ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
MAI VĂN THƢƠNG
QUAN NIỆM CỦA I. KAN VỀ LÝ TÍNH TRONG
TÁC PHẨM PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THỰC HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
MAI VĂN THƢƠNG
QUAN NIỆM CỦA I. KAN VỀ LÝ TÍNH TRONG
TÁC PHẨM PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THỰC HÀNH
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 03 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phạm Văn Chung
Hà Nội - 2015
Tác giả luận văn
Mai Văn Thƣơng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ CỦA TRIẾT HỌC I. KANT
VÀ TÁC PHẨM PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THỰC HÀNH ............................... 9
1.1. Những tiền đề lịch sử của triết học I. Kant............................................ 9
1.2. I. Kant - Con ngƣời và tác phẩm .......................................................... 14
1.3. Nội dung chính của tác phẩm Phê phán lý tính thực hành ................. 22
CHƢƠNG 2. NỘI DUNG CHÍNH CỦA QUAN NIỆM CỦA I. KANT VỀ
LÝ TÍNH TRONG TÁC PHẨM PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THỰC HÀNH .. 28
2.1. Quan niệm của I. Kant về lý tính và về lý tính thực hành nói chung ....... 28
2.1.1. Cách đặt vấn đề của I. Kant trong nghiên cứu lý tính và thực chất của
sự phê phán lý tính thuần túy .......................................................................... 28
2.1.2. Quan niệm của I. Kant về lý tính thực hành nói chung ........................ 33
2.2. Sự khám phá quan năng của lý tính thực hành trong Phê phán lý tính
thực hành ........................................................................................................ 41
2.2.1. Tự do, ý chí và tự do ý chí như là những yếu tố cơ bản cấu thành quan
năng lý tính thực hành..................................................................................... 41
2.2.2. Đạo đức như là yếu tố quan trọng tất nhiên cấu thành quan năng của lý
tính thực hành.................................................................................................. 47
2.3. Ý nghĩa của quan niệm của I. Kant về lý tính đối với nhận thức khoa
học ................................................................................................................... 60
KẾT LUẬN .................................................................................................... 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 69
hội nhập trên phạm vi toàn cầu như hiện nay, những lối sống, phương thức tư
duy của con người dường như bị chi phối bởi, hoặc là nền chính trị, hoặc là tư
1
tưởng của đa số chứ không phải của cá nhân. Nói cách khác, đó là sự mất tự
do của con người, của lý tính con người hay tự do, lý tính đang bị xem nhẹ, có
khi cá nhân con người không có chính kiến của riêng mình, những hành động
của họ cũng chỉ giới hạn như là từ những sự tác động bề ngoài chứ không
phải do những quy tắc bên trong họ quy định. Điều này dẫn đến tình trạng
tâm lý đám đông hay như thuật ngữ của triết học phương Tây hiện đại là “con
người đại chúng” ngày càng tăng lên. Những giá trị, những chuẩn mực đạo
đức của con người cũng bị chi phối theo xu hướng đó, theo đó chân lý phụ
thuộc vào đám đông chứ không hề phụ thuộc vào bản thân của sự vật hiện
tượng. Từ đây nảy sinh nhiều vấn đề lớn như thực chất hành động đạo đức
của con người là do đâu? Có tự do trong ý chí hành động của con người hay
không? Nếu có thì nó xuất phát từ đâu? Tự do đó bị quy định bởi cái gì, hoặc,
tự do hoàn toàn không bị quy định bởi điều gì cả? Hoạt động khoa học của
các nhà nghiên cứu cần dựa vào đâu để có tính đạo đức?.... Tìm hiểu quan
niệm của Kant về lý tính trong tác phẩm Phê phán lý tính thực hành sẽ cho
chúng ta những gợi mở quan trọng để trả lời cho những vấn đề trên.
Ngày nay với sự phát triển bùng nổ của tri thức khoa học, con người
đang đứng trước những nghịch lý, mâu thuẫn không dễ giải quyết. Dường như
cùng với sự gia tăng kiến thức, tri thức, những phương tiện công nghệ mới
con người càng xuống cấp về đạo đức, tỏ ra mất phương hướng trong nhiều
vấn đề đời sống như sinh thái môi trường, khoảng cách quá lớn giữa giàu và
nghèo, sự phát sinh những bệnh tật hiểm nghèo, chiến tranh, sự cạn kiệt của
các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguy cơ dùng chính những thành tựu của
khoa học, công nghệ chống lại loài người… Trong bối cảnh ấy lương tâm của
nhà khoa học đang bị thách thức nghiêm trọng. Vì thế, nhận thức khoa học
“cái siêu việt” của lý tính trong lý luận nhận thức của I. Cantơ và tư tưởng của
ông về một nền triết học khoa học” của Phạm Văn Chung; “Tư tưởng của I.
