TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC
---------------------
Lê Mạnh Cƣờng
TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA ARISTOTLE TRONG TÁC PHẨM
“ĐẠO ĐỨC HỌC NICOMACHEAN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2016-X
HÀ NỘI, 2020
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC
---------------------
Lê Mạnh Cƣờng
TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA ARISTOTLE TRONG TÁC PHẨM
“ĐẠO ĐỨC HỌC NICOMACHEAN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2016-X
RA ĐỜI ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA ARISTOTLE ............................................ 8
1.1. Bối cảnh lịch sử .......................................................................................... 8
1.2. Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời đạo đức học Aristotle ............................. 13
1.2.1 Tư tưởng đạo đức học của Democritos ( Khoảng 460 TCN) ........... 13
1.2.1. Tư tưởng đạo đức học của Socrates (470 – 399 TCN) ..................... 14
1.2.2. Tư tưởng đạo đức học của Plato (427 - 347 TCN) .......................... 17
1.3. Aristotle và tác phẩm "Đạo đức học của Nicomachean" ......................... 21
Chƣơng II : ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA ARISTOTLE TRONG TÁC PHẨM
“ĐẠO ĐỨC HỌC NICOMACHEAN” ....................................................... 30
2.1.Quan niệm của Aristotle về “ Điều thiện” và “ Hạnh phúc” .................... 30
2.2. Quan niệm của Aristotle về đức hạnh ...................................................... 34
2.3. Bàn về sự vô tiết độ (Akrasia).................................................................. 44
2.4. Bàn về những lạc thú................................................................................ 47
2.5. Bàn về tình thân hữu ................................................................................ 50
KẾT LUẬN .................................................................................................... 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 60
1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Những cuộc cách mạng về khoa học và kỹ thuật đã giúp cho thế giới
thay đổi. Đời sống vật chất của con người ngày nay rất phong phú. Chúng
ta đang sống trong thời kỳ với những tiện nghi hiện đại, những phương tiện
giải trí đa dạng. Sự phát triển về khoa học kỹ thuật không đi cùng với nó là
sự phát triển về đạo đức, trái lại đạo đức của một bộ phận không nhỏ đang
ngày càng xuống cấp. Ngày nay, sự hấp dẫn của vật chất khiến con người
ta bất chấp cả đạo đức để đạt được. Con người chúng ta ngày này dần trở
nên phụ thuộc vào những giá trị vật chất do chính mình tạo ra. Dường như,
Nghiên cứu triết học cũng như nghiên cứu những tư tưởng đạo đức
học có một ý nghĩa rất quan trọng đối với sự đổi mới tư duy lý luận nói
chung và sự phát triển của các khoa học triết học nói riêng.
Triết học Aristotle nói chung và đạo đức học của ông nói riêng đã
được nghiên cứu, diễn giải ngay từ thời cổ đại cho đến tận ngày nay ở
nhiều nước khác nhau. Một trong những lĩnh vực luôn thu hút được sự
quan tâm và nghiên cứu khá kỹ trong hệ thống triết học của ông là đạo đức
học. Những đề tài liên quan đến vấn đề này luôn được tiếp cận dưới nhiều
góc độ khác nhau.
