Header Page 1 of 126.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THANH AN
QUAN NIỆM VỀ TỰ DO TRONG TRIẾT HỌC
HIỆN SINH VÔ THẦN VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI
LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2016
Footer Page 1 of 126.
Header Page 2 of 126.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THANH AN
QUAN NIỆM VỀ TỰ DO TRONG TRIẾT HỌC
HIỆN SINH VÔ THẦN VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI LỐI
SỐNG CỦA SINH VIÊN HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành
1.1.1. Một số nét về triết học hiện sinh ........................................................... 15
1.1.2. Triết học hiện sinh vô thần .................................................................... 19
1.2. Những điều kiện và tiền đề cho sự ra đời quan niệm về tự do trong
triết học hiện sinh vô thần ............................................................................ 22
1.2.1. Điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội ........................................ 22
1.2.2. Tiền đề lý luận ....................................................................................... 30
1.3. Nội dung cơ bản của quan niệm về tự do trong triết học hiện sinh vô
thần ................................................................................................................. 43
1.3.1. Tự do – điểm đặc trưng phân biệt con người với mọi sinh thể khác .... 43
1.3.2.Tính tuyệt đối của tự do con người ........................................................ 48
1.3.3. Tự do với tư cách là lựa chọn giá trị hiện sinh và hành động theo sự
lựa chọn của mỗi cá nhân ............................................................................... 55
1.3.4. Tự do như là nền tảng và cơ sở đánh giá mọi giá trị đạo đức ............. 60
1.3.5. Tự do gắn liền với trách nhiệm ............................................................. 62
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 65
CHƢƠNG 2. Ý NGHĨA CỦA QUAN NIỆM VỀ TỰ DO TRONG TRIẾT
HỌC HIỆN SINH VÔ THẦN ĐỐI VỚI LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN
HÀ NỘI HIỆN NAY ..................................................................................... 66
2.1. Lối sống, sinh viên và lối sống sinh viên............................................... 66
2.1.1. Khái niệm lối sống ................................................................................ 66
2.1.2. Khái niệm sinh viên và lối sống sinh viên ............................................. 70
2.2. Lối sống của sinh viên ở Hà Nội hiện nay ............................................ 74
2.2.1. Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến lối sống của sinh viên Hà Nội ....... 74
Footer Page 3 of 126.
Header Page 4 of 126.
2.2.2. Một số biểu hiện tiêu cực còn tồn tại trong lối sống của sinh viên ở Hà
nhất là hai cuộc chiến tranh thế giới ở thế kỷ XX. Nguy hiểm hơn, cách tiếp
cận duy lý cực đoan về con người, bản tính người đã đơn giản hóa nhiều vấn
đề của tồn tại người, làm cho con người bị đẩy vào tình trạng bế tắc, khủng
hoảng tinh thần sâu sắc buộc người ta phải tìm hiểu kỹ lưỡng và toàn diện
hơn “thế giới nội tâm”, bản tính người của mình như cơ sở chắc chắn để có
được định hướng giá trị đáng tin cậy. Quan niệm tự do trong triết học hiện
sinh vô thần ra đời trong bối cảnh đó và đã phần nào đáp ứng nhu cầu tinh
thần của con người phương Tây hiện đại.
Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay việc giao lưu, tiếp biến văn hóa toàn
cầu diễn ra ngày càng mạnh mẽ bên cạnh việc tuyên truyền quảng bá văn hóa
trong nước ra thế giới, Viêt Nam đồng thời cũng tiếp xúc và du nhập các trào
lưu văn hóa trên thế giới. Trong quá trình ấy, việc tiếp nhận văn hóa phương
Tây, đặc biệt là quan niệm tự do trong triết học hiện sinh vô thần là một tất
yếu. Bối cảnh văn hóa tinh thần cho sự ra đời của quan niệm tự do trong triết
học hiện sinh vô thần cũng có đôi nét tương đồng tình hình xã hội Việt Nam
hiện nay, cũng như bối cảnh đó vẫn đang tiếp diễn trong hoàn cảnh hậu hiện
đại của thế giới. Vì vậy, tìm hiểu và đi sâu nghiên cứu quan niệm tự do trong
triết học hiện sinh vô thần và ý nghĩa của nó đối với lối sống của sinh viên ở
Footer Page 5 of 126.