Cantơ về sự thống nhất của lý luận nhận thức, đạo đức trong nhân học” của
Nguyễn Vũ Hảo; “Immanuen Kant và nhận thức luận hiện đại” của Đỗ Văn
Khang; “Lý luận nhận thức của I. Cantơ thời kỳ “phê phán” - giá trị và hạn
chế” của Trần Văn Phòng; “Nhận thức luận của Cantơ - Nhìn từ triết lý Đông
phương” của Lê Công Sự; “Quan niệm của Cantơ về bản chất và giới hạn của
3
nhận thức” của Dương Văn Thịnh; “Quan niệm của Cantơ về bản chất của
nhận thức và ý nghĩa của nó” của Vũ Văn Viên.
Về đạo đức học có các công trình như “Đạo đức học của Cantơ và ý
nghĩa hiện thời của nó” của Nguyễn Trọng Chuẩn; “Triết học đạo đức của
Cantơ và ảnh hưởng của nó đối với nền triết học phương Tây” của Ngô Thị
Mỹ Dung; “Tìm hiểu một số quan niệm đạo đức của I. Cantơ (Qua so sánh
với quan niệm đạo đức của Mạnh Tử)” của Đỗ Thị Hòa Hới; “Quan hệ giữa
cá thể và cộng đồng trong học thuyết đạo đức học của Cantơ” của Trịnh Duy
Huy; “Thế giới đạo đức trong triết học thực tiễn của Cantơ” của Nguyễn Kim
Lai; “Quan niệm của I. Cantơ về mối quan hệ giữa ý chí tự do và ý chí phục
tùng các quy tắc đạo đức” của Nguyễn Thế Nghĩa; “Quan hệ giữa đạo đức với
các lĩnh vực đời sống xã hội khác trong quan niệm đạo đức học của Cantơ”
của Nguyễn Văn Sanh; “Một số khía cạnh đạo đức trong triết học Cantơ” của
Lê Thị Thủy; “I. Cantơ và phạm trù nghĩa vụ đạo đức” của Võ Minh Tuấn.
Liên quan đến các chủ đề trên còn có công trình luận văn thạc sĩ triết
học đã công bố của Vũ Thị Thu Lan về “Mệnh lệnh tuyệt đối trong đạo đức
học của I. Kant”, công trình luận văn tiến sĩ triết học của Vũ Thị Hải về “Một
số quan điểm đạo đức cơ bản của Arixtốt và I. Kant”. Trong các công trình
nghiên cứu trên đáng chú ý là công trình của Nguyễn Kim Lai về “Thế giới
đạo đức trong triết học thực tiễn của Cantơ”; công trình của Nguyễn Vũ Hảo
nhân học” của Nguyễn Vũ Hảo; “Quan niệm của I. Cantơ về mối quan hệ
giữa ý chí tự do và ý chí phục tùng các quy tắc đạo đức” của Nguyễn Thế
Nghĩa. Tuy nhiên, các công trình đều chỉ chú ý khảo sát quan niệm của Kant
thông qua nhiều tác phẩm của ông nên chủ yếu mang tính khái quát chung
chứ chưa có tính chuyên sâu về một tác phẩm. Các công trình nghiên cứu
cũng chưa thể hiện được mối quan hệ sâu sắc giữa lý tính và đạo đức, nhất là
vấn đề trong mối quan hệ giữa lý tính và đạo đức, đạo đức có vai trò gì đối
với lý tính và ngược lại, cơ chế tác động của lý tính và đạo đức như thế nào,
nhìn chung chưa được giải đáp sâu sắc.
5
Các công trình nghiên cứu có đề cập đến tác phẩm Phê phán lý tính
thực hành như “Mệnh lệnh tuyệt đối trong đạo đức học của I. Kant” của Vũ
Thị Thu Lan, “Một số quan điểm đạo đức cơ bản của Arixtốt và I. Kant” của
Vũ Thị Hải… thường chỉ chú trọng đến khía cạnh đạo đức học mà quên rằng
tác phẩm này là một trong bộ ba tác phẩm phê phán rất quan trọng của Kant
về lý tính.