Trước tiên phải kể đến những công trình nghiên cứu về triết học Hy
Lạp cổ đại và lịch sử triết học của các tác giả khác nhau với những vấn đề
được đề cập cũng khác nhau trong các sách tham khảo và giáo trình như
“Triết học Hy Lạp cổ đại” của Thái Ninh (1987) , trong đó, tác giả đã trình
bày triết học Hy Lạp từ khi hình thành đến thời kỳ Hy Lạp hoá, thời kỳ
suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại. Đối với triết gia
Aristotle, ngoài việc đi vào cuộc đời và sự nghiệp triết học thì tác giả đã
trình bày, phân tích rất nhiều nội dung như: Học thuyết về tồn tại, Logic
học,… và quan niệm về đạo đức, tuy còn rất khái quát nhưng đó cũng là
một nguồn tư liệu quan trọng cho tác giả khóa luận tham khảo. Tiếp theo
3
phải kể đến “Triết học cổ Hy Lạp giản yếu” của Hào - Nguyên Nguyễn
Hóa (2004) , trong tập 2 “Tập bài giảng lịch sử triết học Hi La” của
Nguyễn Quang Thông và Tống Văn Chung (1990) , “Triết học Hy Lạp cổ
đại” của Đinh Ngọc Thạch (2000). Ở ba cuốn sách này, các tác giả đã
trình bày khá đầy đủ hệ thống triết học cũng như một số phạm trù đạo đức
học - những vấn đề đó được trình bày khá rõ ràng, dễ hiểu, do vậy chúng
là nguồn tư liệu tham khảo tương đối tốt cho khóa luận. Có thể kể đến
những ấn phẩm mới xuất bản gần đây như các cuốn “Lịch sử triết học Tây
bài: “Aristotle: con người và sự nghiệp” của tác giả Nguyễn Văn Dũng
(1993) , hay một bài khác của ông với tiêu đề “Vấn đề phương pháp trong
triết học Aristotle” (1997) ; Nguyễn Bá Dương với bài “Về vai trò sáng
lập lịch sử triết học của Aristotle” (2002); “Về tư tưởng giáo dục
Aristotle” của Nguyễn Bá Thái (2003) … Tham khảo những bài này đã
cho chúng tôi hiểu được không ít vấn đề liên quan đến tư tưởng triết học
và thấy được vai trò to lớn của Aristotle trên nhiều lĩnh vực, trong đó có tư
tưởng giáo dục đạo đức.
Aristotle: Ngoài tác phẩm “Đạo đức học của Nicomachean” do
Đức Hinh dịch, mà tác giả khóa luận sử dụng làm tài liệu nghiên cứu thì
phải kể đến những công trình khác như: Tuyển tập danh tác triết học từ
Platôn đến Derrida của Forrest E. Baird , là công trình đề cập tới nhiều
triết gia, trong đó có dành một phần để giới thiệu các tác phẩm của
Aristotle, trong đó có nội dung đạo đức học. Và hàng loạt công trình khác:
“Khoa học và triết học Hy Lạp cổ đại” của Alan C. Bowen ; “Câu chuyện
triết học” của Will Durant …
Vậy là có không ít các tác phẩm triết học, các cuốn sách triết học,
các bài báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu khác nhau... bàn về triết
học, đạo đức học của Aristotle. Mỗi tác giả lại đề cập theo những vấn đề
riêng mà họ quan tâm. Trong quá trình nghiên cứu thực hiện khóa luận
này học viên đã tham khảo, kế thừa trên tổng thể những tài liệu có liên
quan đến triết học, đạo đức học của Aristotle, học viên cũng cố gắng tập
5
trung chúng lại và bổ sung thêm trong khóa luận này để có được sự trình
bày của riêng mình những tư tưởng đạo đức học cơ bản nhất của Aristotle
trong tác phẩm “Đạo đức học của Nicomachean”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
-
6. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần nghiên cứu, làm sáng tỏ và hệ thống hoá những
nội dung cơ bản trong tư tưởng đạo đức của Aristotle thông qua tác phẩm
“Đạo đức học của Nicomachean” mà đến nay vẫn còn giá trị và bước đầu
đưa ra một vài nhận xét, đánh giá về giá trị của tư tưởng đạo đức học
Aristotle.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Khóa luận góp phần làm sáng tỏ thêm và trình bày có hệ thống hơn
những tư tưởng đạo đức học của Aristotle, do vậy sẽ có ích cho việc tìm
tòi và lĩnh hội những kiến thức về đạo đức học của một vĩ nhân trong lịch
sử.
Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người
nghiên cứu quan tâm tới triết học cổ đại, tới tư tưởng đạo đức học và cho
sinh viên, học viên cao học khoa triết học trong việc nghiên cứu đạo đức
học và triết học.
8. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung được kết cấu thành hai chương, tám tiết.
7
CHƢƠNG 1 : BỐI CẢNH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ TƢ TƢỞNG CHO SỰ
RA ĐỜI ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA ARISTOTLE
1.1. Bối cảnh lịch sử
Thời cổ đại, nền kinh tế Hy lạp phát triển đều cả về nông nghiệp, thủ
công nghiệp, và thương nghiệp.
Vào thế kỷ XV cho đến thế kỷ IX TCN, xu hướng chuyển sang chế độ
chiếm hữu nô lệ đã hiện dần và ngày càng lộ rõ. Sự phát triển mạnh mẽ của
bức tàn bạo. Tài sản nằm trong tay giai cấp chủ nô thực chất có được là do
bóc lột sức lao động của những người nô lệ. Cuộc sống khổ cực của giai cấp
nô lệ chính là bản án tố cáo mặt trái của xã hội chiếm hữu nô lệ. So với
phương Đông, chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại phát triển cao hơn và
đầy đủ nhất đến mức điển hình.
