TƯ TƯỞNG CỦA CÁCMÁC BÀN VỀ TÔN GIÁO TRONG TÁC PHẨM “GÓP PHẦN PHÊ PHÁN TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN CỦA HÊGHEN. LỜI NÓI ĐẦU - Pdf 25

TƯ TƯỞNG CỦA CÁC-MÁC BÀN VỀ TÔN GIÁO
TRONG TÁC PHẨM “GÓP PHẦN PHÊ PHÁN TRIẾT HỌC PHÁP
QUYỀN CỦA HÊ-GHEN. LỜI NÓI ĐẦU

1. HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CHÍNH CỦA TÁC PHẨM.
Tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen. Lời nói
đầu) được C. Mác viết cuối năm 1843, đầu năm 1844 và đã được đăng trong Tạp
chí “Niên giám Pháp - Đức” năm 1844, tác giả đã ký tên C. Mác.
Tác phẩm này đã được Liên Xô dịch từ nguyên văn tiếng Đức trên tạp chí
“Niên giám Pháp - Đức” và đăng trong bộ “Toàn tập C. Mác và Ph. Ăng-ghen”,
tập 1, do Nhà xuất bản sách Chính trị quốc gia Liên xô xuất bản tại Mát-xcơ-va
năm 1955.
Theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
Hội đồng xuất bản toàn tập C. Mác và Ăng-ghen đã dựa theo bộ sách nguyên bản
bằng tiếng Nga nói trên, dịch sang tiếng Việt và in trong bộ “Toàn tập C. Mác và
Ăng-ghen”, tập 1, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật xuất bản năm 1995,
từ trang 569 đến trang 590.
C. Mác viết tác phẩm này trong thời kỳ đại công nghiệp cơ khí đã bước đầu
phát triển, giai cấp vô sản đã bước lên vũ đài lịch sử, song các cuộc đấu tranh
của họ còn phân tán, lẻ tẻ, có tính chất tự phát vì chưa được một lý luận cách
mạng khoa học soi đường.
Lúc này ở nước Đức, triết học pháp quyền của Hê-ghen đã được chính
quyền thừa nhận, tôn giáo được xem là nền tảng tinh thần của chế độ chính trị
Phổ, tình hình trong nước đang dấy lên phong trào đấu tranh phê phán tôn giáo
một cách nhằm giải phóng nước Đức khỏi sự tha hoá về tôn giáo và tha hoá về
chính trị (do không dám đấu tranh trực diện chống Nhà nước Phổ về mặt chính
1
trị, nên phải đấu tranh gián tiếp bằng cuộc đấu tranh phê phán tôn giáo; vì thế,
Nhà nước Phổ đã đề ra chế độ kiểm duyệt, công khai cấm các nhà báo và báo chí
viết và đăng các bài phê phán về tôn giáo).
Phái Hê-ghen trẻ đấu tranh phê phán bằng cách tiếp tục cách mạng hoá tư

chuyển dứt khoát của Người từ lập trường dân chủ cách mạng với thế giới quan
duy tâm sang lập trường chủ nghĩa cộng sản với thế giới quan duy vật.
Mặc dù tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen.
Lời nói đầu” không phải là một tác phẩm riêng của C. Mác, mà chỉ là phần dẫn
luận cho tác phẩm chính “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-
Ghen”, vả lại nó được viết sau khi tác phẩm chính hoàn thành (tác phẩm chính
do C. Mác viết vào mùa hè năm 1843); thế nhưng, với những nội dung phong
phú được thể hiện trong đó và là tác phẩm đánh dấu bước chuyển lập trường của
C. Mác, nên nó xứng đáng được giới thiệu như một tác phẩm riêng của Người.
Phạm vi bài thu hoạch này tập trung nghiên cứu tư tưởng của C. Mác bàn về
vấn đề tôn giáo được thể hiện trong tác phẩm và rút ra ý nghĩa đối với quân đội
trong thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
2. TƯ TƯỞNG CỦA C. MÁC VỀ TÔN GIÁO ĐƯỢC THỂ HIỆN TRONG
TÁC PHẨM.
Trước C. Mác đã từng xuất hiện nhiều nhà triết học duy vật, vô thần dựa
vào thành tựu phát triển khoa học tự nhiên trong lịch sử nhân loại để nghiên cứu
về tôn giáo và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Trong đó, L. Phoi-ơ-bắc, nhà
triết học duy vật cổ điển Đức đã nghiên cứu và đưa ra những quan điểm khá sâu
sắc về tôn giáo trong tác phẩm “Bản chất đạo Cơ Đốc”, được Mác-Ăngghen-
Lênin đánh giá rất cao; tuy nhiên, là một nhà duy vật trực quan, không triệt để,
3
duy vật về tự nhiên nhưng lại duy tâm về lịch sử, nên L. Phoi-ơ-bắc vẫn còn
nhiều hạn chế trong giải quyết các vấn đề về tôn giáo.
Tiếp thu, kế thừa những tư tưởng duy vật, tiến bộ về tôn giáo của các nhà
triệt học trong lịch sử; C. Mác là người đầu tiên đã đưa ra những quan điểm đúng
đắn về các vấn đề của tôn giáo trong tác phẩm “Góp phần phê phán triết học
pháp quyền của Hê-ghen. Lời nói đầu”, được thể hiện ở những nội dung sau:
a. Về bản chất của tôn giáo:
Trước C. Mác, trong tác phẩm “Bản chất đạo Cơ Đốc”, L. Phoi-ơ-bức đã
viết: “Cố nhiên, kết luận rút ra từ học thuyết của tôi là không có Thượng đế,