1
Header Page 6 of 126.
Hà Nội hiện nay có giá trị tích cực để chúng ta nhìn nhận, xây dựng và làm
giàu thêm nét đẹp văn hóa Việt.
Thứ nhất, triết học hiện sinh hiện đại là một trào lưu triết học phi duy lý
ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất tại Đức, sau đó phát triển mạnh mẽ ở
Pháp từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là một sự phá cách, một “độc
không thể chịu được các gánh nặng tâm lý - đạo đức của cuộc sống hiện đại.
Vì vậy, tự do trong triết học hiện sinh không chỉ giúp con người tìm lại nhân
vị, duy trì những giá trị nhân văn mà còn giúp con người tìm ra lối thoát trong
tinh thần, tìm thấy giá trị cuộc sống.
Thứ tư, đối với Việt Nam, quan niệm tự do trong triết học hiện sinh vô
thần là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu. Phần lớn các nhà
nghiên cứu ở Việt Nam không dành nhiều “thiện cảm” với vấn đề này. Họ
cho rằng đây là thứ triết học phản động, phản văn hóa, đi ngược lại giá trị đạo
đức truyền thống, cổ vũ cho lối sống ích kỷ, tùy tiện, là căn nguyên tạo nên
một xã hội hưởng thụ.Vậy nên, nghiên cứu quan niệm tự do trong triết học
hiện sinh vô thần làm sáng tỏ những mặt tích cực của quan niệm này đồng
thời cung cấp cho độc giả cái nhìn đúng đắn về tự do theo quan niệm hiện
sinh. Quan niệm tự do trong triết học hiện sinh vô thần không chỉ có giá trị
thực tiễn mà ở nghĩa nào đó còn là triết học cuộc sống.
Thứ năm, sinh viên là lực lượng kế tiếp, bổ sung cho đội ngũ trí thức
trong tương lai. Họ là những người có văn hóa cao và có điều kiện tiếp thu
các thông tin về mọi lĩnh vực đời sống. Có thể nói, sinh viên là nguồn nhân
lực quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước. Vì vậy, việc xây dựng và
giáo dục một lối sống lành mạnh có trách nhiệm với bản thân và xã hội cho
sinh viên là một nhiệm vụ cần thiết và quan trọng góp phần xây dựng một
quốc gia hùng mạnh cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa - xã hội. Có nhiều phương
pháp, cách thức để xây dựng lối sống lành mạnh cho sinh viên. Những mặt
tích cực của quan niệm tự do trong triết học hiện sinh vô thần cũng là một gợi
ý, một sự lựa chọn mới mẻ trong hoạt động xây dựng và giáo dục lối sống
lành mạnh của sinh viên ở Hà Nội hiện nay.
Từ những lý do trên tác giả lựa chọn vấn đề Quan niệm về tự do trong
triết học hiện sinh vô thần và ý nghĩa đối với lối sống của sinh viên Hà Nội
hiện nay làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
lý luận cho triết học hiện sinh.
Tác giả Lê Kim Châu (1996) trong luận án Phó tiến sĩ triết học Chủ
nghĩa hiện sinh và một vài ảnh hưởng của nó ở miền Nam Việt Nam [3] đã
nghiên cứu cơ sở hình thành chủ nghĩa hiện sinh ở hai nguồn gốc chính: một
là, nguồn gốc xã hội và nhận thức của chủ nghĩa hiện sinh; hai là, nguồn gốc
tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh. Khi phân tích về nguồn gốc xã hội của chủ
Footer Page 8 of 126.
4
Header Page 9 of 126.
nghĩa hiện sinh, hầu hết các nhà nghiên cứu trước đây đều cho rằng, chủ
nghĩa hiện sinh có nguồn gốc xã hội từ những cuộc khủng hoảng xã hội và
chiến tranh. Tuy nhiên, tác giả trên cho rằng, khủng hoảng xã hội và chiến
tranh chỉ là những nguyên nhân xã hội trực tiếp của chủ nghĩa hiện sinh.
Nguồn gốc đích thực và nguyên nhân sâu xa của nó là những mâu thuẫn
không thể điều hòa được của các xã hội bóc lột và bất công. Khi nói về nguồn
gốc tư tưởng của triết học hiện sinh, tác giả phân tích các quan điểm của các
nhà tư tưởng được cho là đặt nền móng cho triết học hiện sinh như Socrate,
Descartes, Pascal, đặc biệt là Kierkegaard với tư tưởng về “Tư duy hiện sinh”,
Nietzsche mở đầu cho một dòng hiện sinh mới - hiện sinh vô thần, Husserl
với “Phương pháp hiện tượng luận”.