Chế độ nô lệ là một chế độ xã hội có hình thức áp bức bóc lột tàn bạo
nhất, dã man nhất, vô nhân đạo nhất trong lịch sử so với tất cả các hình thức
áp bức bóc lột ở các chế độ xã hội có giai cấp khác. Do vậy, ở xã hội này luôn
luôn diễn ra những cuộc nổi dậy tự phát của nô lệ chống lại chủ nô song kết
cục thường thất bại, thậm chí bị đàn áp rất dã man. Nguyên nhân chính của
những thất bại đó là do họ không có khả năng xây dựng một hệ tư tưởng phản
ánh những quyền lợi của mình. Họ xuất thân từ những người lao động chân
tay nặng nhọc ở các bộ lạc khác nhau với những ngôn ngữ khác nhau, do đó
họ đã không có tiếng nói chung, ngôn ngữ chung. Tuy nhiên, nhờ có chế độ
đó, giai cấp chủ nô Hy Lạp cổ đại mới có thể thoát ly được hoạt động lao
động chân tay vất vả để xây dựng các khoa học, trong đó có triết học, nghệ
thuật.
Xã hội chiếm hữu nô lệ hình thành, nền kinh tế phát triển về mọi mặt
đã dần dần dẫn tới sự tách rời thành thị với nông thôn, các quốc gia – thị
thành Hy Lạp được thành lập. Đó là nơi tập trung những cơ quan đầu não về
kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao... do giai cấp chủ nô xây dựng nhằm
bảo vệ và củng cố quyền sở hữu, quyền áp bức bóc lột của họ đối với nô lệ và
9
dân tự do. Sự thành lập và phát triển của các thành thị góp phần làm cho văn
hoá Hy Lạp tiến bộ. Ở các thành thị từng bước xuất hiện nền công nghiệp,
thương nghiệp và những hình thức đầu tiên của khoa học, triết học và nghệ
thuật.
Sự tranh giành quyền bá chủ Hy Lạp giữa các thành bang chính là đặc
truyền thống và các tôn giáo nguyên thuỷ vào khoảng thế kỷ VII - VI TCN đã
không còn đáp ứng và lý giải được những vấn đề mới của thế giới quan.
Những khám phá khoa học đầu tiên của con người cổ đại đã cho thấy sự giả dối
của bức tranh vũ trụ quan và nhân sinh quan của các tôn giáo và thần thoại, đòi
hỏi con người phải có cách lý giải mới về thế giới xung quanh và cuộc sống
của mình. Trong hình thức sơ khai ban đầu những tri thức này xen kẽ với tri
thức triết học, với quan điểm chính trị và chúng gắn quyện với nhau tạo thành
một khối thống nhất chặt chẽ không thể chia cắt được. Lúc này, triết học và các
khoa học khác chưa có sự phân ngành rõ rệt. Các nhà triết học đồng thời là các
nhà toán học, thiên văn học, vật lý học, đạo đức học... Qua đó có thể thấy, triết
học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi ra đời đã gắn chặt với nhu cầu của thực tiễn và
không tách rời các khoa học.
Sự phát triển của khoa học Hy Lạp cổ đại còn chịu ảnh hưởng từ các
khoa học ở phương Đông. Sự tiếp biến tư tưởng Đông - Tây đã tạo điều kiện
cho triết học Hy Lạp phát triển, quan hệ chính trị, giao lưu văn hoá, nghệ
thuật, khoa học với phương Đông là cơ sở cho sự nảy nở rực rỡ của tư tưởng
triết học và tính muôn màu muôn vẻ của nó trong thời kỳ cổ đại Hy Lạp.
Do nhu cầu buôn bán, trao đổi hàng hoá mà các chuyến vượt biển đến
với các nước phương Đông đã trở nên thường xuyên. Khi những con thuyền
tung mình lướt sóng thì tầm nhìn của những người Hy Lạp cổ đại cũng được
mở rộng, các thành tựu văn hoá của Ai Cập, Babilon đã lôi cuốn con người
Hy Lạp. Những tinh hoa về toán học, thiên văn học, địa lý, hệ thống đo
lường... và cả những yếu tố huyền học cũng được người Hy Lạp đón nhận.
