Đạo đức học của Kant trong tác phẩm Phê phán lý tính thực hành - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI THỊ KIM XUÂN

ĐẠO ĐỨC CỦA KANT TRONG TÁC PHẨM
PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THỰC HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2013

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÙI THỊ KIM XUÂN
1.2. Những điều kiện kinh tế - xã hội hình thành đạo đức học Kant 11
1.3. Những tiền đề lý luận hình thành đạo đức học Kant 15
Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC KANT
TRONG TÁC PHẨM PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THỰC HÀNH 31
2.1. Quan niệm của Kant về hành vi đạo đức 34
2.1.1 Khái niệm chung về hành vi đạo đức 35
2.1.2. Các nguyên tắc xác định hành vi đạo đức 39
2.1.3. Phương pháp thực hành hành vi đạo đức 44
2.2. Mệnh lệnh tuyệt đối – nguyên tắc cơ bản của đạo đức học Kant 46
2.2.1 Khái niệm chung về mệnh lệnh tuyệt đối 46
2.2.2. Ý nghĩa mệnh lệnh tuyệt đối trong đạo đức học Kant 55
2.3. “Tự do” – phạm trù trung tâm trong đạo đức học Kant 60
2.3.1 Khái niệm về Tự do 60
2.3.2. Các hình thức biểu hiện của tự do 63
2.3.3 “Tự do” là cơ sở để nhận thức sự Thiện- tối cao 67
2.3.4 “Tự do” là cơ sở cho sự “bất tử của linh hồn” và sự hiện hữu của
Thượng Đế 72
2.4. Ý nghĩa thời đại và ý nghĩa lịch sử của đạo đức học Kant 76
2.4.1. Ý nghĩa thời đại 76
2.4.2. Ý nghĩa lịch sử 83
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

3
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cuộc sống loài người và mỗi cá nhân, đạo đức được coi là nền
tảng thiết yếu để tạo dựng nhân cách và giá trị sống. Có thể nói, đạo đức đã và
đang góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện nhân cách và làm cho cuộc

nhiên “bầu trời đầy sao” và đạo đức học thể hiện ở “quy luật luân lý”. Chữ
“luân lý” của Kant được hiểu theo nghĩa rộng: triết học luân lý đồng nghĩa với
đạo đức học và không chỉ bao hàm “luân lý” theo nghĩa hẹp của cá nhân mà
cả các nguyên tắc của pháp quyền và chính trị tức là toàn bộ lĩnh vực hoạt
động của con người.
Như ta đã biết triết học cổ điển Đức là một giai đoạn phát triển rực rỡ
trong lịch sử triết học, nền triết học ấy đã dựng lên những tượng đài như Kant,
như Hêghen, Phoiơbach và Kant được coi là người sáng lập ra nền triết học
cổ điển Đức. Thành tựu quan trọng của triết học thời kỳ này là xây dựng lên
phép biện chứng với tư cách là lý luận về sự phát triển, về nhận thức và về
logic nhưng bên cạnh phép biện chứng thì Kant một nhà triết học có khá
nhiều những đóng góp tích cực về đạo đức. Mặc dù triết học của ông ra đời
vào những năm giữa thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX khi hoàn cảnh lịch sử có
nhiều biến động to lớn nhưng không vì thế mà những quan điểm đạo đức của
Kant có những suy nghĩ tiêu cực mà ngược lại nó thấm đẫm tinh thần nhân
văn, hướng tới một xã hội tốt đẹp. Đánh giá Kant một cách thực sự khách
quan và khoa học là điều hoàn toàn không dễ dàng gì thậm chí còn khó khăn.
Đánh giá học thuyết triết học Kant, Các Mác đã từng viết rằng:“Triết học
Kant là học thuyết Đức của cuộc cách mạng Pháp” [4,131].