Như vậy, có thể khẳng định, khi nghiên cứu về điều kiện ra đời của triết
học hiện sinh, các công trình nghiên cứu trên thống nhất ở bốn nguyên nhân
cơ bản: thứ nhất, điều kiện kinh tế xã hội; thứ hai, khủng hoảng của triết học
duy lý; thứ ba, chiến tranh là nhân tố thúc đẩy sự ra đời của chủ nghĩa hiện
sinh; thứ tư, tiền đề tư tưởng. Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu đó,
các tác giả khắc họa chưa thật sâu sắc tính tất yếu khách quan cho sự ra đời
lý do. Sự lựa chọn đó bao giờ cũng đi trước lý do.
Tác giả Đỗ Minh Hợp (2005) trong bài Tư tưởng đạo đức của Gi.P.
Xáctơrơ [33] đã chỉ ra nguyên lý đầu tiên của chủ nghĩa hiện sinh là: hiện
sinh là hư vô, là lựa chọn trong tình huống cụ thể. Khái niệm về tự do là đặc
trưng cơ bản, là tính thứ nhất của hiện sinh, là điểm xuất phát khi nghiên cứu
các phạm trù đạo đức khác của Sartre. Tự do cái phân biệt con người với các
sự vật hiện tượng khác. Khi bàn về tự do, tác giả cho rằng có thể đưa ra định
nghĩa duy nhất về tự do là sự tự chủ lựa chọn và tự do không thể tách rời
trách nhiệm. Với các nhà hiện sinh thì, tự do và trách nhiệm là hai hiện sinh
thể quan trọng nhất. Xuất phát từ tự do người ta có thể hiểu được các phạm
trù khác như thiện, ác, lo âu,... Tác giả cũng cho rằng, người có trách nhiệm là
người luôn lo âu trước mỗi lựa chọn của mình. Lo âu được hiểu là trạng thái
tự nhiên của con người đã gánh vác trách nhiệm. Trên cơ sở đó, tác giả khái
quát thành các đặc điểm cơ bản trong quan niệm của Sartre về đạo đức.
Cũng tác giả Đỗ Minh Hợp [2007], trong bài tạp chí Tự do và trách
nhiệm trong đạo đức học hiện sinh [36] cho rằng, tự do và trách nhiệm (đối
với tự do) là hai hiện sinh thể quan trọng nhất. Điều đáng chú ý là, tác giả chỉ
ra tự do là cơ sở để nghiên cứu các phạm trù đạo đức trong triết học hiện sinh.
Footer Page 10 of 126.
6
Header Page 11 of 126.
Tất cả những gì có nội dung đạo đức đều được đặt dưới ánh sáng phê phán
của tự do. Không những thế, tác giả cũng khẳng định vai trò, vị trí của trách
nhiệm trong mối liên hệ với tự do. Nếu tự do được coi là nguyên tắc cơ bản
của tồn tại người, là cái phân biệt con người với mọi cái tự nhiên, thì trách
nhiệm là thái độ của con người đối với tự do. Trách nhiệm không phải là sự
sáng tạo và tự do. Khi mới sinh ra, con người không là gì cả, còn trong cuộc
sống con người là tổng thể những cái do mình tạo nên. Con người tự tạo nên
số phận của chính bản thân mình, tự mình làm nên bản chất mình. Do đó, con
người phải chịu trách nhiệm và thực hiện những lựa chọn.
Một trong những đóng góp quan trọng vào nghiên cứu về vấn đề đạo
đức trong triết học hiện sinh là công trình Triết học hiện sinh [38] của nhóm
tác giả Đỗ Minh Hợp, Trần Thị Điểu... (2010). Sau khi trình bày có hệ thống
các quan điểm cơ bản của các nhà hiện sinh, các tác giả đã đi sâu phân tích
làm rõ các phạm trù đạo đức cơ bản của các nhà triết học hiện sinh như tự do,
trách nhiệm, lo âu, sợ hãi,... Đặc biệt, sự phân tích đã làm nổi bật phạm trù tự
do và trách nhiệm như một luận điểm chủ yếu trong quan điểm của các triết
gia hiện sinh về đạo đức. Tuy nhiên, việc nghiên cứu phạm trù tự do và trách
nhiệm chỉ dừng lại ở một số triết gia tiêu biểu như A. Camus, J.P. Sartre,...