Các nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp như Pitago, Đêmôcrít đã từng chu du
11
sang Ai Cập, Babilon... tiếp thu những tri thức khoa học đã được tích lũy ở
đây... Alan Cbower cho rằng “nền khoa học mới phát triển ở Ionia vào thế kỷ
VI TCN chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên văn học Babylon, hầu như việc tạo
được gọi là những người yêu mến sự thông thái.
Triết học Hy Lạp không chỉ hình thành, ra đời ở một địa điểm, mà nó
đã xuất hiện trên những mảnh đất khác nhau của Đại Hy Lạp. Sự giao lưu
giữa các “vùng”, các “nôi” triết học khác nhau tạo nên sự đan xen nội tại của
triết học Hy Lạp. Sự giao lưu của các dòng khác nhau đã hoàn tất vẻ phức tạp
đa dạng toàn diện của triết học Hy Lạp.
Như vậy, bên cạnh sự kế thừa thuần tuý những tư tưởng ở bên ngoài
(toán học, thiên văn học... ) Hy Lạp cổ đại đã không ngừng tự mình vươn lên
trên cơ sở những điều kiện do thiên nhiên và con người nơi đây tạo ra. Điều
kiện quyết định sự hình thành và phát triển của triết học Hy Lạp, của những tư
tưởng đạo đức học phôi thai chính là kết quả nội sinh tất yếu của cả một dân
tộc, một thời đại, Mác cho rằng, các nhà triết học không phải là những cây
nấm mọc trên đất. Họ là sản phẩm của thời đại mình, dân tộc mình mà những
tinh lực tinh tế nhất, quý giá nhất và khó nhìn thấy nhất đã được suy tư trong
các khái niệm triết học.
1.2. Tiền đề tƣ tƣởng cho sự ra đời đạo đức học Aristotle
1.2.1 Tƣ tƣởng đạo đức học của Democritos ( Khoảng 460 TCN)
Democritos là một triết gia Hy Lạp tiêu biểu cho thời kỳ tiền Socrates.
Ông là học trò của Leucippus và đã cùng với thầy của mình tạo ra thuyết
nguyên tử thô sơ. Theo học thuyết của ông, mọi vật chất được cấu thành từ
các dạng khác nhau của các phân tử không thể chia nhỏ được, không nhìn
thấy được, được gọi là các atoma. Về mặt lý thuyết, ông được coi là nhà duy
vật, nhưng trong thực tế đời thường, ông lại là một trong những nhà duy tâm
bậc nhất của thời đại. Democritos được nhận xét là một nhà triết học điềm
13
tĩnh, giản dị và thường được người đời gọi là “một nhà hiền triết hạnh phúc và
toàn mỹ”
Học thuyết về đạo đức học của ông là những quy tắc sống thực tiễn,
triết học quay trở lại với con người. Ông đặc biệt quan tâm tới vấn đề con
người, coi đó là trung tâm của các suy tư, (cố nhiên đây là con người có chân
lý và giá trị), là chủ đề chính trong các cuộc đàm thoại triết học của mình. Có
thể khẳng định rằng, vấn đề về những phẩm chất đạo đức của con người là
trung tâm của toàn bộ triết học Socrates. Về thực chất, triết học Socrates là
triết học đạo đức, ông được đánh giá là nhà triết học đạo đức đầu tiên trong
lịch sử châu Âu đặt nền móng cho đường hướng khai sáng – duy lý trong đạo
đức học muộn hơn sau này. Chính từ giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức của
ông mà sau này Aristotle đã chịu ảnh hưởng rất nhiều.
Trong quan niệm về đạo đức của Socrates, nổi lên những vấn đề cơ
bản như:
Đạo đức là mục đích của tư duy
Có thể xác định đối tượng của tư duy là: các việc làm của con người,
nhận thức bản thân của con người, những vấn đề của cuộc sống có đạo đức và
việc đạt tới cái phúc. Với Socrates, tìm kiếm chân lý trùng hợp với khát vọng
về một cuộc sống tốt đẹp nhất, về cái phúc.
Cái thiện, trong quan niệm của Socrates chính là đối tượng của triết học
nói chung. Cái thiện ấy chính là cái thiện phổ quát – khái niệm dùng để giảng
nghĩa hành vi của con người trong hoạt động sống của mình.