Đồng thời, một vấn đề không kém phần quan trọng cần phải nói đến ở
đây là người ta có xu hướng nghiên cứu tác phẩm Phê phán lý tính thực hành
bằng cách đồng nhất nó, xem nó như một tác phẩm đạo đức học của Kant.
Ngay cả tên tác phẩm sau khi dịch và xuất bản đã được chú thích thêm ở dưới
là “Đạo đức học”. Điều đó dẫn đến tình trạng nghiên cứu tác phẩm này thiên
về đạo đức học như đã nói. Nhưng trên thực tế, đây là một trong bộ ba tác
phẩm quan trọng được Kant bàn sâu sắc về lý tính đặc biệt là “khám phá quan
năng lý tính”. Đối với Kant nghiên cứu lý tính chỉ có thể hiểu đúng, hiểu sâu
về lý tính khi đi sâu khám phá các quan năng của nó. Do đó, với tinh thần
trung thực trong nghiên cứu khoa học chúng tôi thừa nhận rằng luận văn này
có ý tưởng từ bài viết “Thực chất “cái siêu việt” của lý tính trong lý luận nhận
thức của I. Cantơ và tư tưởng của ông về một nền triết học khoa học” của tác
Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp logich - lịch sử, phương pháp phân
tích, so sánh và tổng hợp, đồng thời kết hợp với các phương pháp, quan
điểm, nguyên tắc như lịch sử - cụ thể, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn.
5.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận văn: Quan niệm của Kant về lý tính trong tác phẩm
Phê phán lý tính thực hành.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Trong tác phẩm Phê phán lý tính
thực hành I. Kant đề cập đến rất nhiều vấn đề như đạo đức, tôn giáo, khoa
học, triết học… luận văn tập trung nghiên cứu quan niệm của I. Kant về lý
tính, cụ thể là việc Kant đào sâu vào quan năng lý tính thực hành.
6.
Đóng góp của luận văn
Luận văn góp thêm một cái nhìn, một cách hiểu về nội dung quan niệm
của Kant về lý tính trong tác phẩm Phê phán lý tính thực hành.
7
7.
Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
xã hội, biến nhận thức thành hành động làm thay đổi tư duy con người thường
là những học thuyết tích cực và ưu việt. Như vậy, triết học sản sinh ra từ hiện
thực xã hội nên muốn hiểu về tư tưởng của một triết gia hay một trường phái
triết học thì nhất thiết phải tìm hiểu hiện thực xã hội mà từ đó học thuyết triết
học ấy xuất hiện. Đây thậm chí còn là điểm quan trọng bậc nhất khi bắt tay
vào nghiên cứu tư tưởng của một triết gia cụ thể, và việc tìm hiểu những điều
kiện và tiền đề cho sự ra đời triết học Kant cũng không phải là ngoại lệ.
I. Kant sinh năm 1724, mất năm 1804 trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản
sau khi xuất hiện đã được thiết lập một cách chắc chắn ở những nước Tây Âu.
Nước Đức với sự chìm đắm quá lâu ở chế độ phong kiến với tính chất tự cấp
tự túc đã không thể đáp ứng nổi với những nhu cầu ngày càng gia tăng của
con người. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản thật sự đã phá vỡ
những kìm kẹp bấy lâu của những con người cá nhân. Sự sáng tạo, phát triển
vượt bậc trong lưu thông hàng hóa cộng với sức sản xuất lần đầu tiên có sự
giúp đỡ của máy móc đã đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có
trong lịch sử loài người. Toàn bộ số lượng sản phẩm mà con người làm ra từ
trước tới nay cũng chỉ bằng sức sản xuất trong giai đoạn này. Chế độ tư bản
9
chủ nghĩa đã có màn ra mắt không thể ấn tượng hơn với xã hội loài người, nó
chứng minh và khẳng định rằng nó là chế độ ưu việt hơn hẳn so với toàn bộ
các chế độ xã hội trước đó mà con người từng trải qua (ít nhất là trên phương
diện kinh tế). Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh và cách mạng tư sản Pháp
cùng với những thành tựu văn hóa kinh tế ở thời kỳ này đã chứng minh cho
khả năng và sức mạnh của con người là vô cùng to lớn. Con người cá nhân ra
đời và một thời đại mới cũng ra đời, thời đại của nền văn minh công nghiệp
đầu tiên trong lịch sử nhân loại.