5
Cái khó trong tư tưởng triết học của Kant chứa đựng nhiều vấn đề mới
mẻ, uyên bác, phức tạp đối với những vấn đề cơ bản thì lập trường triết học
của ông còn rất nhiều điểm khác, thậm chí là bước ngoặt so với các triết gia
khác. Vấn đề “đạo đức học” cũng là một vấn đề có ý nghĩa như thế. Kant là
người bàn rất nhiều vấn đề thuộc các lĩnh vực khác nhau của triết học và khoa
học tự nhiên, coi đối tượng của triết học nghiêm túc là lý tính song Kant cũng
đã từng khẳng định rằng: “Mục đích tối hậu của triết học là về vận mệnh con
người và nền triết học về vận mệnh con người chính là đạo đức học. Vị trí
thượng đẳng của đạo đức học đứng trên mọi lĩnh vực hoạt động khác của tinh

thức luận Kant nói riêng là ở Việt Nam còn ít các tác phẩm triết học của ông
được dịch ra tiếng Việt và các công trình lớn về Kant không nhiều.
Về phương diện lịch sử, người đề cập đến triết học Kant sớm nhất là
giáo sư Trần Đức Thảo trong tác phẩm: “Lịch sử tư tưởng trước Mác”. Tuy
nhiên sự trình bày còn khá sơ lược và chưa được sâu sắc, song, đó là một
quan điểm đánh giá khá đúng đắn, khách quan đối với những tư tưởng triết
học của Kant.
Năm 1962, nhà xuất bản Sự Thật (Hà Nội) đã cho dịch cuốn “Giáo
trình lịch sử triết học – Giai đoạn triết học cổ điển Đức” do Viện triết học
thuộc Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô biên soạn. Bản dịch đã đem đến cho
người đọc những nét khái quát về triết học cổ điển Đức, trong đó triết học
Kant chiếm một vị trí quan trọng.
Trần Thái Đỉnh, trong cuốn “Triết học Kant” đã nêu một cách khá toàn
diện các vấn đề trong triết học Kant, đây là một tác phẩm được nhiều học giả
đánh giá cao về sự chi tiết cũng như cách đánh giá tiếp cận triết học Kant. Tác
phẩm đã trình bày toàn bộ hệ thống triết học Kant từ triết học tự nhiên đến

7
triết học đạo đức, giải thích khá rõ ràng các thuật ngữ, các tiền đề rồi từ đó
đưa ra những nhận xét, đúc kết khá xác đáng cho triết học Kant.
Năm 1996 nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội đã xuất bản cuốn “Triết học
Immanuel Kant” của Nguyễn Văn Huyên. Trong tác phẩm này tác giả đã trình
bày những nét tổng quát về triết học nhận thức và triết học thực tiễn của Kant.
Năm 1997, Viện triết học và nhà xuất bản Khoa học xã hội đã cho xuất
bản cuốn sách “I.Kant – người sáng lập triết học cổ điển Đức”, công trình ý
nghĩa này đã tập hợp 29 bài viết của 14 tác giả nghiên cứu các lĩnh vực khác
nhau của triết học Kant, đặc biệt là về đạo đức học được trình bày khá chi tiết.
Hội thảo khoa học “Triết học cổ điển Đức: nhận thức luận và đạo đức
học” (do trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn thuộc Đại học Quốc
Gia Hà Nội tổ chức tháng 12 năm 2004) là một tập hợp rất nhiều các bài viết,

học đặc biệt trong đó có vấn đề đạo đức. Chúng ta còn hàng loạt tác phẩm
như Nhập môn triết học phương Tây (2004) của Samuel Enoch Stumf và
Donald C.Abel, tác phẩm Lịch sử triết học và các luận đề (2002) của Samuel
Enoch Stumf , tác phẩm Hành trình cùng triết học (2002) của Ted Honderich,
tác phẩm Đạo của vật lý (1999) của Fritjof Capra.
Nhìn chung các bài viết trên đã có những nghiên cứu, đánh giá khá toàn
diện về triết học cổ điển Đức nói chung và đạo đức học Kant nói riêng, đạo
đức học của ông đã khơi dậy nhiều vấn đề đạo đức của đời sống cộng đồng,
trong đó có Việt Nam chúng ta. Tiếp thu những giá trị sâu sắc của đạo đức
học Kant luận văn muốn góp thêm một vài những khía cạnh nhỏ bé trong hiểu
biết về đạo đức học Kant
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài được lựa chọn nhằm làm rõ những vấn đề đạo đức học của
Immanuel Kant trong tác phẩm Phê phán lý tính thực hành. Đó là những nội