Socrates phê phán những quan niệm sai lầm về cái thiện. Ở thời ông,
mỗi khi bàn về vấn đề giá trị, thì phải thông qua các khái niệm cái thiện, kỹ
năng, đức hạnh và hạnh phúc. Các khái niệm này có thể diễn tả theo ba
khuynh hướng.
15
Có thể quan niệm cái thiện theo cách hiểu của chủ nghĩa vị lợi
(Utilitarismus) như cái gì đó có mục đích, hữu ích, cần thiết.
Hay theo cách hiểu của chủ nghĩa khoái lạc, cái thiện là cái dễ chịu,
khao khát, ham muốn tương ứng.
điều kiện tạo thành bản chất tâm hồn của con người. Ông hướng triết học đến
tự nhận thức, nhận thức chính mình, một con người, một nhân cách có đạo
đức và mang ý nghĩa xã hội.
Con người đức hạnh đạt tới sự tuyệt vời khi điều mình muốn biết phải là điều
thiện thực sự.
1.2.3. Tƣ tƣởng đạo đức học của Plato (427 - 347 TCN)
Là một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng kiệt xuất thời cổ đại, là
học trò của Socrates. Xuất thân từ một gia đình quý tộc thượng lưu, Plato là
người đắc lực phục vụ tầng lớp chủ nô quý tộc và là người thành lập Viện hàn
lâm Academias - trường đại học tổng hợp đầu tiên ở châu Âu, hoạt động liên
tục trong 915 năm (386 TCN - 529). Ông là người sáng lập và là đại biểu lớn
nhất của triết học duy tâm khách quan thời cổ đại.
Plato là nhà triết học quan tâm sâu sắc tới nhiều lĩnh vực hoạt động: chính
trị - xã hội, đạo đức, thẩm mĩ... Song một trong các bộ phận quan trọng nhất của
triết học Plato là học thuyết về con người, về xã hội: cách thức tổ chức cuộc sống
tốt nhất của con người, trong đó trung tâm của mọi tìm tòi triết học là con người
và số phận của nó. Vấn đề trung tâm được tư tưởng triết học cổ đại giải quyết là
việc đạt tới phúc: con người có được cuộc sống tốt nhất, có đạo đức. Do vậy,
hoàn toàn có thể nói, những tư tưởng trước đó của Plato về tồn tại, về ý niệm, về
nhận thức, về vũ trụ đều là sự chuẩn bị trước và luận chứng cho những vấn đề và
những giải pháp sẽ xuất hiện trong quá trình lập luận về con người.
Quan điểm về ý niệm là nền tảng tối hậu của đạo đức học Plato. Cấp
bậc đạo đức đích thực và phái sinh không phải là thể xác và tâm hồn, mà là
lĩnh vực ý niệm. Trong quan niệm về đạo đức, Plato đề cập tới thiện và ác.
17
Theo ông, thiện hay ác đã có sẵn ở ý niệm rồi. Trước hết là ý niệm “thiện” với
tư cách nguyên nhân của mọi cái đúng và cái đẹp. Cái thiện thực hiện chức
năng của cái thống nhất. Cái thống nhất là nguyên tắc của tồn tại. Tồn tại
Theo Plato, linh hồn có ba bộ phận cơ bản. Đó là, thứ nhất, bộ phận
mong muốn (hay dục vọng): trải nghiệm ấn tượng, tình cảm và ham muốn;
thứ hai, bộ phận ý chí, khát vọng, mơ ước; thứ ba, bộ phận lý tính. Ông đã
hình tượng hoá ba bộ phận này của linh hồn bằng cỗ xe song mã, trong đó lý
tính thì lái xe, con ngựa có ý chí thì nhận thức được ý niệm. Con ngựa thèm
khát dục vọng thì sa vào tối tăm, dốt nát, không nhận thức được chân lý (ý
niệm). Vận dụng học thuyết này vào đạo đức, Plato cho rằng lý tính của linh
hồn là cơ sở của sự thông thái. Ý chí là cơ sở của lòng dũng cảm, chế ngự dục
vọng, làm cơ sở cho sự điều độ. Ba yếu tố này kết hợp với nhau một cách hài
hoà dưới sự chỉ đạo của lý tính sẽ tạo ra yếu tố thứ tư là chính nghĩa. Đạo đức
học của Plato dựa vào bốn yếu tố đó. Đạo đức đó không hướng con người vào
việc thực hiện những hành vi đạo đức trong cuộc sống hiện thực mà hướng
vào ý niệm tối cao của cái thiện. Đó là sự thông thái và lòng dũng cảm.
