Quan niệm về con người trong triết học hiện sinh của albert camus (Tóm tắt, trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƢƠNG THỊ LAN

QUAN NIỆM VỀ CON NGƢỜI TRONG TRIẾT HỌC
HIỆN SINH CỦA ALBERT CAMUS

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƢƠNG THỊ LAN

QUAN NIỆM VỀ CON NGƢỜI TRONG TRIẾT HỌC
HIỆN SINH CỦA ALBERT CAMUS

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 03 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Điểu

Chủ tịch hội đồng

Ngƣời hƣớng dẫn

PGS.TS Nguyễn Vũ Hảo


Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn

Dương Thị Lan


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................2
Chƣơng 1. ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI QUAN NIỆM VỀ CON NGƢỜI
TRONG TRIẾT HỌC HIỆN SINH CỦA ALBERT CAMUS ............................14
1.1. Những điều kiện và tiền đề lý luận ra đời quan niệm về con ngƣời trong
triết học hiện sinh của Albert Camus ....................................................................14

1.1.1. Điều kiện kinh tế và xã hội .................................................................... 14
1.1.2. Tiền đề lý luận ....................................................................................... 20
1.2. Giới thiệu về Albert Camus – cuộc đời và các tác phẩm tiêu biểu.... 34
1.2.1. Giới thiệu chung về Albert Camus ........................................................ 34
1.2.2. Các tác phẩm tiêu biểu của Albert Camus ............................................ 37
Chƣơng 2. NỘI DUNG CƠ BẢN QUAN NIỆM VỀ CON NGƢỜI TRONG
TRIẾT HỌC HIỆN SINH CỦA ALBERT CAMUS...............................................44

2.1. Quan niệm về con ngƣời tồn tại trong phi lý của Albert Camus ...... 44
2.1.1. Vấn đề phi lý.......................................................................................... 44
2.1.2. Sự tồn tại phi lý và nhận thức phi lý ..................................................... 48
2.2. Quan niệm về con ngƣời nổi loạn của Albert Camus ......................... 61
2.2.1. Vấn đề nổi loạn ..................................................................................... 61
2.2.2. Hình thức nổi loạn ................................................................................ 67
2.3. Một số đánh giá quan niệm về con ngƣời trong triết học hiện sinh của
Albert Camus .................................................................................................. 70

hợp với xu thế phát triển của xã hội mới thì cũng xuất hiện một bộ phận người
thích sống hưởng thụ, thụ động, ỷ lại, sống theo kiểu nước chảy bèo trôi, anh
sống sao thì tôi sống vậy, không có chính kiến, không có lý tưởng sống cho
riêng mình. Xã hội hiện đại, chúng ta đã phải đối mặt không ít nguy cơ trong
đó có nguy cơ phai nhạt bản chất dân tộc của một bộ phận dân cư, đặc biệt là
2


lớp trẻ dễ đánh mất bản thân mình, đánh mất năng lực cá nhân mà nguy hiểm
hơn là đánh mất nhân cách của mình. Bài học kinh nghiệm của chủ nghĩa hiện
sinh đã chỉ rõ nếu con người chỉ chạy theo giá trị vật chất, quá tin đến mức
giao phó cuộc đời của mình cho những tiến bộ của công nghệ kỹ thuật thì sớm
muộn sẽ có nguy cơ rơi vào tình trạng tha hóa, con người bị phụ thuộc vào
chính những lực lượng mà con người sáng tạo ra. Con người trong chúng ta sẽ
không có bản sắc riêng.
Khai thác tính độc đáo và bản sắc riêng mỗi con người là tinh thần
chung của triết học hiện sinh. Trong đó, quan niệm về con người nổi loạn của
Albert Camus là sự khác biệt mang dấu ấn cá nhân trong tinh thần chung đó.
Nổi loạn là tư tưởng rất đáng tìm hiểu để thấu hiểu sâu sắc hơn và tìm thấy
giải pháp cho đời sống nội tâm, tinh thần con người thời hiện đại. Tuy nhiên
việc tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề này tại Việt Nam dưới góc độ triết học
chưa được rộng rãi.
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quan niệm về con
ngƣời trong triết học hiện sinh của Albert Camus” làm đề tài luận văn
chuyên ngành triết học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Albert Camus là một nhà văn lớn có sức ảnh hưởng sâu rộng những năm
của thế kỷ XX, sáng tạo văn học và triết học của Camus đã được nghiên cứu
rộng rãi. Quan niệm về con người phi lý và con người nổi loạn của Albert
Camus đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu trên thế giới, nhưng do hạn chế

