bản hệ thống lý luận khoa học của chủ
nghĩa Mác - Lênin, sự chín muồi của chủ nghĩa xã hội khoa học và là
tuyên bố về sự cáo chung của các trào lu xã hội chủ nghĩa không tởng trớc Mác. Đồng thời là cơng lĩnh chính trị đầu tiên đánh dấu sự phát triển
mới về chất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Đã đến lúc những ngời cộng sản phải công khai trình bày trớc toàn thế
giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình và phải có một tuyên ngôn của
Đảng, của mình để đập lại câu chuyện hoang đờng về bóng ma cộng sản1.
Tác phẩm gồm 4 chơng.
Chơng 1: T sản và vô sản.
Chơng 2:Những ngời vô sản và những ngời cộng sản.
Chơng 3: Văn học xã hội chủ nghĩa và CSCN.
Chơng 4: Thái độ của những ngời cộng sản đối với các Đảng đối lập.
Một trong những t tởng vĩ đại, mang giá trị nhân văn cao cả trong
tác phẩm: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là: Những ngời cộng sản có
thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xoá
bỏ chế độ t hữu2.
1
2
C. Mác và Ăngghen Toàn tập, Tập 4 Nxb CTQG, ST, H. 1995, tr. 595.
C. Mác và Ăngghen Sđd, tr. 616.
C. Mác và Ăngghen Sđd, Tập 13, tr.14 - 15.
3
phân phối và chế độ quản lý. Quan hệ sản xuất, đến lợt nó, với t cách là
cơ sở hạ tầng lại quyết định thợng tầng kiến trúc. Trong các phơng thức
sản xuất của cải vật chất cụ thể thì ai, giai cấp nào nắm quyền sở hữu t
liệu sản xuất thì ngời đó, giai cấp đó quyết định việc điều khiển các hoạt
động trong quá trình sản xuất và chi phối số của cải sản xuất ra, đồng
thời cũng là lực lợng thống trị xã hội. Chính vì thế, vấn đề sở hữu về t
liệu sản xuất từ xa đến nay luôn luôn là một trong những vấn đề cơ bản
và sâu xa của mọi cuộc cách mạng xã hội. Loài ngời đã trải qua nhiều chế
độ sở hữu t liệu sản xuất phát triển từ thấp, đến cao, nhng tựu chung lại
chỉ có hai chế độ sở hữu cơ bản đó là: sở hữu công cộng (còn gọi là sở hữu
xã hội hoặc công hữu) và sở hữu t nhân (còn gọi là t hữu).
Chế độ sở hữu là vấn đề cơ bản và quan trọng của chủ nghĩa Mác
-Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin coi việc xoá bỏ chế độ t hữu, xác lập chế
độ công hữu về t liệu sản xuất là một đặc trng cơ bản trong cuộc cách
mạng xã hội - xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong tác phẩm: Những nguyên
lý của chủ nghĩa cộng sản Ăngghen viết: Thủ tiêu chế độ t hữu là một
cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã
hội; việc cải tạo này là kết quả tất yếu của sự phát triển công nghiệp 1
Trong tác phẩm: Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và
Ăngghen một lần nữa khẳng định: Những ngời cộng sản có thể tóm tắt
lý luận của mình thành một luận điểm chung nhất này là: Xoá bỏ chế độ
t hữu2.
Vậy hiểu t tởng nêu trên của Mác và Ăngghen về xoá bỏ chế độ t
hữu thế nào cho đúng? và t tởng đó phải chăng có phải là một ý tởng
chủ quan duy ý chí của những ngời sáng lập chủ nghĩa cộng sản?
sản để giành lấy những lực lợng sản xuất xã hội, đó là con đờng duy nhất
để giải phóng mình khỏi ách áp bức, bóc lột của giai cấp t sản. Ngày nay
1
2
C. Mác và Ăngghen Sđd, Tập 3,tr. 51.
Sđdtr.610.