Những biểu hiện của các hình thức phẩm hạnh đạo đức ấy trong xã hội
là ba tầng lớp xã hội cơ bản, hay ba loại công dân: tầng lớp người lao động:
nông dân, thương gia, thợ thủ công, tức những người đáp ứng nhu cầu vật
chất và thể chất của con người,... tầng lớp này cần đến đức hạnh ôn hòa, hay
kiềm chế, đức hạnh này được Plato hiểu như “một loại trật tự, một sự kiềm
chế một số khoái lạc và thèm muốn” [16, 62]; một bộ phận công dân khác –
chiến binh, nhiệm vụ của họ là bảo vệ nhà nước khỏi kẻ thù và duy trì trật tự
trong nhà nước, đức hạnh phù hợp với họ là lòng dũng cảm - theo Plato, dũng
cảm nghĩa là: biết duy trì một điều gì đó. Sự duy trì này phải được diễn ra
trong mọi hoàn cảnh, nghĩa là phải duy trì nó luôn luôn và không bao giờ bỏ
nó, cho dù là dưới ảnh hưởng của vui sướng hay đau khổ, ước muốn hay sợ
hãi...; cuối cùng, tầng lớp thứ ba là những người sở hữu “nghệ thuật làm vua”,
tức năng lực quản lý và giáo dục con người, hướng họ đến với cái phúc. Plato
19
gọi những người này là các nhà triết học, đức hạnh phù hợp với vai trò của họ
1.3. Aristotle và tác phẩm "Đạo đức học của Nicomachean"
1.3.1. Aristotle: cuộc đời và sự nghiệp triết học
Aristotle - bộ óc bách khoa của nền triết học và khoa học thời Hy
Lạp cổ đại, - người nêu rõ mục đích các hành động của con người là
hướng vào điều thiện, và mục đích cuối cùng, cao nhất của con người là
hạnh phúc. Con người hạnh phúc là con người giống như Chúa, có cuộc
sống no đủ, không thiếu thốn gì. Song hạnh phúc cũng lại phụ thuộc vào
các điều kiện bên ngoài và cũng không phải chỉ là vấn đề đức hạnh - cá
nhân. Để bảo đảm cho con người có một cuộc sống hoàn hảo trong xã hội,
đạo đức học của Aristotle đề cao công bằng và tình bạn, coi công bằng là
đạo đức cao đẹp của con người và của những quan hệ giữa người với
người. Ông là một trong số những nhà triết học vĩ đại nhất thời cổ Hy Lạp.
Aristotle là học trò xuất sắc của Plato. Ông sinh năm 384 TCN tại
thành phố Stagir trên bờ biển Egie cách Athen 300km về phía bắc, là
thuộc địa của xứ Macedonia. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có
bố làm thầy thuốc cho vương triều Macedonia. Thiếu thời ông thường
giúp bố trong nghề thuốc ở chốn cung đình và tại đây ông đã quan hệ với
Philip - con vua Aminta (cầm quyền trong những năm 393 TCN - 369
TCN) - người sau này đã thay vua cha trị vì xứ Macedonia. Năm 15 tuổi,
Aristotle mồ côi cả cha lẫn mẹ. Do lòng say mê khoa học, ông đã không
theo nghiệp thuốc gia truyền và tìm hướng đi riêng cho mình. Dưới sự
giúp đỡ của Prôksen - cha đỡ đầu của Aristotle, ông rời bỏ quê hương tới
Athen - trung tâm văn hoá của Hy Lạp để học tập. Năm 18 tuổi, ông nhập
học tại Học viện Academias của Plato và ở đó trong suốt nhiều năm cho
đến khi Plato mất. Cuộc sống của Aristotle gắn liền với Academias, ông
không giao tiếp với người sáng lập ra nó, mà chuyên tâm nghiên cứu tỉ mỉ
triết học Plato. Tại đây, Aristotle đã có được một nhãn quan khoa học
quảng bá, xây dựng quan điểm triết học và khoa học của riêng mình. Khi
so sánh Aristotle với Ksenokrat là hai học trò của mình, Plato đã nói: đối
21