9
dung khái niệm về: hành vi đạo đức, mệnh lệnh tuyệt đối, phạm trù tự do. Với
mục đích như vậy, luận văn hướng tới việc giải quyết nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là: phân tích những tiền đề cơ bản cho sự hình thành quan niệm
Kant về những vấn đề liên quan đến đạo đức học trong tác phẩm Phê phán lý
tính thực hành.
Hai là: phân tích một cách có hệ thống, làm rõ quan niệm của Kant về
các phạm trù như phạm trù tự do, mệnh lệnh tuyệt đối, hành vi tự do…
Ba là: đưa ra nhận xét và đánh giá về những đóng góp và hạn chế của
quan niệm Kant về đạo đức học dưới góc nhìn của triết học Mác-Lênin
4 Cơ sở lý luận và phạm vi nghiên cứu
Ngoài tác phẩm “Phê phán lý tính thực hành” thì luận văn còn xem xét,
kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề chủ thể
nhận thức tiên nghiệm trong triết học Kant ở các học giả đi trước.
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu: Quan niệm của Kant về đạo đức trong

trung lưu gốc Scốtlen tại Kennibéc là người con thứ tư của Johann Georg
Kant (1683–1746), người chuyên nghề chế biến đai da, và bà Anna Regina
(1697–1737), thuộc họ Reuter. Ông có tám anh chị em, nhưng chỉ bốn người
đạt tuổi thành niên. Gia đình ông rất sùng đạo, với bà mẹ có một cái nhìn
phóng khoáng về giáo dục. Thơ
̀
i thơ ấu , câ
̣
u bé Kant chịu ảnh hưởng tư
̀
me
̣

của mình vì bà có một đức tin mãnh liệt và lối sống ngăn nắp nề nếp.
Với truyền thống gia đình của mình nên thoạt đầu bố mẹ muốn ông trở
thành mục sư nên gửi Kant vào trường trung học Latinh . Ông nhập học tại
trường trung học Friedrichskollegium năm 1732, được đào tạo tại đây và năm
1740 đã bắt đầu chương trình cao học tại Albertina, đại học tại Kenixbéc.
Mặc dù đăng kí bộ môn Thần học nhưng Kant lại quan tâm đến Khoa học tự
nhiên. Giáo sư bộ môn Luận lí học và Siêu hình học Martin Knutzen giúp ông
làm quen với học thuyết của Lépnit và Newton. Ngay từ những năm học trong
trường ông đã rất quan tâm đến các môn học như toán học, vật lý học, cơ học
và vũ trụ học. Tại đây, Kant có nhiều dịp làm quen với cơ học, thiên văn học,
toán học của Newton, Đềcáctơ, và tư tưởng chính trị của các nhà khai sáng
Pháp. Ông nghiên cứu kỹ các hệ thống triết học của các nhà triết học đi trước
và đặc biệt quan tâm đến các nhà triết học Anh như Lốccơ và Hium. Ông tìm
hiểu hệ thống triết học Lépnit, và các tác phẩm của Vônphơ.
Vào mùa thu năm 1740 (lúc 16 tuổi) từ dự định học văn học cổ điển
Kant chuyển sang học triết học tại trường đại học Kennibec. Năm 1745, Kant


́
c kho
̉
e cu
̉
a
Kant đa
̃
suy gia
̉
m, vị giáo sư già yếu cáo từ giảng đường đại học về nghỉ hưu ,
sống như
̃
ng năm cuối đơ
̀
i ung dung tư
̣
ta
̣
i . Trong sự nghiệp khoa học, Kant là

11
người gặt hái được nhiều thành công: năm 1786 ông được bầu làm Viện sĩ
Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Phổ tại Berlin; năm 1798 cả Viện Hàn lâm
khoa học Italia và Pari đều bầu ông làm viện sĩ của viện mình. Kant là người
có cách sống giản dị và hài hòa, thích bầu bạn. Những bài giảng của ông đầy
uyên bác và lôi cuốn sinh viên. Mặc dù không ra khỏi thành phố quê hương
nhưng ông vẫn rât nổi tiếng. Kant trút hơi thở cuối cùng ngày 12 tháng 2 năm
1804 với nụ cười trên môi và nhận xét “thế là tốt rồi”, ông mất khi đang hoàn
thành một tác phẩm. Nghe tin ông mất mọi người thuộc các tầng lớp khác