sao” [35; 206].
Alain Robbe - Grillet, thủ lĩnh nhóm Tiểu thuyết Mới những năm 60
của thế kỉ XX ở Pháp, đánh giá rất cao cuốn Người xa lạ, coi đó là một tác
phẩm lớn, bởi vì trong cuốn sách đó Camus đã tạo nên một thế giới mà ông

4


hoàn toàn tin [70; 90]. Nói về cái phi lý trong tác phẩm của A. Camus, Robbe
- Grillet khẳng định: “Sự phi lý là vực thẳm không vượt qua được tồn tại giữa
con người và thế giới, giữa các khát vọng của tinh thần con người và sự bất
lực của thế giới trong việc thỏa mãn chúng. Cái phi lý không ở trong con
người, cũng như trong các sự vật mà ở trong việc không có khả năng thiết lập
giữa chúng một mối quan hệ nào khác ngoài cái xa lạ” [70; 94-95]. Robbe Grillet nhận thấy cái phi lý “luôn kéo theo thất vọng, sự rút lui, sự nổi loạn” và nó
chính là “hình thức của chủ nghĩa nhân văn mang tính bi kịch” [70; 95- 96].
Trong tiểu luận Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học Âu châu thế kỉ XX
1900- 1959 của R.M. Alberes. Tất nhiên Albert Camus đã được nhắc đến
nhiều khi nói về tâm trạng chung của con người trong giai đoạn 1942 - 1959.
R.M. Alberes nhậnxét: “Camus đã mô tả con người mất hướng trong một thế
giới hầu như không phải làm ra cho con người. Ông muốn đạp đổ những ảo
tưởng cổ kính tôn nghiêm đã quả quyết một cách sai lầm rằng đời sống trả lời
đúng ý muốn mà người ta có về cuộc đời. Người xa lạ là cuộc phiêu lưu của
một người cảm thấy rằng con người không thỏa hiệp được với đời sống, rằng
có sự hiểu lầm giữa con người và đời sống” [49; 329]. Cuộc sống không còn
mạch lạc, sáng sủa, cuộc đời vâng theo một mãnh lực phi lý rời rạc, lý trí con
người không thể thấu được sự không trật tự nằm ngoài mọi quy luật ấy.
Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu con người hiện sinh của Albert
Camus xuất hiện khá nhiều. Căn cứ vào bối cảnh lịch sử ảnh hưởng đến những
đánh giá về tư tưởng, tác giả luận văn khảo cứu tài liệu theo hai giai đoạn trước

giữa ông và những triết gia nhà nghề có một hố thẳm, một bên sử dụng ngôn
từ tài tình du dương trong một hệ thống rành rẽ, logic, phân minh. Một bên
vừa ngập ngừng, vừa mâu thuẫn, cầu mong tìm ra giữa đau thương một niềm
vui” [12; 205].
6