nghĩ như thế ấy”, tôn giáo là sản phẩm của con người mà con người đó sống và
hoạt động trong xã hội do nhà nước quản lý, điều hành, chi phối; khi gặp phải
những vấn đề khó khăn, phức tạp trong cuộc sống họ không thể tự lý giải được,
rơi vào bế tắc, dẫn đến bất lực, sợ hãi… buộc phải đi tìm lời giải ở một lực lượng
siêu nhiên nào đó không có trong cuộc sống thực, để rồi tin tưởng một cách mù
quáng vào lời giải ấy. Đó là những người “chưa tìm được bản thân mình hoặc
đã lại để đánh mất bản thân mình một lần nữa” theo quan niệm của C. Mác.
Cũng thông qua luận đề này, C. Mác đã chỉ ra đặc trưng bản chất của tôn
giáo ở chỗ: tôn giáo là thế giới quan lộn ngược, là hiện thực khách quan được
phản ánh thông qua ảo tưởng, chủ quan; nên, cái tự nhiên như là cái siêu nhiên,
cái trần tục biểu hiện như cái thần thánh, sức mạnh trần gian mang sức mạnh
siêu thế gian. Vấn đề xuất phát ở đây là, C. Mác cho rằng chế độ chính trị xã hội
Đức đã lạc hậu, tồn tại “lầm thời” (không đúng quy luật phát triển của lịch sử xã
hội loài người), “nơi mà đời sống thực tiễn không có nội dung tinh thần, cũng
như đời sống tinh thần không có sự liên hệ với thực tiễn” (tr587), nên nó được ví
như một “thế giới lộn ngược”. Thế giới lộn ngược ấy sản sinh ra “thế giới quan
5
lộn ngược” và lấy cái thế giới quan lộn ngược ấy làm nền tảng tinh thần của
mình, trên thực tế, nhà nuớc Đức đã xem tôn giáo là nền tảng tư tưởng của nó.
Theo C. Mác, tôn giáo tuy là sản phẩm của hiện thực, là sự phản ánh hiện
thực, thế nhưng nó lại giải thích hiện thực một cách xuyên tạc, chính vì thế, nó
đã biến bản chất con người thành ảo tưởng, tin tưởng ở kiếp sau, ở thế giới bên
kia, dẫn đến tư tưởng an phận, chấp nhận những nổi đau khổ, bất công trong hiện
tại; hoặc muốn phản kháng, đấu tranh, nhưng vì sợ bị nhà nước đàn áp mà không
dám phản kháng, đấu tranh. Trong tác phẩm, Người viết: “Tôn giáo biến bản
chất con người thành hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính
hiện thực thật sự” (tr570).
Trước đó, L. Phoi-ơ-bắc cũng đã phân tích sâu sắc bản chất phản ánh hư ảo,
tưởng tượng của tôn giáo; vạch ra nguyên nhân nhận thức, tâm lý về mối liên hệ
huyễn hoặc, ảo tưởng giữa con người với hiện thực của tôn giáo. Đặc biệt, ông