Sau khi phân tích các quan điểm của Sartre về tự do, tự do là bản tính của con
người, con người buộc phải có tự do, bị quẳng vào tự do,… các tác giả đưa ra
“định nghĩa duy nhất về tự do - là tự chủ lựa chọn” [38, tr.410]. Tự do gắn
với trách nhiệm. Các tác giả cho rằng: “trách nhiệm là tuyệt đối giống như tự
do” [38, tr.411].
Như vậy, trong các công trình trên, các tác giả đều nghiên cứu phạm trù
tự do như là phạm trù trung tâm của triết học hiên sinh. Tự do là tuyệt đối, là
giá trị đạo đức cao nhất và là cơ sở để nghiên cứu và đánh giá các phạm trù
đạo đức học khác. Tự do phải gắn với trách nhiệm. Thêm nữa, tự do cá nhân
được coi là đặc tính cơ bản của tồn tại người, là cái phân biệt con người với
mọi cái tự nhiên, vì vậy, con người phải có trách nhiệm đối với tự do. Con
người chỉ thực sự tự do khi nhận thấy trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, các
tác giả chủ yếu chỉ phân tích phạm trù tự do theo quan niệm của từng triết gia
tiêu biểu chứ chưa khái quát nội dung của phạm trù này thành những luận
điểm chung trên toàn hệ thống và chưa có sự đánh giá khái quát về những giá
trị và hạn chế của tự do hiện sinh đối với đời sống của con người.
Enach Stumpt và Donald C. Abel (2004) đã bàn đến phạm trù tự do như là
phạm trù trung tâm của đạo đức học Sartre. Sartre nhìn tự do như điểm đặc
trưng phân biệt con người với mọi thực thể khác trong vũ trụ. Con người hiện
sinh là tự do, nên con người có thể tạo dựng nên bản thân mình trở thành loại
hữu thể mà mình chọn. Tự do không phải là lựa chọn các giá trị đúng, mà
chính hành vi chọn lựa của chúng ta tạo cho nó giá trị, làm cho nó thành tốt.
Footer Page 13 of 126.
9
Header Page 14 of 126.
Nhiệm vụ của mỗi cá nhân chúng ta là nhận thức được tự do của mình và sử
dụng nó để tạo ra chính mình. Theo các tác giả, con người theo quan niệm của
các nhà hiện sinh, là không xác định, đó vì ban đầu nó không là gì cả. Chỉ sau
đó nó mới và sẽ là cái gì, và tự nó sẽ làm nó thành cái gì. Theo các tác giả, tự
do hiện sinh luôn gắn với trách nhiệm của họ. Con người hoàn toàn chịu trách
nhiệm về việc mình là con người nào và chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của
mình trước chính bản thân mình và mọi người khác.
Tác phẩm Chủ nghĩa hiện sinh [6] của tác giả Jacques Colette (2011)
bàn về khái niệm hiện sinh, các phạm trù cơ bản trong tư tưởng triết học của
các nhà hiện sinh. Khi nói về phạm trù tự do, tác giả cho rằng, theo các triết
gia hiện sinh thì hiện sinh có trước bản chất, hiện sinh và tự do là một. Tự do
là khả năng hiện hữu, hiện hữu vì chính mình. Tự do thể hiện sự chủ động
sáng tạo của con người luôn đổi mới hướng đến tương lai mà không thể đoán
trước được. Tự do là lựa chọn hiện hữu của con người, chứ không phải là cơ
sở của sự hiện hữu của họ.
* Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề lối sống của sinh
viên
cơ hội thuân lợi cho sự phát triển của sinh viên. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó,
thanh niên sinh viên cũng chịu những khó khăn thách thức không nhỏ. Các
thách thức khó khăn đó là: sự bùng nổ dân số làm tăng sức cạnh tranh trong
giáo dục; kinh tế thị trường dẫn đến nguy cơ thất nghiệp cao, phân hóa giàu
nghèo rõ rệt hơn; việc thục hiện công nghiệp hóa, hiện đai hóa làm thay đổi
nhip sống, phong cách sống của cá nhân, con người bị hút vào công việc, các
hoạt động xã hội. Điều đó có thể ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong gia
đình, làm giảm sự quan tâm của bố mẹ đối với việc chăm sóc, giáo duc con
cái làm ảnh hưởng đến lối sống của sinh viên.