Nguyễn Nam Châu với Tập Sứ mệnh văn nghệ (Đại học xuất bản), đã
bình luận tư tưởng của một số triết gia, nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến
thời đại. Trong đó bài viết về Camus có tựa “Albert Camus, con người công
phẫn”. Tác giả nhấn mạnh, thế hệ của Camus đã tuyệt đối từ chối hết mọi thứ
giá trị luân lý, tôn giáo, chính trị, xã hội, họ công phẫn với cái châu Âu đó,
như lời Camus nói: “Ác thần của châu Âu ngày nay mang danh các triết gia,
họ là Hegel, Marx, Nietzsche, v.v… chúng ta đang sống trong châu Âu của họ
Ông cho rằng: Công phẫn trước thời cuộc nhưng chính Camus cũng đi vào
ngõ bí: Một đằng nói rằng cuộc đời vô nghĩa và người ta được phép làm mọi
sự; một đằng bảo rằng con người đừng làm hại kẻ khác, phải thương hại nó,
tức kìm hãm tự do của mình. Nhưng ta sẽ nhân danh cái gì để thương xót con
người trong khi mà chính con người cũng chẳng có ý nghĩa gì hết. Mặc dù
niềm công phẫn của Camus là không lối thoát, nhưng dẫu sao Camus cũng
như Sartre đã thức tỉnh nhân loại trước một vấn đề căn bản, bắt họ phải thoát
ly ra ngoài cuộc sống hời hợt, vô tư, qua ngày đoạn tháng của họ, buộc mình
phải đi tìm một lẽ sống trước khi quyết định một thái độ sống.
Ở miền Bắc, trước 1986, sự tiếp xúc với những tác giả, tác phẩm lớn
không sáng tác theo chủ nghĩa hiện thực rất hạn chế. Albert Camus cùng với
bậc tiền bối Franz Kafka và những nhà văn hiện sinh chủ nghĩa, những tác gia
kịch phi lý được giới thiệu trong những chuyên luận dùng cho các trường đại
học chủ yếu dưới góc nhìn cực đoan, đưa ra để phê phán và tránh xa. Tinh
thần ấy được thể hiện rõ nét trong công trình Phê phán văn học hiện sinh chủ
nghĩa (1978), nhà xuất bản Văn học Hà Nội. Tác giả Đỗ Đức Hiểu, đã phê

chủ nghĩa hiện sinh một cách nhanh hơn. Còn khi nghiên cứu con người trong
triết học hiện sinh, tác giả đã trình bày rất rõ ràng nguyên lý tồn tại có trước
bản chất và thân phận con người theo quan điểm của Jaspers, Heidegger,
Camus và Sartre. Và rằng con người luôn phải sống trong tâm trạng lo âu,
8


kinh hoàng, cô đơn như kẻ bị bỏ rơi, luôn phải chịu nhiều mâu thuẫn trong
cuộc đời nên đời là vô lý, đáng “buồn nôn”.
Hai nhà nghiên cứu Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng đã viết cuốn
Lược khảo triết học phương Tây hiện đại (2003), nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia Hà Nội. Tác giả không trình bày điều kiện xã hội cho sự ra đời của triết học
hiện sinh mà chỉ đưa ra tiền đề lý luận trên quan điểm của Socrate, thánh
Augustin, Pascal, Nietzsche và Husserl. Tuy nhiên các quan điểm trên không
có sự phân tích, đánh giá và khái quát sâu của tác giả. Về nội dung tác giả cũng
đưa đến người đọc một cái nhìn mới về các phạm trù buồn nôn, tha hóa, cô
đơn, lo âu, tự do. Phạm trù tự do là nền tảng để xem xét các phạm trù khác “cái
chết cũng là nguồn gốc của lo âu, lo âu có nguồn gốc ở tự do, lo âu là tâm tình
đầy đam mê mở ra sự sáng tạo”.
Trong công trình Văn học phương Tây (2005), chương do Hoàng Nhân
viết về Camus, đã cho một cái nhìn khái quát về con người và văn nghiệp A.
Camus. Camus đã “thể hiện nỗi lo âu, sự sợ hãi của thân phận con người
trước bao nhiêu biến động và tai ương trong nửa đầu thế kỉ XX ở phương
Tây. Ông không bàn đến những vấn đề siêu hình phức tạp như thực tế và hư
vô, tồn tại và bản thể .v.v… mà chỉ nói về ý nghĩa của hiện sinh và thân phận
con người” [7; 737]. Hoàng Nhân cũng nói đến tư tưởng nhân văn ôn hoà,
thoả hiệp xuyên thấm trong các tác phẩm của A. Camus. Tư tưởng ấy khi gặp
gỡ với sự bế tắc trong đời sống thực tại với bao điều nghịch lý, “chắc chắn sẽ
không có tác dụng tích cực với các thế hệ đang trưởng thành của thời đại
chúng ta” [7; 759].