thấp hơn mọi sự phê phán, nhưng vẫn là đối tượng của sự phê phán” (tr572)
trong khi đó, nhân dân lại không dám phê phán chống lại cái trật tự ấy, mà cam
chịu làm “nô lệ ngoan ngoãn của một kẻ nhỏ hơn La Mã, nô lệ của Phổ và của
Áo, của bọn địa chủ quý tộc và bọn phi-li-xtanh đã chai sạn rồi” (tr582). Sự cam
chịu, nhẫn nhục đó xuất phát từ lòng tin tuyệt đối của họ vào Chúa trời, Chúa đã
muốn như thế thì phải như thế, họ không dám làm trái ý Chúa để được lên thiên
đàng sau khi chết, cho nên họ chỉ biết thở dài mỗi khi quá đau khổ. Thấy được
điều này, C. Mác khẳng định: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp
bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần
của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” và
“là hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân” (tr570). Đây là luận điểm thể hiện rõ
chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo.
7
Trong luận điểm này, C. Mác nêu lên công thức vắn tắt và có hình ảnh như
câu cách ngôn để thể hiện rõ chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo: “Tôn giáo là
thuốc phiện của nhân dân”, “là hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân”. Rõ ràng,
thuốc phiện là thứ thuốc an thần dễ nghiện, khi đã nghiện rồi thì rất khó dứt bỏ
và gây ra nhiều tác hại; tôn giáo cũng vậy, với chức năng đền bù hư ảo, nó rất dễ
thâm nhập vào con người, khi con người đã bị tôn giáo thâm nhập thì rất khó xoá
bỏ ảnh hưởng của nó, dẫn đến tiêu cực trong hành động bởi lòng tin mù quáng.
Sau này, khi Lênin nghiên cứu tôn giáo dưới chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã
hội đã nhấn mạnh: “Câu cách ngôn của Mác “tôn giáo là thuốc phiện của nhân
dân” là hòn đá tảng của toàn bộ thế giới quan của Mác về vấn đề tôn giáo”.
Trong tác phẩm của mình, Lênin cũng đã gọi tôn giáo là “thứ rượu tinh thần” để
đề cập đến chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo.
c. Về mối quan hệ giữa tôn giáo với nhà nước bóc lột:
Không chỉ thấy được bản chất “cái thế giới quan lộn ngược” được sinh ra từ
“cái thế giới lộn ngược” ấy, C. Mác còn thấy được mục đích của “thế giới lộn
ngược” khi sinh ra “thế giới quan lộn ngược” là để sử dụng nó làm nền tẳng tư
tưởng, lấy nó làm thế giới quan, phương pháp luận, làm công cụ để hợp thức hoá

mâu thuẫn bất công trong xã hội, thì nhà nước Đức lại tiến hành một cuộc vận
động để trải qua những cuộc phục tích và xem đó như một cuộc cách mạng. Sở
dĩ như vậy, bởi vì, như trường hợp thứ hai mà C. Mác đã nêu trong tác phẩm
(tr571-572) nhân dân đã đau khổ vì phản cách mạng nhưng lại không dám đấu
tranh làm cách mạng, thậm chí “ngay cả đến việc chúng bị thống trị, bị cai
quản, bị chiếm hữu, chúng cũng buộc phải thừa nhận và tuyên truyền rằng đó là
ân huệ của trời ban cho” (tr573”, đã làm cho chính quyền Phổ “không cảm thấy
sợ hãi” (tr571). Cũng vì thế mà chính quyền Phổ đã ban hành chế độ kiểm
9
duyệt, cấm viết và đăng các bài phê phán tôn giáo đăng trên các báo và tạp chí
hồi đó.
Vì không dám làm cách mạng, vì khuất phục trước thần quyền mà an phận
trước thế quyền, khiến cho tự do của người dân bị tước đoạt. C. Mác chỉ rõ:
“Chúng ta, do các vị mục sư của chúng ta dẫn đầu, thường thường được chung
đụng với tự do chỉ có một lần - vào ngày đưa ma của tự do” (tr572). Đó là một
thực tế của nước Đức lúc đó.
Như vậy, nhà nước bóc lột sinh ra tôn giáo, lấy tôn giáo làm nền tảng tinh
thần, thế giới quan, phương pháp luận, sử dụng tôn giáo làm công cụ nô dịch về
mặt tinh thần của xã hội để thực hiện mục đích chính trị, đồng thời, sử dụng sức
mạnh của mình để bảo vệ tôn giáo. Điều này thể hiện mối quan hệ giữa tôn giáo
và nhà nước bóc lột theo quan điểm của C. Mác.
d. Về tư tưởng đấu tranh chống tôn giáo:
Về lĩnh vực đấu tranh chống tôn giáo, trước C. Mác cũng đã có nhiều nhà
triết học đứng trên lập trường duy vật đề cập đến, thế nhưng họ đều thể hiện các
quan điểm không nhất quán, thiếu triệt để. Riêng về L. Phoi-ơ-bắc, một mặt ông
tích cực đấu tranh chống tôn giáo thần quyền, mặt khác lại khẳng định sự cần
thiết về sự tồn tại của tôn giáo - một thứ tôn giáo khác: “Tôn giáo tình yêu”. Sở
dĩ L. Phoi-ơ-bắc thể hiện tính hai mặt như vậy, vì ông không dựa vào quan điểm
lịch sử cụ thể để xem xét, phân tích tôn giáo, do đó ông không vạch ra được bản
chất và sự phát triển của tôn giáo như một hiện tượng xã hội, rốt cuộc ông đánh