Trong khi chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện và được thiết lập ở các nước
Tây Âu như Anh, Pháp, Ý… và làm thay đổi hầu như toàn bộ đời sống vật
thực xã hội là cái gốc của mọi nền văn hóa. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa
là tư tưởng lúc nào cũng đi sau thực tiễn xã hội, ngược lại, tư tưởng nhiều khi
phải đi trước thực tiễn xã hội để làm vai trò người dẫn đường cho những bước
phát triển tiếp theo của xã hội. Nếu không có sự đi trước của tư tưởng thì thực
tiễn xã hội phải tự tìm đường đi cho mình. Một thực tiễn mò mẫm như vậy ắt
sẽ không thể đưa đến sự phát triển nhanh chóng được. Vì vậy tư tưởng tuy
xuất phát từ mảnh đất hiện thực nhưng cần phải vượt lên trên và đi trước hiện
thực. Điều đó lý giải một phần tại sao nước Đức vào cuối thế kỷ XVIII đầu
thế kỷ XIX với những sự khủng hoảng của nền kinh tế và chính trị nhưng lại
chứng kiến một thời kỳ nở rộ chưa từng thấy về tư tưởng. Các nhà tư tưởng
của nước Đức bấy giờ nói chung đều thể hiện một tinh thần phẫn nộ chống lại
sự trì trệ và thối nát của xã hội. Tư tưởng của họ là ý chí và nguyện vọng của
tầng lớp tư sản. Những tư tưởng khai sáng Pháp và cuộc cách mạng tư sản
Pháp (1789 – 1794) tác động mạnh mẽ đến các tầng lớp nhân dân Đức thức
tỉnh họ đấu tranh vì một trật tự xã hội mới tốt đẹp hơn.
Khoa học tự nhiên là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến tư
tưởng triết học của các triết gia Đức trong giai đoạn bấy giờ. Những tiến bộ
vượt bậc của các ngành khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học tự nhiên đã
đánh đổ những thành trì của phương pháp tư duy siêu hình thế kỷ XV –
11
XVIII. Sự thống trị của phương pháp tư duy siêu hình trong tư tưởng của các
triết gia Tây Âu trong suốt nhiều thế kỷ đã không thể đứng vững được nữa.
Các phát minh khoa học như sự bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, học
thuyết tế bào… đã đòi hỏi một phương pháp tư duy biện chứng đối lập lại với
tư duy siêu hình trước đây. Bên cạnh đó, sự phát minh ra điện và cách sử
dụng điện là bước nhảy vọt trong lịch sử văn minh loài người. Các ngành
công nghiệp đã không chỉ dừng lại ở việc sản xuất với sự giúp đỡ của máy hơi
nước nữa mà giờ đây còn có các máy móc chạy bằng điện năng. Điều đó làm
được sự rõ ràng nhất định. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp tư duy siêu
hình cũng như phương pháp nghiên cứu của các khoa học cụ thể chính là việc
sau khi đi sâu tìm hiểu một cách độc lập trong lĩnh vực của mình lại dừng lại
ở đây và xem đây là chân lý của khoa học, là bức tranh toàn thể của thế giới,
là chân lý và bản chất của sự sống. Muốn nhận thức rõ bản chất thực sự của
thế giới thì không thể dừng lại ở việc nghiên cứu đơn độc một lĩnh vực dù cho
vấn đề trong lĩnh vực ấy đã được làm sáng rõ. Phải có nhận thức mang tính
tổng hợp, nghĩa là xem xét sự vật hiện tượng trong những mối liên hệ phổ
biến và trong sự vận động phát triển. Điều này đòi hỏi những nhà nghiên cứu
khoa học cụ thể phải có tư duy biện chứng, phải nghiên cứu có tính chất hệ
thống. Các sự vật hiện tượng đã được làm rõ bản chất thì không dừng lại ở đó
mà phải tìm hiểu những mối liên hệ của nó, để nắm rõ sự vận động phát triển
trong những giai đoạn tiếp theo. Phương pháp tư duy siêu hình đã có những
đóng góp quan trọng trong sự phát triển của nhận thức khoa học nói riêng và
trong nhận thức của loài người nói chung. Nhưng trong giai đoạn thế kỷ
XVIII - XIX nó đã không còn phù hợp nữa. Thực tiễn xã hội và nhu cầu phát
triển của con người đòi hỏi phải thay thế phương pháp tư duy siêu hình bằng
một phương pháp tư duy mới hợp lý hơn. Phương pháp có thể đáp ứng những
yêu sách của thực tiễn bấy giờ chính là phương pháp tư duy biện chứng.