học hiện sinh, có thể nói so với các công trình khác, đây là một công trình
nghiên cứu về triết học hiện sinh mang tính chuyên sâu. Các tác giả tiếp cận
nghiên cứu từ góc độ văn hóa học “tức là từ góc độ văn hóa sinh tồn của con
người phương Tây, mà sự chuyển biến của nó tất yếu sẽ dẫn tới chủ nghĩa
10


hiện sinh như một lối sống và một kiểu tư duy”, các tác giả đi đến khái niệm
hiện sinh là “khả năng tồn tại làm người”. Do vậy, sự hiện sinh không phải là
bản chất, không phải là một cái gì đó có sẵn trong tự nhiên mang tính bẩm
sinh, được định trước và bất biến. Từ đó các tác giả đưa ra một số đặc điểm
chung của chủ nghĩa hiện sinh. Dù được định nghĩa bằng cách khác nhưng
các tác giả đều khẳng định triết học hiện sinh là triết học về con người.
Sẽ là thiếu sót nếu tác giả luận văn không kể đến các công trình nghiên
cứu triết học hiện sinh, con người hiện sinh mang tính chuyên đề sâu sau: Tác
giả Lê Kim Châu với Chủ nghĩa hện sinh và một vài ảnh hưởng của nó ở
miền Nam Việt Nam, LAPTSKH triết học, 1996. Tác giả Đỗ Minh Hợp với
Vấn đề bản thể luận trong một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại,
LATS triết học, 2000. Tác giả Trần Thị Điểu với công trình Triết học thực
tiễn của triết học hiện sinh và những giá trị, hạn chế của nó, LATS triết học,
2013. Tác giả Nguyễn Thị Như Huế nghiên cứu Quan niệm đạo đức học
trong chủ nghĩa hiện sinh và một số bài học của nó đối với việc giáo dục đạo
đức ở Việt Nam hiện nay, LATS triết học, 2013. Các tác giả đã nghiên cứu sự
ra đời của triết học hiện sinh có sự thống nhất về bối cảnh lịch sử và tiền đề lý
luận hết sức rõ ràng. Các tác giả cũng khai thác con người hiện sinh dưới góc
độ văn hóa, đạo đức con người. Đây là cách tiếp cận mới dưới lăng kính của
triết học Mác xít để nhìn nhận toàn diện khách quan về quan điểm con người
hiện sinh, từ đó có định hướng giá trị trong thực tiễn cấp bách hiện nay về đạo
đức con người, lối sống con người.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn nghiên cứu một cách nghiêm túc và có
logic về quan niệm con người của Albert Camus, từ đó có những đánh giá về

12


những giá trị và hạn chế của nó thông qua lăng kính của chủ nghĩa duy vật
Mácxít, đây là cách nhìn toàn diện, khách quan về trường phái triết học này.
- Ý nghĩa thực tiễn: Trước hết với bản thân tác giả, đây là sự tìm hiểu
nghiêm túc về trường phái triết học này, nên có được sự nhận thức rõ ràng
đúng đắn trước rất nhiều các thông tin khác nhau. Ngoài ra, luận văn có thể
được sử dụng như là tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy và nghiên cứu
triết học hiện sinh.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 2 chương, 5 tiết.

13


Chƣơng 1
ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI QUAN NIỆM
VỀ CON NGƢỜI TRONG TRIẾT HỌC HIỆN SINH
CỦA ALBERT CAMUS
1.1. Những điều kiện và tiền đề lý luận ra đời quan niệm về con ngƣời
trong triết học hiện sinh của Albert Camus
1.1.1 Điều kiện kinh tế và xã hội
Triết học hiện sinh, được coi là một trong các học thuyết triết học tư
sản hiện đại nổi trội nhất trong những năm 20 của thế kỷ XX. Chủ nghĩa hiện