mạnh: “Như vậy, phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán
tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành phê
phán chính trị” (tr571).
11
Trong tác phẩm, C. Mác cũng chỉ ra mục đích phê phán tôn giáo để cho con
người giải phóng chính mình và trở về với chính mình, mang lại hạnh phúc thực
sự cho mình. Người viết: “Xoá bỏ tôn giáo, với tính cách là xoá bỏ hạnh phúc
ảo tưởng của nhân dân, là yêu cầu thực hiện hạnh phúc thực sự của nhân dân”
và “Việc phê phán tôn giáo đang làm cho con người thoát khỏi ảo tưởng, để con
người suy nghĩ, hành động, xây dựng tính hiện thực của mình với tư cách là con
người thoát khỏi ảo tưởng, trở nên có lý tính; để con người xoay quanh bản thân
mình và cái mặt trời thật sự của mình. Tôn giáo chỉ là cái mặt trời ảo tưởng
xoay quanh con người, chừng nào con người chưa bắt đầu xoay quanh bản thân
mình”(tr570).
Trong phần đặt vấn đề của tác phẩm, sau khi đánh giá thực trạng phê phán ở
nước Đức lúc bấy giờ, C. Mác cho rằng “Phê phán tôn giáo là tiền đề của mọi
sự phê phán khác” (tr569). Theo C. Mác thì việc phê phán tôn giáo ở Đức về
thực chất đã kết thúc khi L. Phoi-ơ-bắc cho ra đời tác phẩm “Bản chất đạo Cơ
Đốc”, tác phẩm đó đã phê phán tôn giáo đầy đủ rồi, vấn đề bây giờ là phải đi sâu
hơn, phải phê phán mọi cái khác, những cái thuộc về chính quyền Phổ và chủ
nghĩa tư bản lúc bấy giờ. Đó là đấu tranh “chống cái thế giới mà lạc thú tinh
thần của nó là tôn giáo”(tr570).
Đây là nhiệm vụ cực kỳ nặng nề, khó khăn và phức tạp; chỉ có lòng dũng
cảm mới dám đấu kiếm với cả lý luận và thực tiễn, dám đối đầu với chính quyền
Phổ và thông qua đó, đối đầu với cả chế độ tư bản chủ nghĩa. Khi nêu lên điều
này, C. Mác đã thể hiện rõ bản lĩnh, nhân cách cực kỳ vĩ đại của Người, sẵn sàng
hy sinh bản thân mình để đấu tranh cho hạnh phúc của nhân loại.
Trên cơ sở phát hiện tính lạc hậu của cách mạng Đức so với cách mạng Anh
và Pháp, C Mác viết: “Ở Pháp và ở Anh, vấn đề là phải tiêu diệt độc quyền đã
phát triển đến giới hạn cùng cực, còn ở Đức thì lại phải phát triển độc quyền

Tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hê-ghen. Lời nói đầu”
của C. Mác, đã chứng tỏ thực tiễn hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động lý
luận của Người là yếu tố quan trọng làm thay đổi lập trường quan điểm của
người. Từ chỗ tin theo tôn giáo, C. Mác đã phê phán tôn giáo, rồi từ phê phán
tôn giáo tiến đến phê phán chính trị và pháp quyền - nền tảng tồn tại của chính
quyền Phổ. Điều đó đã giúp cho C. Mác nhận thức được sự cần thiết phải biến
đổi các mối quan hệ chính trị - xã hội, trên cơ sở đó, Người xây dựng và hoàn
thiện từng bước các quan điểm triết học của mình. Đồng thời, thông qua tác
phẩm này, chúng ta càng thấm thía giá trị của hoạt động thực tiễn và học được
phương pháp lập luận sắc bén, cũng như cách lý giải vấn đề đầy sức thuyết phục
của Người, để vận dụng vào quá trình học tập, công tác của mình.
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status