5
ở các nớc t bản phát triển, trong nhiều công ty t bản chủ nghĩa đã
xuất hiện sở hữu của ngời lao động. Ngời công nhân có cổ phần của
mình trong công ty. Đó là hiện tợng có thật không thể phủ nhận. Tuy
nhiên, cần thấy rằng tất cả các hiện tợng đó đều nằm trong khuôn
khổ: Sự điều chỉnh và thích nghi của chủ nghĩa t bản. Về bản chất của
chế độ TBCN, của quan hệ sản xuất t bản vẫn không hề thay đổi, vẫn
là chế độ chiếm hữu t nhân TBCN về t liệu sản xuất, là nguyên nhân
của mọi nguyên nhân dẫn đến áp bức bóc lột lao động làm thuê của
giai cấp công nhân. Và là cơ sở điều kiện để nô dịch, áp đặt dân tộc
khác. Vì vậy, muốn thoát khỏi cách áp bác, bóc lột, thì giai cấp công
nhân phải lựa chọn việc thủ tiêu chế độ t hữu là tất yếu khách quan.
Nh vậy cả về mặt lý luận cũng nh thực tiễn phơng thức sản xuất t bản
chủ nghĩa Mác và Ăngghen đề xớng t tởng xoá bỏ chế độ t hữu là hoàn
toàn khách quan, hợp quy luật. Vậy thì xoá bỏ chế độ t hữu hiểu thế
nào?
Xoá bỏ chế độ t hữu, xác lập chế độ công hữu là một quan điểm cơ
bản trong các học thuyết xã hội chủ nghĩa trớc Mác, đặc biệt là trong
CNXH không tởng pháp với tính cách là một nguồn gốc của chủ nghĩa
Mác. Từ đó có ngời cho rằng các tác giả của tuyên ngôn vẫn cha thoát khỏi
ngay lập tức đợc, mà phải làm dần dần, từng bớc thích hợp và chỉ khi nào
nêu đợc một lực lợng sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấu mới
thủ tiêu đợc chế độ t hữu. Trong những nguyên lý của chủ nghĩa cộng
sản, Ăngghen viết:Không, không thể đợc, cũng ý nh không thể làm cho
1 ,2, 3
: Sđd tr. 4, tr.615, 616.
7
lực lợng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây
dựng một nền kinh tế công hữu1.
Nh vậy, xoá bỏ sở hữu t sản; là sự sở hữu mà nhờ đó nhà t bản có
thể bóc lột đợc lao động làm thuê của ngời lao động và nó buộc ngời lao
động chỉ sống trong chừng mực mà giai cấp thống trị đòi hỏi nh thế
xoá bỏ chế độ t hữu mà tuyên ngôn đề cập, không có nghĩa là xoá bỏ sở
hữu nói chung. Hình thức sở hữu mà những ngời cộng sản không chủ trơng xoá bỏ là sở hữu cá nhân của ngời lao động. Trong thực tế lịch sử
chế độ t hữu ra đời từ sự phát triển của sở hữu cá nhân. Nhng sự khác
nhau giữa hai loại sở hữu đó thì rất rõ. Sở hữu cá nhân là, sở hữu do cá
nhân mỗi ngời làm ra, kết quả lao động của cá nhân 2; còn chế độ t hữu
lại là phơng thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối
kháng giai cấp, trên cơ sở những ngời này bóc lột những ngời kia3. Do
đó, việc xoá bỏ t hữu ở đây đợc quan niệm là xoá bỏ cả một chế độ t
hữu- chế độ t hữu t sản. Cái chế độ t hữu gắn liền với sự bóc lột và thống
trị của toàn bộ giai cấp t sản đối với toàn bộ giai cấp công nhân. Trong
các xã hội có dựa trên chế độ t hữu, sở hữu cá nhân của một số ít ngời đợc phát triển bằng cách tớc đi sở hữu cá nhân của đa số những ngời khác.
Còn chủ nghĩa cộng sản làm cho sở hữu cá nhân không còn có thể biến
thành sở hữu t sản đợc nữa4. Tuy nhiên chủ nghĩa cộng sản không tớc
bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa
động đã bị chế độ t bản xoá bỏ. Sở hữu cá nhân theo quan điểm của các
nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản thì không chỉ là những sản phẩm lao
động về tính chất là t liệu tiêu dùng mà nhiều ngời lâu nay vẫn tin tởng.