lao với thời đại.
Với ý nghĩa lớn lao đó, hai cuộc cách mạng đã ảnh hưởng lớn đến
phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Âu, chấm dứt sự thống trị của
chế độ phong kiến hàng nghìn năm với hệ thống thần quyền và giáo luật khắt
khe, mở đầu cho sự ra đời của chế độ tư bản. Chủ nghĩa tư bản ra đời đã đem
lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử, tỏ ra ưu việt hơn so
với tất cả các chế độ trước. Bước chuyển đó đã đem lại cho châu Âu một diện
mạo mới với những thành tựu khổng lồ về kinh tế - xã hội và văn hóa mà
nhân loại đã đạt được của chủ nghĩa tư bản. Đó là tiền đề quan trọng thúc đẩy
khoa học nói chung và triết học nói riêng phát triển, đặc biệt là với triết học
đạo đức. Trong thời đại tư bản chủ nghĩa, hệ thống thần học và chủ nghĩa kinh
viện giáo điều với những lý luận hướng con người tới một thế giới ảo tưởng,
xa rời hiện thực cuộc sống đã bị cởi bỏ, triết học thâm nhập và khám phá cuộc
sống. Các nhà tư tưởng tư sản đòi trả lại cho con người những quyền mà hệ tư
tưởng phong kiến tước bỏ như: quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền sở hữu
riêng của mỗi cá nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc. Con người phải vươn tới
trí tuệ và tự do đích thực.

13
Trong hoàn cảnh lịch sử có nhiều biến động như thế, nếu nước Anh
nhờ cách mạng tư sản và bước ngoặt công nghiệp mà trở thành một quốc gia
tư bản lớn mạnh nhất và nước Pháp nhờ cách mạng tư sản Pháp năm 1789 mà
tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa. Cả Châu Âu đang phát triển
mạnh mẽ thì nước Đức lại ngược lại – là một nước phong kiến lạc hậu với chế
độ quân chủ chuyên chế phân quyền, bị phân hóa cả về chính trị và kinh tế.
Triết học cổ điển Đức nói chung, cũng như triết học Kant nói riêng ra đời
trong hoàn cảnh phức tạp như thế. Xã hội Đức cuối thế kỷ XVIII vẫn còn là
một nước nghèo nàn lạc hậu, phát triển trì trệ so với các nước Tây Âu xung
quanh với sự thống trị của tập đoàn phong kiến chuyên quyền và độc đoán.
Về kinh tế: Phương thức sản xuất phong kiến chiếm vai trò chủ đạo,

khai sáng Pháp dám thực hiện cách mạng trong hiện thực thì những nhà tư sản
Đức chỉ dám thực hiện cách mạng trong lý luận trừu tượng. Điều đó thể hiện
khá rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng về triết học với sự bảo thủ cải lương về
lập trường chính trị. Họ lấy triết học làm vũ khí phê phán và truyền tải tư
tưởng cách mạng, đó là nơi gửi gắm thể hiện khát vọng cải tạo hiện thực của
con người.
Kant đã bị ảnh hưởng sâu sắc từ hiện thực xã hội ấy, chính vì vậy mà
thời kỳ tiền phê phán ông đã viết hàng loạt tác phẩm thiên về khoa học tự
nhiên mà nhìn vào đó ta thấy rõ sự ảnh hưởng đấy. Như vậy chúng ta có thể
kết luận rằng triết học đạo đức của Kant là sự khái quát cả một thời kỳ lịch sử
đầy biến động của nước Đức đầu thế kỷ XVIII. Chính những tiền đề này đã
làm cho triết học Kant đúng đắn và phản ánh hiện thực một cách sâu sắc.
Thời kỳ tiền phê phán, chúng ta thấy sự bế tắc của Kant trong việc tìm
kiếm một quan hệ mới về các vấn đề triết học.

15
Đến thời kỳ phê phán từ sau năm 1770 do ảnh hưởng bởi các biến động
ở Pháp trước cách mạng tư sản, cũng như bởi các quan niệm của Lépnit,
Vônphơ và đặc biệt là Hium, thế giới quan của Kant chuyển hẳn sang tinh
thần “phê phán”. Sở dĩ gọi như vậy vì trước những biến động của xã hội và tư
tưởng của Tây Âu cuối thế kỷ XVIII, Kant đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu lại
toàn bộ triết học trước đây trên tinh thần phê phán. Tác phẩm “Phê phán lý
tính thực hành” cùng với những tác phẩm khác trong thời kỳ này đã đưa ra
những quan điểm về lý tính, về khả năng nhận thức của con người, vấn đề
nhận thức luận và đạo đức học được đề cao sâu sắc.
1.3. Những tiền đề lý luận hình thành đạo đức học Kant
Tuy lạc hậu về kinh tế và chính trị, nước Đức thời kỳ này đã đạt được
sự phát triển chưa từng có về mặt triết học, văn hóa và nghệ thuật. Đây là quê
hương của nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Hécđơ, Gớt,
Sinlơ v.v họ một mặt tiếp thu những quan điểm của Nicôlai Kuzan, Lépnít,