Tóm lại, bối cảnh nước Đức cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX đã
yêu cầu các nhà triết học phải giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết. Siêu hình học
13
trong thế kỷ trước với các đại biểu như Đêcáctơ, Xpinôza, Lépnít… tuy đã có
những đóng góp to lớn trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ thống hóa tri
thức con người trong giai đoạn trước đó nhưng giờ đây đã lạc hậu và tỏ ra
không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển của thực tiễn và tư tưởng Tây Âu
thế kỷ XVIII. Điều này đã được khẳng định khi mà hàng loạt các khoa học đã
đủ sức phát triển và tách ra khỏi cái nôi triết học của mình để trở thành những
những tư tưởng của Kant sau này. Sau khi cha ông qua đời, Kant đã mất đi
chỗ dựa về mặt tài chính, vì vậy mà năm 1746 Kant đã phải dời trường đại
học để làm gia sư ở nhiều gia đình khác nhau để kiếm sống. Nhờ vậy, đây
cũng là thời gian cho ông tiếp xúc với nhiều nhà khoa học tự nhiên. Đây cũng
là cơ sở cho triết học tiền phê phán của ông (triết học tiền phê phán Kant
nghiên cứu về các lĩnh vực khoa học tự nhiên).
Năm 1755 Kant nhận học vị tiến sĩ triết học. Năm 1770 Kant nhận chức
giáo sư về logich học và siêu hình học. Trong suốt khoảng thời gian trước đó
ông đã phải kiếm sống bằng việc dạy học với khoản tiền lương rất thấp. Kant
đã từ chối hai trường đại học danh tiếng Erlangen và Jena để ở lại giảng dạy
tại trường đại học Kenixbec. Kant còn là viện sĩ viện hàn lâm khoa học
Berlin. Tính cách của ông khác với nhiều người, ông sống cả cuộc đời ở thành
phố quê hương mình. Mặc dù nhà gần biển nhưng chưa bao giờ người ta thấy
Kant đi dạo trên bãi biển. Ông mất ngày 12 tháng 2 năm 1804.
Thời niên thiếu của Kant chịu ảnh hưởng lớn bởi mẹ ông. Mẹ của ông
là người sùng bái đạo tin lành chi phái Luther, mặc dù vậy Kant không mặn
mà lắm với Kitô giáo, có chăng ông chỉ đề cao đạo Kitô trong đạo đức học
của mình. Nước Đức thời bấy giờ chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Kitô, nhà thờ
có quyền lực lớn không chỉ về mặt tư tưởng mà còn cả về chính trị. Đó là lí
do tại sao triết học của Kant gặp sự phản đối gay gắt ngay tại nước Đức. Năm
1794 nhà vua Đức đã kết án triết học tôn giáo của ông đồng thời cấm lưu
truyền những tư tưởng triết học của Kant. Tất cả các trường đại học ở Đức
đều không được truyền bá tư tưởng của ông. Tuy nhiên, mọi việc cấm đoán
15
đối với triết học Kant đều không làm lu mờ những giá trị mà ông đã đóng góp
cho sự phát triển của tư tưởng nhân loại.
Kant thật sự nổi tiếng khi ông viết tác phẩm “Phê phán lý tính thuần
túy” năm 1781 ở Riga. Triết học của Kant còn được biết đến với tên gọi là
một mặt mang tính duy tâm, mặt khác ông thể hiện mình như là một nhà duy
vật khoa học tự nhiên. “Hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng thế giới từ nó,
nghĩa là, hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ cho các anh thấy, thế giới phải ra đời
từ vật chất như thế nào”. Luận điểm trên của Kant cho chúng ta thấy quan
điểm của ông về sự ra đời và phát triển của thế giới. Thế giới theo Kant được
tạo thành từ vật chất và luôn vận động phát triển không ngừng, các sự vật,
hiện tượng trên thế giới đều có mối liên hệ tương tác với nhau thông qua lực
hút và lực đẩy. Đây có thể được xem là những tư tưởng biện chứng duy vật về
nhận thức thế giới. Nhưng yếu tố tích cực này lại không được Kant tiếp tục
triển khai trong siêu hình học. Trong khi xây dựng học thuyết về đạo đức học
với tư cách là một quan năng của lý tính thuần túy Kant lại chịu nhiều ảnh
hưởng của tôn giáo. Với Kant Kitô giáo có nhiều đóng góp giá trị hơn cho đạo
đức học so với các học thuyết tư tưởng triết học trước đây.