Sở hữu cá nhân còn phải bao gồm cả t liệu sản xuất nhng không còn
mang tính chất t nhân mà tồn tại trong sự thống nhất với sở hữu xã hội.
Trong chế độ cộng sản chủ nghĩa, sở hữu xã hội, đợc biểu hiện là sở hữu
của những cá nhân đã liên hợp với nhau, một liên hợp trong đó sự phát
triển tự do của mỗi ngời là điều kiện cho sự phát triển tự do của cả mọi
ngời1.
1
1
Sđd, Tập 22, tr. 1059, 1060.
Sđd, Tập 4, tr. 628.
9
Tóm lại, tất cả những vấn đề đã trình bày ở trên đã làm rõ t tởng
xoá bỏ chế độ t hữu trong tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Mặc dầu
thời gian đã trải qua hơn 155 năm, thực tiễn đã có nhiều thay đổi, song
đến nay t tởng đó vẫn còn nguyên giá trị, là kim chỉ nam cho sự nghiệp
xây dựng chế độ XHCN nói chung và quá độ lên CNXH ở nớc ta nói
riêng.
Song một vấn đề đặt ra là liệu có mâu thuẫn không? trong khi khẳng
định t tởng xoá bỏ chế độ t hữu trong Tuyên ngôn là đúng đắn, có cơ
sở khoa học và hợp quy luật khách quan. Tại sao Liên Xô (cũ) và một số
nớc XHCN ở Đông Âu, sau 80 năm xây dựng CNXH trên cơ sở chế độ
sở hữu công cộng lại bị đổ vỡ. Việt Nam ta vào cuối những năm thập kỷ
80 đã cơ bản hoàn thành xoá t hữu sao kinh tế lại kém phát triển, đời
điều, mà là kim chỉ nam cho hành động.
Thực hiện lời di huấn đó, kiên quyết đổi mới t duy, khắc phục
những sai lầm trong vận dụng cứng nhắc và máy móc các nguyên lý của
tuyên ngôn của Đảng Cộng sản mà trực tiếp là t tởng xoá bỏ chế độ t
hữu. Đảng ta xác định việc xoá bỏ t hữu t sản bằng sở hữu công cộng
vẫn phải còn là một quá trình dần dần, diễn ra lâu dài theo đó, ắt phải có
một quá trình đan xen giữa các yếu tố công hữu, t hữu chứ không phải
ngay lập tức đã xoá bỏ ngay đợc tính quá độ ấy. Quá trình đi lên CNXH
từ một nớc với nền sản xuất nhỏ còn là phổ biến, chế độ t hữu cha trở
thành vật chớng ngại mà ngợc lại đang có vai trò tích cực cho sự phát
triển của sản xuất thì việc xoá bỏ chế độ t hữu, xác lập chế độ công hữu
còn phải dần dần hơn, lâu dài hơn. Nh thế trong sự tất yếu còn tồn tại khá
lâu dài các hình thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất. Đảng ta nhận
11
rõ vấn đề đó và chủ trơng phát triển đa dạng hoá các hình thức sở hữu
nh đã nêu trên. Chính là quá trình tự giác xác lập một hệ thống quan hệ
sản xuất từng bớc phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất một chủ trơng đúng với quy luật và phù hợp với ý tởng của Mác và
Ăngghen.Mô hình kinh tế nhiều thành phần , dựa trên sự đa dạng các
hình thức sở hữu, trong đó kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo cùng với
kinh tế tập thể phát triển dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế .Đã
có tác dụng động viên sức mạnh toàn dân đầu t trí tuệ ,vốn liếng ...vào
phát triển sản xuất. Với chủ trơng, chính sách này, chúng ta vừa khuyến
khích vừa động viên sở t hữu t nhân phát triển trong những ngành nghề,
lĩnh vực mà pháp luật không cấm, vừa từng bớc xây dựng, củng cố và
phát triển quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với bớc
đi thích hợp, phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. ở đây,
chế độ công hữu với sự đa dạng của nó sẽ dần xác lập đợc sự thống trị