xem như một chỉnh thể dưới cái nhìn và góc độ quan sát trực tiếp của các nhà
triết học.
Socrate (470- 399 TCN) một triết gia được coi là bậc thầy về triết học
truy vấn, một công dân mẫu mực của thành Athen của Hy Lạp cổ đại. Trước
Socrates, các triết gia Hy Lạp cổ đại chủ yếu quan tâm đến những vấn đề về
vũ trụ luận, giải thích sự hình thành và phát triển của thế giới dựa trên những
kiến thức khoa học tự nhiên như vật lý, toán học, sinh học, v.v Không đi
theo lối mòn bản thể luận triết học của các bậc tiền bối. Với luận đề nổi tiếng:
“Con người, hãy tự nhận thức chính mình”, Socrates quyết định lựa chọn cho
mình một con đường riêng, ông chú ý tới vấn đề con người, mà trọng tâm
trong bản tính con người là đạo đức. Theo Socrates, triết học không phải là
hiện tượng tư biện, chỉ luận bàn những vấn đề không liên quan gì đến cuộc

17
sống thường nhật, trái lại, nó là phương tiện dạy con người cách sống hay cần
phải sống như thế nào. Theo nghĩa đó, triết học trước hết phải là tri thức hay
sự hiểu biết về con người, tri thức ấy nhất thiết phải là tri thức về cái thiện.
Do vậy, nếu đạo đức là hành vi đối nhân xử thế đẹp thì đạo đức đó không là
gì khác ngoài tri thức.
Thước đo của đạo đức là thước đo hành vi giao tiếp giữa con người với
sự thông thái của thần linh. Sự thông thái chính là sự hiểu biết, là tri thức. Tri
thức có tính chất thần linh và chỉ có tri thức mới có khả năng nâng con người
lên ngang tầm thần thánh. Đạo đức với những biểu hiện của nó như lương tri,
lòng dũng cảm, sự ngoan đạo, công bằng đều là những sự biểu hiện khác
nhau của tri thức, giúp con người lựa chọn điều lành, tránh điều dữ. Cái ác là
sự thiếu vắng tri thức, nó nảy sinh là do sự dốt nát, thiếu hiểu biết, vì không
một ai khi biết thế nào là tốt mà lại cố tình làm ngược lại.Do vậy, làm điều
xấu là một hành vi vô tình chứ không phải cố ý. Tuy nhiên, trong thực tế,
nhận thức thông thường mách bảo chúng ta rằng, chúng ta thường chiều theo
những hành vi mà chúng ta biết là sai, do vậy làm sai là một hành vi cố tình.

thích nghi với những lao động tay chân vì ngay từ khi sinh ra họ đã gần gũi
với các sự vật cảm tính. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là làm ra của cải vật chất.
Theo Platon, trong xã hội cần phải duy trì những hạng người khác nhau
và do đó không thể có sự hoàn toàn bình đẳng giữa mọi người. Công lý là ở
chỗ mỗi một hạng người làm hết trách nhiệm của mình, biết sống đúng với
tầng lớp của mình như thế mới là làm điều thiện. Sở hữu tư nhân là nguồn gốc
sinh ra mọi điều ác vì vậy cần xóa bỏ. Platon là một trong số ít nhà triết học
cổ đại có được nhiều quan niệm khá cụ thể và hệ thống về hiện tượng đạo
đức, chính trị … và sự phát triển xã hội nói chung, nó ảnh hưởng sâu sắc