thảm cảnh bi thương. Châu Âu tuy là phe thắng trận nhưng cũng chịu nhiều
thiệt hại, xã hội châu Âu trở nên tiêu điều và đổ nát, con người rơi vào tình
trạng chán nản, bế tắc, mất niềm tin vào cuộc sống, con người hoài nghi mọi
thứ mọi việc, chỉ còn bản thân mình, một cá nhân cô độc, xa lạ với mọi thứ,
cuộc sống không có gì là đảm bảo. Người ta có cảm tưởng rằng mình chỉ là
con số vô danh. Cuộc sống vì thế mà đầy những chán nản, vô lý. Chính vì vậy
họ tìm đến chủ nghĩa hiện sinh để thích nghi với hoàn cảnh, đồng thời tìm ở
đó một chỗ dựa tinh thần, một niềm an ủi nào đó.
Chính về vậy rất nhiều ý kiến cho rằng, chiến tranh thế giới tàn khốc là
nguồn gốc của chủ nghĩa hiện sinh cho nên nó thấm đẫm chủ nghĩa bi quan,
thất bại. Thực tế không phải vậy, vì ở nhiều nơi không có chiến tranh hoặc
như ngày nay chiến tranh đã lùi xa vào dĩ vãng, vậy tại sao chủ nghĩa hiện
sinh và các xu hướng của chủ nghĩa phi duy lý vẫn phát triển. Chiến tranh chỉ
là một điều kiện. Thực chất, nguồn gốc của chủ nghĩa hiện sinh và các hình
thức khác của chủ nghĩa phi duy lý hiện đại là sự khủng hoảng, sự bại hoại
tinh thần do chủ nghĩa duy lý gây nên trong xã hội phương Tây hiện đại.

15


Chủ nghĩa duy lý ở phương Tây xuất hiện từ khi cuộc chủ nghĩa công
nghiệp ở thế kỷ XVII. Vào đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã
bỏ lại phía sau thời kỳ cổ điển để bước sang thời kỳ hiện đại. Cuộc cách mạng
công nghiệp và sau đó là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã làm biến
đổi tận gốc nền sản xuất của xã hội.
Bước vào thời kỳ hiện đại, công nghiệp cơ khí phát triển, quy mô sản xuất
tăng lên mạnh mẽ dẫn tới việc tích tụ sản xuất ở các xí nghiệp lớn, sản phẩm
của xã hội như tuôn trào khắp nơi. Người ta nhận đó là nhờ những thành tựu
của khoa học tự nhiên. Những kỳ tích đó của khoa học tự nhiên được ý thức
hệ phương Tây miêu tả như thành quả của chủ nghĩa duy lý.

hình này kiểm soát đòn bảy đầu tư trong xã hội công nghiệp” cho nên những
người nổi loạn và các nhà cải cách phá vỡ bức tường quyền lực để xây dựng
một xã hội mới dựa trên công bằng và bình đẳng chính quyền. Duy lý hóa tạo
ra thị trường được xem là một kỳ tích sánh ngang với những phát minh khoa
học lớn nhất của loài người. Sức mạnh của nó tạo ra xã hội dư thừa. Hiện tượng
“tiện nghi cuộc sống” đã được ý thức hệ hóa bởi vì nó trở thành phương tiện hòa
nhập, khóa chặt con người vào xã hội không còn lối thoát” [5; 7]
Với chủ nghĩa duy lý, phương Tây đã đạt được giai đoạn tột cùng trong sự
phát triển của nó. Nhưng chính ở đỉnh điểm của sự phồn vinh đó, nó xa vào cuộc
khủng hoảng. Các nhà triết học duy lý như Oswald Spengler, F. Nietzsche đã nói
chính chủ nghĩa duy lý kỹ thuật là sự suy đồi của phương Tây.
C.Mác đã sớm chỉ ra hậu quả của xã hội kỹ trị rằng: “Trong thời đại
chúng ta, mọi sự vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của nó. Chúng ta
thấy rằng những máy móc có sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động
của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem
nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người. Những nguồn của cải mới từ

17


xưa đến nay chưa ai biết, dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó lại
đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ. Những thắng lợi của kỹ thuật
dường như đã được mua bằng cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần. Rằng,
tất cả những phát minh của chúng ta và tất cả sự tiến bộ của chúng ta tựa hồ
như đang dẫn tới chỗ là những lực lượng vật chất thì được ban cho một đời
sống tinh thần, còn đời sống của con người vốn đã bị tước mất cái mặt tinh
thần rồi thì nay lại bị hạ thấp xuống trình độ những lực lượng vật chất đơn
thuần.
Điều quan trọng nhất trong sự khủng hoảng của chủ nghĩa duy lý ở
phương Tây là nó đã phi nhân vị hóa con người, con người chỉ còn là “một