Kant nghiên cứu lý tính ở một trình độ rất cao, đó là trình độ lý luận
với các phạm trù, các khái niệm và hệ thống của chúng. Tất cả được Kant
nhìn nhận trong một hệ thống như những chỉnh thế chứ không tách rời và cô
lập. Trong triết học tự nhiên cũng vậy, Kant quan niệm thế giới là một hệ
thống vô cùng tận. Thế giới cũng có quá trình phát sinh phát triển và diệt
vong. Thế giới ngày nay chính là kết quả của một quá trình lịch sử phát triển
lâu dài theo xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Quan niệm về lịch sử phát
triển của thế giới như vậy đã đánh thẳng vào Kitô giáo, nó gây một sự đả kích
to lớn đến nhà thờ vì vậy mà triết học Kant không hề dễ dàng được chấp nhận
ở quê hương của mình.
Với định hướng nghiên cứu tự nhiên đúng đắn cùng phương pháp khoa
học Kant đã đạt được nhiều thành tựu về khoa học tự nhiên trong giai đoạn
17
này. Ông là người đầu tiên khám phá ra ảnh hưởng của lực hấp dẫn giữa trái
đất và mặt trăng với các hiện tượng thủy triều. Về khoa học tự nhiên Kant có
sự đối với những quan niệm duy tâm tôn giáo về thế giới, đồng thời cũng bác
bỏ luôn quan niệm siêu hình. Không chỉ trái đất mà cả vũ trụ của chúng ta là
kết quả của toàn bộ quá trình phát triển và tiến hóa lâu dài, điều này đánh tan
quan niệm siêu hình khi cho rằng thế giới một khi đã sinh ra thì sẽ mãi tốn
tại như thế từ xưa đến nay. Thế giới được sản sinh ra từ các hạt vật chất do
lực hút và lực đẩy chứ hoàn toàn không phải do một đấng sáng tạo nào sản
sinh ra cả. Học thuyết của Kant là vô cũng cách mạng trong bối cảnh nước
Đức đang lâm vào khủng hoảng kinh tế và chính trị. Những lý giải của ông
về tự nhiên đã là những bước khởi đầu cho quan niệm về sự phát triển biện
chứng của tự nhiên.
Nhưng sự hạn chế của xã hội Phổ lạc hậu cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ
XVIII đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến quan niệm của Kant về con người và
khả năng nhận thức của con người đối với thế giới. Kant nhận thấy sự hạn chế
của phương pháp nhận thức cơ học đơn thuần trong việc nghiên cứu các quá
trình sinh học. Do sự hạn chế của khoa học thời bấy giờ mà Kant đi đến quan
niệm bất khả tri, tức là ông phủ nhận khả năng nhận thức của con người. Kant
cho rằng con người cùng lắm cũng chỉ có thể nhận thức được hiện tượng, tức
là chỉ nhận thức được sự vật ở mức độ bề ngoài, còn vật tự thân, hay bản chất
đích thực của sự vật thì con người không thể nhận thức được.
Nhìn chung triết học Kant thời kỳ tiền phê phán thể hiện sự trăn trở của
một nhà tư tưởng đầy nhiệt huyết muốn xây dựng một cách nhìn mới về thế
giới đáp ứng nhu cầu của thời đại bấy giờ. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng
những khám phá của Kant cũng để lại nhiều giá trị đặc sắc. Những quan niệm
về tự nhiên, về sự phát sinh phát triển của vũ trụ thời kỳ này sẽ có ảnh hưởng
lớn tới triết học của Kant thời kỳ phê phán.
Thời kỳ phê phán của triết học Kant được bắt đầu từ năm 1770 với
nhiều tác phẩm nổi tiếng như “Phê phán lý tính thuần túy”, “Phê phán lý tính
19