19
trong triết học Kant sau này về các vấn đề như linh hồn, Thượng Đế, và phạm
trù tự do.
Từ học thuyết về hình thức hay ý niệm và học thuyết về tri thức hay
nhận thức luận, Platon tiếp tục nghiên cứu một số vấn đề thuộc lĩnh vực đời
sống tinh thần xã hội, trong đó đạo đức được ông đặt vào vị trí trung tâm để
từ đó xem xét những vấn đề còn lại. Theo Platon, thân xác con người tự nó là
bất động, không có sinh khí và sự sống, để thân xác hoạt động được và trở
nên sống động cần có sự kích hoạt của linh hồn. Nói cách khác, chức năng cơ
bản của linh hồn là vận hành, quản lý hay điều khiển hành vi thể xác.Với tư
cách là khởi nguồn của sự sống con người, linh hồn bao hàm hai phần chính:
1) Phần lý tính. 2) Phần phi lý tính. Đến lượt mình, phần phi lý tinh lại bao
gồm: tinh thần hay tâm linh và dục vọng hay đam mê. Đây là ba động lực
khác nhau của linh hồn, sự tác động qua lại giữa chúng thường gây nên tình
trạng lẫn lộn và giằng xé, mâu thuẫn trong đời sống nội tâm con người.
Lý trí đặt ra mục đích cho hành động, nhưng mục đích này bị dục vọng
lấn át, và tinh thần con người bị chi phối bởi bởi sự lấn át này, cho nên hành
vi con người có thể bị đẩy về bất cứ phía nào. Trong tác phẩm “Phaedrus”
Platon đã cho chúng ta một ví dụ minh họa cụ thể - đó là hình ảnh một người
đánh xe (đại diện cho lý trí) với hai con ngựa kéo, (một con tốt - đại diện cho

truyền qua sự luân hồi, nghĩa là đưa chúng vào thể xác mới, cứ như vậy cái ác
tồn tại từ kiếp này sang kiếp khác, không bao giờ có thể bị tiêu diệt.
Để loại bỏ cái ác và sự sai lạc của linh hồn, Platon kêu gọi một đời
sống có sự hài hòa nội tâm.Tức con người có một cuộc sống cân bằng giữa
vật chất và tinh thần, không thái quá. Trạng thái sống này chỉ có thể có khi
linh hồn thực hiện tốt chức năng cơ bản là nghệ thuật sống. Là một người yêu
âm nhạc (và có thể là một nhạc công), Platon so sánh nghệ thuật sống với

21
nghệ thuật chơi nhạc.Theo ông, trong âm nhạc, sự hòa điệu có được là nhờ
nhạc công biết căng dây đàn đúng mức cần thiết, biết phối âm, phối khí.Trong
cuộc sống cũng vậy, linh hồn cần biết sự chừng mực, không thái quá trong
mọi ước muốn cũng như hành động.
Để làm cho đạo đức học của mình mang tính thực dụng hơn, Platon cho
rằng, một đời sống tốt lành là một đời sống có ích, giống như vật dụng được
coi là tốt khi nó có tính hiệu quả cao. Theo ông thầy thuốc tốt trước hết phải
là người chữa bênh giỏi, cứu sống nhiều người. Chính ở đây, chúng ta thấy
giá trị thực tiễn đạo đức học Platon, ông nghiên cứu đạo đức xuất phát từ thực
tế đời sống chứ không mang tính hàn lâm như các học thuyết khác.
Khi con người giữ được ý chí trong giới hạn và sự chừng mục, tránh
được hành động nông nổi, thô thiển thì nó đạt tới đức hạnh dũng cảm. Khi
con người giữ được lý trí không để bị khuấy động bởi dục vọng bất chấp
những thay đổi của cuộc sống thì nó đạt được đức hạnh khôn ngoan. Khi cả
ba phần của linh hồn thực hiện tốt chức năng riêng của mình, con người đạt
tới đức hạnh công bằng. Công bằng phản ánh sự an lạc và hài hòa của đời
sống nội tâm, đó là thời điểm bắt đầu của hạnh phúc. Những phân tích này,
chứng tỏ Platon là người biện luận và bảo vệ chủ nghĩa duy hạnh. Từ những
quan niệm về đạo đức học, về linh hồn mỗi con người, Platon liên tưởng đến
một phạm vi rộng lớn hơn, đó là đời sống cộng đồng hay nhà nước.
Aritxtot (384-322 TCN) là học trò Platon, ông đã phê phán mạnh mẽ

thể khi hành vi đó xảy ra, chứ không phải nói một cách chung chung.
Phạm trù cơ bản thứ hai trong Đạo đức học Arixtôt là Nhân đức hay
Đức hạnh (Moral virtue). Trong cuốn Đạo đức lớn, ông cho rằng, nhân đức
không phải là thuộc tính cố hữu của con người, tức không phải bản tính tự
nhiên của nó. Từ một quan niệm như vậy, ông đề xuất quan điểm cho rằng,
cần phải giáo dục nhân đức bằng cách tạo nên những thói quen tốt. Những

Trích đoạn nghĩa mệnh lệnh tuyệt đối trong đạo đức học Kant Khái niệm về Tự do Các hình thức biểu hiện của tự do nghĩa thời đại nghĩa lịch sử
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status