Sự phản ứng của chủ nghĩa hiện sinh không chỉ diễn ra trong tinh thần mà
còn được hiện thực hóa thành các phong trào xã hội, có lúc làm rung chuyển
cả đời sống của nhiều nước, không chỉ hiện diện ở lý thuyết mà nó còn trở
thành một lối sống, một phong cách sống. Người ta mô tả sự ra đời của chủ
nghĩa hiện sinh ở Pháp như sau: “Ấy là vào buổi sáng mùa đông (1946) vừa
thức dậy cả thành phố Paris thấy mình “hiện sinh”, sách báo đầy hiện sinh
quyến rũ tràn khắp phố phường, những “đám thanh niên nam nữ vui vẻ” kéo
đến những căn hầm ở Saint – Germain, ầm vang điệu nhạc Jazz trong những
trang phục mới lạ với đầu óc xõa, quần túm ống và ăn nói mời chào phóng
túng” [5; 10-11]. Chủ nghĩa hiện sinh không chỉ đi vào lối sống, mà còn đi cả
vào trong các cuộc bạo loạn của sinh viên trong tháng Năm – Sáu năm 1958
tại Paris, phong trào “phản văn hóa” ở Mỹ và nhiều phong trào xã hội phản
ứng chống lại chủ nghĩa duy lý.
Tóm lại những hậu quả của chủ nghĩa duy lý gây ra trong xã hội
phương Tây hiện đại là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện chủ
nghĩa hiện sinh. Trong quá trình tồn tại của mình, mục đích của chủ nghĩa phi

19


duy lý không có gì khác là giành lại nhân vị, tự do cho con người, thách thức
mọi sức mạnh của chủ nghĩa duy lý thống trị ở bất cứ đâu.
Các nhà triết học hiện sinh khi xây dựng lý luận hiện sinh con người
hiện sinh của mình không hề tách biệt với bối cảnh xã hội, bối cảnh văn hóa
tinh thần. Hậu quả của nó là con người chịu những tác động phi lý của xã hội.
Cuộc đời không có mục đích, sự vô nghĩa của đời sống con người. Vấn đề phi
lý đã được rất nhiều triết gia đề cập chẳng hạn triết gia Kierkegaard đã cắt
nghĩa rằng sự phi lý của một số sự thật tôn giáo đã ngăn cản chúng ta tới gần
Thượng Đế một cách thuần túy, trong khi đó, Jean Paul Sartre nhận thức sự
phi lý trong các kinh nghiệm cá nhân. Albert Camus không phải là người đầu

nguồn tư tưởng cần thiết cho lý luận triết học hiện sinh của mình.
* Triết học của Soren Kierkegaard
Soren Aabye Kierkegaard (1813 – 1855) là nhà triết học chủ nghĩa phi
duy lý, nhà triết học tôn giáo Đan Mạch nửa sau thế kỷ XIX. Ông được suy
tôn là tiền bối của triết học hiện sinh, lý luận của Kierkegaard trở thành nguồn
gốc quan trọng của triết học hiện sinh, lừng lẫy tiếng tăm trong giới triết học
phương Tây. Một trong những nhà triết học khởi xướng vấn đề phi lý,
Kierkegaard đã cắt nghĩa rằng sự phi lý của một số sự thật tôn giáo đã ngăn
cản chúng ta tới gần Thượng Đế một cách thuần túy.
Các tác phẩm của Kierkegaard đều in rõ những đặc điểm của cuộc đời
ông, những nghịch lý ông gặp phải đều đã hằn sâu ở đó. Nhiều tác phẩm của
ông như là những nhật ký, một loại hình văn học rất thuận tiện nói về nhân vị
của con người, về đời sống nội tâm của chính ông. Có thể nói ông là trường
hợp điển hình cho nhận xét: tác phẩm của các nhà triết học hiện sinh là bản
dịch cuộc đời họ.
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status