Ngoài ra, chúng ta phải kể tới công trình nghiên cứu về Định hướng giá
trị cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay [1] của Ban thanh niên trường học
(2007). Nghiên cứu này đã phát hiện những biểu hiện và xu hướng biến đổi
định hướng giá trị của sinh viên trên ba nội dung: Một là, định hướng giá trị
về nhận thức mục đích sống; hai là, định hướng giá trị trong hoạt động hoc
tập và nghiên cứu khoa học; ba là, định hướng giá trị về mối quan hệ giữa
con người với con người. Đề tài cũng đề cập và phân tích vai trò quan trọng
của Đoàn Thanh niên và các tổ chức đoàn thể sinh viên trong xây dưng
Footer Page 15 of 126.
11
Header Page 16 of 126.
phương hướng, hệ chuẩn mực giá trị nhằm phát huy sức mạnh về tri thức của
giới trẻ, đặc biệt là sinh viên vốn là nguồn lực, là tương lai của đất nước.
Bên cạnh đó còn có luận án tiến sĩ xã hội học của Phạm Tất Thắng
(2009) về Định hướng giá trị sinh viên [66] có giá trị tham khảo nhất định cho
luận văn. Nghiên cứu cũng phản ánh thực trạng của định hướng giá trị của
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị
đã góp phần tích cực cho sự phát triển lý thuyết và góp phần to lớn giải quyết
các vấn đề thực tiễn của cuộc sống và xã hội. Hầu hết, các nghiên cứu đều chỉ
ra sư quan trọng của hệ giá trị và tính cấp thiết của định hướng giá trị. Việc
nghiên cứu đã tiến đến hoàn thiện hơn về lý luận, phương pháp cũng như
nhận diện những đăc trưng về hệ thống giá trị của con người Việt Nam cũng
như xu hướng vận động của nó theo từng giai đoạn. Tuy nhiên, mỗi nghiên
cứu đều xuất phát từ những góc độ khác nhau, mục đích nghiên cứu khác
nhau và trong những giai đoạn khác nhau nên chắc chắn sẽ có nhiều vấn đề
chưa được đề cập đến kịp thời. Chính vì vậy, luận văn Quan niệm về tự do
trong triết học hiên sinh vô thần và ý nghĩa đối với lối sống của sinh viên Hà
Nội hiện nay được thực hiện nhằm làm sáng tỏ hơn những ý nghĩa tích cực
của quan niệm tự do trong triết học hiện sinh vô thần đối với hình thành lối
sống của sinh viên Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Luận văn làm sáng tỏ quan niệm của triết học hiện sinh vô
thần về tự do, những biểu hiện của nó và chỉ ra ý nghĩa của nó đối với việc
định hướng lối sống lành mạnh cho sinh viên ở Hà Nội hiện nay.
* Nhiệm vụ: Thứ nhất, phân tích những điều kiện và tiền đề cho sự ra
đời của quan niệm về tự do trong triết học hiện sinh vô thần.
Thứ hai, làm rõ những nội dung chủ yếu của quan niệm về tự do trong
triết học hiện sinh vô thần.
Thứ ba, xây dựng khái niệm lối sống sinh viên và chỉ ra một số đặc
điểm của sinh viên Việt Nam nói chung và sinh viên Hà Nội hiện nay nói
riêng.
Thứ tư, chỉ ra những hạn chế cần khắc phục trong lối sống của sinh
viên Hà Nội hiện nay và nêu một số ý nghĩa nhận thức và thực tiễn của quan
niệm về tự do trong triết học hiện sinh vô thần đối với lối sống của sinh viên ở
Hà Nội hiện nay.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần cung cấp một cách tiếp cận khác đến quan niệm về
tự do trong triết học hiện sinh vô thần mà tập trung chủ yếu vào quan điểm
của Sartre và Heidegger, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu triết học hiện sinh của sinh viên, học viên cao học.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung
luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.
Footer Page 18 of 126.
14